TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC
DẠY TRẺ NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC
DẠY TRẺ NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS.GVC. PHAN THỊ THẠCH
HÀ NỘI - 2015
công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào.
Hà Nội, Ngày
tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngọc Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề............................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 3
4. Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................. 6
1.1. Cơ sở tâm lí học ......................................................................................... 6
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học. .................................................................................. 7
1.2.1. Chuẩn mực ngôn ngữ. ............................................................................ 7
1.2.2. Ngữ pháp. ............................................................................................... 8
1.2.3. Câu trong tiếng việt ................................................................................ 8
1.2.3.1. Khái niệm về câu ................................................................................. 8
1.2.3.2. Phân loại câu........................................................................................ 9
1.2.3.2.1. Những kiểu câu được phân chia theo đặc điểm cấu tạo
ngữ pháp ......................................................................................... 9
3.1.3. Giúp trẻ MGL biết sử dụng từ tình thái trong câu đơn rút gọn ............ 43
3.1.4. Giúp trẻ MGL biết sử dụng đa dạng câu ghép. .................................... 43
3.2. Giáo án thể nghiệm .................................................................................. 47
KẾT LUẬN....................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 60
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Mẫu giáo lớn
: MGL
Mẫu giáo nhỡ
: MGN
Mẫu giáo bé
: MGB
Nhà xuất bản
: Nxb
Đại từ
: ĐT
Danh từ
Ví dụ
: VD
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tầm quan trọng của giáo dục Mầm non là ở chỗ, nó đặt nền móng ban đầu cho
việc giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Do đó bậc học giáo
dục Mầm non ngày nay luôn được Đảng nhà nước và xã hội quan tâm.
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, nhận thức rõ được điều này
nên trong thông tư số 17/2009/TT - BGDĐT ngày 25/7/ 2009 của Bộ trưởng
BGD&ĐT đã đưa ra mục tiêu dạy học ở trường Mầm non là: “Giúp trẻ em
phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1”
Phát triển ngôn ngữ ở trường Mầm non đóng vai trò quan trọng trong
việc thực hiện mục tiêu dạy học của nghành trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng đối với con người vì nó là công
cụ để con người giao tiếp và tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người đã chiếm
lĩnh được kho tàng tri thức của nhân loại và vươn lên làm chủ thế giới. Bởi
vậy việc giáo dục và phát triển ngôn ngữ có vai trò rất là quan trọng, nhất là
đối với sự phát triển của trẻ em. Đối với trẻ ngôn ngữ không chỉ là công cụ
giao tiếp, công cụ để phát triển tư duy mà ngôn ngữ còn là phương tiện để trẻ
phát triển một cách toàn diện. Như U.Sinxki đã nhận định “Tiếng mẹ đẻ là cơ
sở của mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức”.
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là một trong những nội dung phát triển
ngôn ngữ cho trẻ. Vì vậy việc tìm hiểu nội dung phương pháp dạy trẻ MGL
nói đúng ngữ pháp là một việc làm cần thiết. Tuy vậy, thực hiện công việc
trong những công trình của họ. Có thể tổng thuật nội dung phương pháp
nghiên cứu về vấn đề này trong một số nguồn tài liệu sau đây:
2.1. Những giáo trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
1. Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
Nguyễn Xuân Khoa, đã dành 12 chương sách đề cập khái quát đến những vấn
đề có liên quan đến nội dung phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
2
giáo. Trong đó, tác giả đã dành chương III, với dung lượng là 9 trang sách để
trình bày sơ lược về phương pháp dạy trẻ đặt câu.
2. Trong giáo trình “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” Đinh
Hồng Thái, đã trình bày 3 vấn đề chính:
- Những vấn đề chung
- Dạy nói cho trẻ em ba năm đầu
- Dạy nói cho trẻ em tuổi mẫu giáo
Phần thứ 3 của giáo trình gồm 6 chương trong đó với 5 trang sách của
chương III, tác giả đã nêu ra những vấn đề chung nhất của việc “Dạy trẻ các
mẫu câu tiếng Việt”
2.2. Những tài liệu nghiên cứu về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mầm non:
- 2014 Đinh Thị Hồng Nhung trong tài liệu của mình đã tóm tắt nội
dung một số tài liệu có liên qua đến việc nghiên cứu về phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
- Trong cuốn: “Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6
tuổi”, tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh cũng đã đề cập đến vấn đề phát triển
ngôn ngữ cho trẻ MGL. Tuy nhiên trong tài liệu này, tác giả chỉ đề cập đến
khía cạnh phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
2.3. Khóa luận của sinh viên khoa giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư
5.2. Tìm hiểu thực trạng nói năng của trẻ MGL để đánh giá năng lực
ngữ pháp của trẻ.
5.3. Đề xuất nội dung, biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp để phát
triển ngôn ngữ cho trẻ MGL.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Ở đề tài này chúng tôi tập trung tìm hiểu việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ MGL ở bình diện ngữ pháp câu, thông qua việc giúp trẻ vận dụng đa dạng
kiểu câu vào giao tiếp.
4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp này được chúng tôi sử dụng khi xây dựng cơ sở lí luận
cho đề tài khoá luận.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a. Phương pháp quan sát
- Phương pháp này được chúng tôi vận dụng khi dự giờ những tiết học
của trẻ ở trường mầm non Tân Thành, xã Tân Thành, huyện Lương Sơn, tỉnh
Hoà Bình, quan sát trẻ trong các hoạt động nói năng để đánh giá thực trạng
ngữ pháp của trẻ.
b. Phương pháp đàm thoại
- Vận dụng phương pháp này chúng tôi trao đổi với các cô giáo về
những nội dung cơ bản có liên quan đến đề tài. Phương pháp này còn được
chúng tôi vận dụng khi trò chuyện với trẻ để làm rõ khả năng dùng câu trong
diễn đạt của trẻ.
7.3. Phương pháp thực nghiệm
- Đây là phương pháp cơ bản được chúng tôi vận dụng để kiểm nghiệm
kết quả nghiên cứu của mình.
vật riêng lẻ. Điều này cho thấy khả năng giao tiếp của trẻ đang mở rộng,
giáo viên cần nắm bắt rõ đặc điểm tư duy của trẻ để thúc đẩy quá trình phát
triển ngôn ngữ của trẻ MGL.
6
Về mặt xúc cảm và tình cảm của trẻ MGL: Ở lứa tuổi này, trẻ đã xuất
hiện tình cảm bạn bè. Đời sống tình cảm ổn định hơn so với trẻ MGN, mức độ
phong phú, phức tạp tăng đần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người
xung quanh. Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các loại lứa
tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, được hình thành như: tình cảm mẹ
con, ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với người thân, với người lạ….
Bên cạnh đó ở độ tuổi này ở trẻ đã hình thành rõ nét các tình cảm bậc cao:
Về tình cảm trí tuệ: Thể hiện ở chỗ trẻ ham hiểu biết, thích khám phá,
tìm tòi những điều mới lạ, bí ẩn. Mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui,
hứng thú say mê đối với trẻ.
Về tình cảm đạo đức: Thể hiện ở việc trẻ rất dễ xúc động và đồng cảm
với con người và cảnh vật xung quanh. Trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp
cần thực hiện để làm vui lòng mọi người.
Về tình cảm thẩm mĩ: Cùng với sự phát triển nhận thức về cái đẹp, tình
cảm thẩm mĩ của trẻ càng phát triển. Trẻ biết yêu thích cái đẹp, mong muốn
làm ra cái đẹp để mang đến niềm vui cho chính mình và cho mọi người. Ở
tuổi này trẻ rất thích các loại hình nghệ thuật.
Những đặc điểm tâm lý kể trên đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ. Tư duy, nhận thức và tình cảm của trẻ phát triển đến một
chất lượng mới đòi hỏi ngôn ngữ của trẻ phải thành thạo hơn, mạch lạc hơn
để trẻ có thể dễ dàng giao tiếp với mọi người xung quanh.
1.2. CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC
1.2.1. Chuẩn mực ngôn ngữ
điệu theo các quy luật của một ngôn ngữ nào đó, là phương tiện chính diễn
đạt, biểu hiện và giao tế tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với
thực tại (theo giáo sư O.A.khmanôva)”, (Trích: Từ điển giải thích thuật ngữ
ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ biên), nxbGD, 1996, tr32).
8
1.2.3.2. Phân loại câu
Câu được phân loại dựa vào các tiêu chí sau:
- Dựa vào đặc điểm cấu tạo ngữ pháp: Dựa vào tiêu chí này, người ta
phân chia câu thành câu đơn và câu ghép. Vẫn dựa vào tiêu chí này người ta
chia câu đơn thành: câu đơn hai thành phần, câu đơn mở rộng, câu đơn rút
gọn và câu đơn đặc biệt. Câu ghép có thể phân chia thành câu ghép đẳng lập,
câu ghép chính phụ.
- Dựa vào mục đích nói (mục đích phát ngôn): Căn cứ vào tiêu chí này,
người ta phân chia câu tiếng việt thành: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu
cảm thán và câu cầu khiến.
1.2.3.2.1. Những kiểu câu được phân chia theo đặc điểm cấu tạo ngữ pháp
a. Câu đơn hai thành phần
* Định nghĩa
- Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng việt hiện đại, Nxb GD. H.1980.
Tr137, đã đưa ra định nghĩa về câu đơn hai thành phần như sau: “Câu đơn
hai thành phần là câu đơn gồm một đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị làm
nòng cốt tức là một đơn vị nòng cốt gồm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ.
Đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị (gọi tắt là C - V) có thể có cấu tạo khác
nhau” (Trích Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ
biên), nxbGD, 1996, tr35).
* Các mô hình cấu tạo câu đơn hai thành phần
Câu đơn hai thành phần được cấu tạo theo hai mô hình cấu trúc cơ bản:
không gian, nguyên nhân, mục đích, phương tiện hoặc tình thái cho nòng cốt
câu.
* Một số mô hình câu đơn mở rộng thành phần trạng ngữ:
+ TRN, C - V.
VD 11: Ngoài hiên, cây thạch lựu trổ hoa đỏ thắm.
VD 12: Vì sốt, Lan phải nghỉ học ba ngày.
10
+ C - TRN - V.
VD 13: Tiếng chim trên cành me ríu rít.
VD 14: Chúng em, sáng hôm nay, tập trung ở trường.
+ C - V - TRN.
VD 15: Con vừa gặp bạn Lan ở ngoài phố.
VD 16: Sáng 8 - 3, các con mặc quần áo đẹp để biểu diễn văn nghệ.
b2. Câu đơn mở rộng thành phần khởi ngữ
* Định nghĩa:
- Khởi ngữ (còn được gọi là đề ngữ), đó là một trong các thành phần
phụ của câu. Nó thường được cấu tạo bằng một từ hoặc cụm từ, có chức năng
bổ sung ý nghĩa chủ đề cho câu.
* Mô hình câu đơn mở rộng thành phần khởi ngữ (KN)
+ KN, C - V
VD 17: Đàn bà, họ có cái cách tảng lờ giỏi lắm.
VD 18: Thƣ cho Lan, tôi đã viết xong rồi.
c. Câu đơn rút gọn
* Trong giao tiếp trực tiếp, chúng ta thường gặp các kiểu câu rút gọn.
Tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể, người nói có thể rút gọn một trong hai thành phần
nòng cốt câu hoặc thậm chí là rút gọn cả hai thành phần chính của câu.
* Câu rút gọn chủ ngữ thường thấy trong các trường hợp sau đây:
- Câu ghép đẳng lập là câu có từ hai kết cấu chủ - vị trở lên, mỗi kết
cấu C - V làm thành một vế câu, các vế không bao hàm lẫn nhau, chúng có
thể ghép với nhau bằng các quan hệ từ đẳng lập hoặc bằng dấu câu (dấu
chấm, dấu chấm phẩy).
* Các mô hình cấu tạo câu ghép đẳng lập:
+ C1 - V1 và C2 - V2…
VD 28: - Con đi chơi và con được ăn kem.
+ C1 - V1 rồi C2 - V2
12
VD 29: - Xe vào thành phố rồi xe đỗ.
+ C1 - V1 còn C2 - V2
VD 30: - Nam ngồi vẽ, còn Cường thì ngủ khì.
+ C1 - V1, C2 - V2, Cn - Vn
VD 31: - Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
g. Câu ghép chính phụ
* Định nghĩa:
- Câu ghép chính phụ là một kiểu câu ghép được cấu tạo gồm hai vế.
Mỗi vế là một kết cấu C - V nòng cốt trong đó có một vế chính, một vế phụ.
Các vế thường quan hệ với nhau bằng cặp từ quan hệ chính - phụ.
* Một số mô hình câu ghép chính phụ:
+ Vì (bởi vì…) C1 - V1, nên (cho nên…) C2 - V2.
VD 32: - Vì trời mưa nên con đến muộn.
+ Nếu (giả sử, giá như) C1 - V1, thì C2 - V2.
VD 33: - Nếu con ngoan thì mẹ sẽ cho con ăn kem.
+ Tuy C1 - V1, nhưng C2 - V2.
VD 34: - Tuy con bị ốm, nhưng con vẫn đi học đều.
1.2.3.2.2. Những kiểu câu được phân chia theo mục đích phát ngôn
b. Câu hỏi (câu nghi vấn)
* Câu nghi vấn là câu dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài
nghi và chờ đợi sự trả lời hoặc giải thích của người tiếp nhận.
+ Câu mang ngữ điệu nghi vấn thuần tuý
VD 42: - Bài viết này của anh?
+ Câu nghi vấn dùng các đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, đâu, mấy, sao, thế
nào, bao nhiêu, bao giờ, bao lâu,… đặt vào vị trí của thành phần nghi vấn.
VD 43: - Mẹ Hoa đi đâu rồi?
VD 44: - Bạn Minh đâu?
+ Câu nghi vấn dùng các tình thái từ: a, ạ, hả, hử, nhỉ, nhé, chứ,
chớ,…đặt ở cuối câu.
14
VD 45:- Bạn tên gì nhỉ?
VD 46: - Mẹ ơi! Hôm nay mẹ không đi làm ạ?
+ Câu nghi vấn lựa chọn: Câu nghi vấn lựa chọn có từ “hay” dùng để
hỏi về các khả năng mà người đáp phải chọn lấy một.
VD 47: - Con ăn bánh mì hay ăn xôi?
Có thể dùng các phó từ phối hợp với nhau tạo thành một khuôn nghi
vấn. trong đó “hay” bị tỉnh lược “có…(hay) không? Có phải…(hay) không?
Đã…(hay) chưa? Rồi…(hay) chưa?” Khuôn nghi vấn này có thể coi là một
dạng rút gọn của kết cấu khẳng định - phủ định.
VD 48: “Anh có hiểu hay không hiểu” rút gọn thành “Anh có hiểu
hay không”, “Anh có hiểu không”, “Anh hiểu không”.
Các khuôn: “có… không?”, “đã… chưa?”, “rồi… chưa?” dùng với vị
từ, các khuôn: “có phải (là)… không?”, “đã phải (là)… chưa?” dùng cho danh
từ kết cấu chủ - vị. Dạng dồn về cuối câu có tác dụng nhấn mạnh. Ví dụ: “Có
phải đã trông thấy không?” => “Anh đã trông thấy có phải không?”.
* Các phương thức biểu thị câu cầu khiến
+ Dùng ngữ điệu (dằn mạnh từ ngữ mang nội dung chính):
VD 56: - Im!
VD 57: - Nghe tôi nói đây!
+ Dùng các phó từ mệnh lệnh: hãy, đừng, chớ.
VD 58: - Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!
+ Dùng các trợ từ ở cuối câu như: đi, thôi, đi thôi, nào, đi nào, nhé…
VD 59: Ta đi nhé!
VD 60: Đi đi!
1.3. CƠ SỞ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
1.3.1. Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp là dạy mô hình câu
Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp theo các mô hình câu là một đặc trưng
của việc dạy tiếng Việt để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Điều này xuất phát từ
16
đặc điểm loại hình ngôn ngữ của tiếng Việt. Thuộc loại hình ngôn ngữ đơn
lập, từ tiếng việt không biến đổi hình thức ngữ âm trong hoạt động sử dụng.
Vì vậy việc dạy ngữ pháp phải gắn với việc dạy người học biết sử dụng các
phương thức ngữ pháp để tạo câu. Mặt khác, việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
theo mô hình câu còn dựa vào đặc điểm tâm lí “hay bắt trước” của trẻ.
1.3.2. Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp là dạy theo các mô hình từ dễ đến
khó, từ đơn giản đến phức tạp
Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp theo các mô hình từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp là nội dung dạy học đảm bảo tính phát triển phù hợp
với năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp của trẻ. Ở độ
tuổi MGL thông qua hoạt động có tổ chức ở trường mầm non, vôn ngữ pháp
của trẻ dần phát triển. Cùng với sự phát triển của tư duy, trẻ có thể vận dụng
đa dạng các kiểu câu, từ câu đơn hai thành phần, trẻ có thể biết dùng câu đơn
nói đúng ngữ pháp, để đánh giá trong dạy học giáo viên có quan tâm đến việc
phát triển ngôn ngữ trên bình diện ngữ pháp cho trẻ hay không, chúng tôi tiến
hành điều tra bằng phiếu trả lời câu hỏi.
2.1.1.Kết quả điều tra thực trạng của việc dạy trẻ MGL nói đúng ngữ
pháp bằng phiếu trả lời câu hỏi
Để đạt được các mục đích điều tra thực trạng dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
cảu giáo viên, chúng tôi sử dụng hai loại phiếu trả lời câu hỏi (gọi tắt là phiếu
điều tra). Sự khác biệt của hai loại phiếu điều tra chính là mức độ khái quát
hoặc cụ thể của câu hỏi. Phiếu điều tra số 1 là phiếu điều tra bằng cách trả lời
những câu hỏi khái quát. Phiếu điều tra số 2 là phiếu điều tra bằng cách trả lời
những câu hỏi cụ thể.
2.1.1.1. Phiếu điều tra số 1 và kết quả điều tra
18