Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt (các bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng) - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------

TĂNG THỊ TUYẾT MAI

TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA
TRONG TIẾNG VIỆT
(CÁC BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62 22 02 40

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NƯỚC NGOÀI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017


Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm
TP. Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Dũng
Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Công Đức
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Thị Phương Trang
Phản biện 3: PGS. TS. Nguyễn Văn Huệ

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Trường
họp
tại:……………………………………...

lẽ vì vậy mà vấn đề này được nghiên cứu ở nhiều ngôn ngữ: tiếng
Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Italia...
Trong vài năm gần đây, xấu nghĩa (pejoratives) và đặc biệt là phỉ
báng (slurs) được giới nghiên cứu ngôn ngữ học thế giới dành cho
một sự quan tâm đặc biệt. Hướng nghiên cứu chủ yếu của các tác giả
là từ góc độ ngữ nghĩa học và ngữ dụng học, theo quan điểm ngôn
ngữ học đồng đại. C. Hom (2010) dựa vào nghĩa, chia từ xấu nghĩa
ra ba loại: thề thốt (swear words), chửi rủa (insults) và phỉ báng
(slurs). Adam M. Croom (2011) cũng đề cập đến hiện tượng xấu


2
nghĩa trong các từ phỉ báng.
Năm 2014, một hội thảo dành riêng cho vấn đề xấu nghĩa đã được
tổ chức tại Đức và có 14 báo cáo ở hội thảo này được chọn để in
trong tuyển tập Pejoration.
Trong tiếng Việt, ngoài nghiên cứu của chúng tôi, hầu như chưa
có công trình nào tập trung bàn về vấn đề này. Trong số đó, đáng kể
nhất là các công trình của Nguyễn Ngọc Trâm (1991), Chu Bích Thu
(1996) và Nguyễn Thị Bảo (2003). Mặc dù đã chú ý đến hiện tượng
tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt nhưng các tác giả chỉ gói gọn
vấn đề trong một phạm vi hẹp. Hơn nữa, các công trình này vẫn chưa
đưa ra một quy trình đủ hiệu lực để chứng minh sắc thái tốt nghĩa
hay xấu nghĩa trong tiếng Việt.
Năm 2010, luận văn thạc sĩ Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng
Việt của chúng tôi mang đến một cái nhìn tương đối toàn diện hơn về
vấn đề tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt theo quan điểm ngôn
ngữ học đồng đại, dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng dựa trên việc
khảo sát một số lượng lớn các đơn vị ngôn ngữ tiếng Việt có biểu
hiện thú vị về sắc thái ngữ nghĩa (STNN): danh từ đơn vị (DTĐV) và

1.6. Đóng góp của luận án
1.6.1. Về mặt lý luận
Từ những tiền đề lý thuyết về ngữ cảnh, chúng tôi khái quát một
phương pháp phân tích STNN dựa trên ngữ cảnh. Theo đó, phân loại
và miêu tả STNN của ba bộ phận từ loại tiếng Việt dựa theo phương
pháp này là đóng góp chủ yếu của luận án.
Ngoài ra, chúng tôi còn dựa vào những tiền đề lý thuyết về các
loại nghĩa của phát ngôn, các phương châm hội thoại, tiền giả định…
để xác lập cơ chế tạo ra STNN tốt, xấu của phát ngôn, từ đó miêu tả
STNN của bốn loại phát ngôn cơ bản (khen ngợi, chê trách, chửi rủa,


4
mắng yêu) dưới cái nhìn dụng học, giúp làm sáng tỏ phần nào đặc
trưng văn hoá tư duy người Việt.
1.6.2. Về mặt thực tiễn
Luận án nghiên cứu hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong ba
loại đơn vị từ vựng tiếng Việt (DTĐV, VTTT, VTHĐ) trên phương
diện đồng đại, từ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và bốn loại phát
ngôn cơ bản (khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu) dưới cái nhìn
dụng học, từ đó hình thành cái nhìn bao quát về STNN của các đơn
vị này, giúp sinh viên người Việt có thể hiểu rõ hơn ngôn ngữ mẹ đẻ
của mình đồng thời giúp giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước
ngoài có thể hướng dẫn học viên sử dụng các đơn vị từ vựng vốn
được xem là tinh tế và khó phân biệt trong quá trình học tiếng Việt.
1.7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được chia làm năm
chương.
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong danh từ đơn vị tiếng Việt

STNN không thuộc về nghĩa miêu tả mà thuộc về nghĩa biểu cảm,
nghĩa xã hội và nghĩa liên tưởng.
1.2.2. Quy trình xác lập sắc thái ngữ nghĩa của từ
1.2.2.1. Các phương pháp phân tích ngữ nghĩa
a. Phương pháp phân tích thành tố
b. Phương pháp sử dụng ngữ cảnh
1.2.2.2. Ngữ cảnh và sắc thái ngữ nghĩa của từ
Khi sử dụng ngữ cảnh trong phân tích STNN của từ, việc đầu tiên
là thu thập ngữ cảnh và phân loại chúng thành những loạt ngữ cảnh
cùng loại. Sau đó, chúng ta tiến hành phân tích STNN của từ.
 Nếu từ biểu hiện một STNN duy nhất trong toàn bộ ngữ cảnh,
chúng ta kết luận từ mang STNN đó trong toàn bộ ngữ cảnh.


6
 Nếu STNN của từ (1) biến đổi trong một (hay một vài) loạt ngữ
cảnh nhất định với cơ chế biến đổi rõ ràng hoặc (2) biến đổi trong
các nghĩa (đối với từ đa nghĩa), chúng ta kết luận từ đã biến đổi
STNN.
1.3. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn và cơ chế tạo ra sắc thái
tốt nghĩa, xấu nghĩa của phát ngôn
1.3.1. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn
1.3.1.1. Các loại nghĩa của phát ngôn
Các nhà ngữ dụng học phân chia nghĩa của một phát ngôn theo
những cách phổ biến sau: nghĩa tường minh (explicit meaning) /
nghĩa hàm ẩn (implicit meaning), nghĩa tự nhiên (natural meaning) /
nghĩa không tự nhiên (nonnatural meaning), nghĩa của người nói
(speaker meaning) / nghĩa được mã hoá trong ngôn ngữ
(linguistically encoded meaning hay timeless meaning) / nghĩa được
suy ra (inferred meaning).

%

8

1.19

TH về nghĩa

641

94.96

Xấu nghĩa

26

3.85

Tổng cộng

675

100.00

Tốt nghĩa

2.1. Danh từ đơn vị tốt nghĩa
2.1.1. DTĐV tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh
Trên lý thuyết, loại đơn vị này chỉ kết hợp với những yếu tố tốt
nghĩa và / hoặc trung hoà để tạo thành những kết hợp mang nghĩa tốt

Hướng biến đổi chính là biến đổi xấu nghĩa với tỉ lệ 83.33%.
2.2.2.1. Biến đổi tốt nghĩa
Bậc trung hoà khi chỉ “hạng, thứ xếp theo trình độ cao thấp, trên
dưới” nhưng sau đó nó đã biến đổi tốt nghĩa, dùng để chỉ “người
thuộc hàng đáng tôn kính” (bậc tiền bối, bậc cha mẹ…).
2.2.2.2. Biến đổi xấu nghĩa
Ở một (một vài) nghĩa hay một (một vài) loạt ngữ cảnh nhất định
nào đó, các DTĐV nhóm này có xu hướng biến đổi xấu nghĩa.


9
a. Kết hợp với yếu tố chỉ người
a1. Bầy, đàn4, đám, mớ1, xâu2III + Yếu tố chỉ người
a2. Dạng, hạng, giống1, kiểu, loài, loại₁, môn2, phường, thớ, thứ1 +
Yếu tố liên quan đến con người
a3. NắmII, dúm, nhúm + Yếu tố chỉ người / thuộc tính của người
a4. Bản2 + Yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người (mặt)
a5. Con2 + Yếu tố chỉ cá nhân người (nữ)
a6. Kiếp – nét nghĩa “thân phận”
b. Kết hợp với yếu tố chỉ động vật và yếu tố chỉ người
Mống2 đã biến đổi STNN thành tiêu cực trong các kết hợp mống
người, vài mống…
c. Kết hợp với yếu tố chỉ đám đông, có quan hệ lợi ích với nhau
Bè1 mang nghĩa tiêu cực khi được dùng để chỉ sự liên kết giữa
một nhóm người.
d. Các kiểu kết hợp khác
Các DTĐV thuộc nhóm này là: chuyệnI, trò1, quầng, thói, tấn2…
2.3. Danh từ đơn vị xấu nghĩa
2.3.1. DTĐV xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh
2.3.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp


15.73

TH về nghĩa

2147

45.63

Xấu nghĩa

1818

38.64

Tổng cộng

4705

100.00

3.1. Vị từ trạng thái tốt nghĩa
3.1.1. VTTT tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh
3.1.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp
Các VTTT này chiếm tỉ lệ hơn 90%. Có hai trường hợp có thể
xảy ra: a. Kết hợp với yếu tố trung hoà về nghĩa. b. Kết hợp với yếu
tố tốt nghĩa và trung hoà về nghĩa.
3.1.1.2. Bất thường về khả năng kết hợp
Nhóm này chỉ có 16/216 từ bởi nó là những lệ ngoại.
a. Kết hợp với yếu tố trung hoà và xấu nghĩa

1/ A (TH) + B (T)  C (T)
2/ A (TH) + B (TH)  C (TH)
b. Có quy trình kết hợp bất thường
A (TH) + B (TH)  C (X)
3.2.1.4. Kết hợp với yếu tố trung hoà và xấu nghĩa
a. Có quy trình kết hợp bình thường
1/ A (TH) + B (TH)  C (TH)
2/ A (TH) + B (X)  C (X)
b. Có quy trình kết hợp bất thường


12
A (TH) + B (TH)  C (X)
3.2.1.5. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà và xấu nghĩa
a. Có quy trình kết hợp bình thường
1/ A (TH) + B (T)  C (T)
2/ A (TH) + B (TH)  C (TH)
3/ A (TH) + B (X)  C (X)
b. Có quy trình kết hợp bất thường
1/ A (TH) + B (TH)  C (X)
2/ A (TH) + B (X)  C (T)
3.2.2. VTTT trung hoà biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định
3.2.2.1. Biến đổi tốt nghĩa
a. Loạt ngữ cảnh kết hợp với các yếu tố thuộc về con người
Chín2 biến đổi tốt nghĩa trong các ngữ cảnh biểu thị vẻ đẹp con
người, những tình cảm, suy nghĩ đã chín chắn.
b. Các nhóm ngữ cảnh khác
VTTT đắt biến đổi tốt nghĩa khi chỉ ý “được nhiều người ưa
chuộng, nhiều người mua”, biểu thị từ ngữ hoặc hình tượng văn học
nghệ thuật “có giá trị diễn đạt cao hơn mức bình thường”

nhưng nghĩa thứ ba mang STNN trung hoà.
3.4. Sắc thái ngữ nghĩa của kết hợp láy xuất phát từ VTTT
Trong các từ láy như vuông vắn, tròn trịa, dày dặn…, yếu tố đi
sau có tác dụng quyết định STNN của cả kết hợp. Mỗi nhóm VTTT
với STNN khác nhau sẽ có xu hướng chọn cho mình một kiểu yếu tố
cộng thêm với STNN khác nhau để tạo thành kết hợp láy.
3.5. Mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm và sắc thái ngữ nghĩa của các
từ chỉ mức độ cao theo sau VTTT
Các từ này có tác dụng nhân lên tính chất, tình trạng mà VTTT
trước nó biểu thị. Nếu âm chính dòng giữa và vần nửa khép chính là
đặc trưng của các yếu tố tốt nghĩa chỉ mức độ cao theo sau VTTT thì


14
âm chính dòng trước và vần khép lại là xu hướng mà các yếu tố xấu
nghĩa hướng đến.
3.6. Sắc thái ngữ nghĩa của kết hợp chứa vị từ trạng thái biểu thị
một quá trình
Các VTTT tốt nghĩa có thể kết hợp với các từ chỉ hướng lên, ra
để biểu thị một quá trình mà kết quả là gia tăng mức độ tính chất,
tình trạng mà VTTT biểu thị còn VTTT xấu nghĩa có thể kết hợp với
từ chỉ hướng đi để tạo ra các kết hợp mang nghĩa xấu. Trong khi đó,
một số VTTT trung hoà có thể kết hợp được với cả lên, ra và đi.
CHƯƠNG BỐN
TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA
TRONG VỊ TỪ HÀNH ĐỘNG TIẾNG VIỆT
Luận án đã tiến hành khảo sát 2208 VTHĐ đơn tiết và 2066
VTHĐ đa tiết tiếng Việt với 8475 ngữ cảnh.
Bảng 36. Bảng thống kê STNN của VTHĐ
VTHĐ

4.1.1. VTHĐ tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh
4.1.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp
Nhóm này chiếm đến 94.74% tổng số VTHĐ đơn tiết tốt nghĩa.
Có hai khả năng có thể xảy ra: a. Kết hợp với yếu tố trung hoà về
nghĩa. b. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà về nghĩa.
4.1.1.2. Bất thường về khả năng kết hợp


15
VTHĐ nhóm này (biếu, khen) có thể kết hợp với cả ba loại yếu tố
tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa.
4.1.2. VTHĐ tốt nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất định
Nghĩa thứ nhất của dõi1I tốt nghĩa nhưng nghĩa thứ hai đã biến
đổi thành trung hoà (dõi theo người lạ, dõi theo bóng người…).
4.2. Vị từ hành động trung hòa về nghĩa
4.2.1. VTHĐ trung hoà về nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh
4.2.1.1. Kết hợp với yếu tố trung hoà
a. Có quy trình kết hợp bình thường
A (TH) + B (TH)  C (TH)
b. Có quy trình kết hợp bất thường
A (TH) + B (TH)  C (X)
4.2.1.2. Kết hợp với yếu tố xấu nghĩa
A (TH) + B (X)  C (TH)
4.2.1.3. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà
1/ A (TH) + B (T)  C (T)
2/ A (TH) + B (TH)  C (TH)
4.2.1.4. Kết hợp với yếu tố trung hoà và xấu nghĩa
a. Có quy trình kết hợp bình thường
1/ A (TH) + B (TH)  C (TH)
2/ A (TH) + B (X)  C (X)

Chơi trung hoà về nghĩa ở năm nghĩa đầu nhưng khi chỉ “hành
động gây hại cho người khác, nhưng xem như trò vui”, chơi mang
nghĩa xấu (chơi một vố, chơi khăm, bị (nó) chơi…).
4.2.2.3. Biến đổi vừa tốt nghĩa vừa xấu nghĩa
Ăn trung hoà về nghĩa trong hầu hết các kết hợp tuy nhiên nó biến
đổi xấu nghĩa trong các kết hợp ăn đòn, ăn đạn… và biến đổi tốt
nghĩa trong các kết hợp ăn ảnh, ăn ý, ăn nhau ở tinh thần, ăn giải…


17
4.3. Vị từ hành động xấu nghĩa
4.3.1. VTHĐ xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh
Trong 227 VTHĐ đơn tiết xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh, chỉ
có 21 trường hợp là bất thường về khả năng kết hợp.
4.3.1.1. Bình thường về khả năng kết hợp
Có ba trường hợp có thể xảy ra: a. Kết hợp với yếu tố trung hoà.
b. Kết hợp với yếu tố xấu nghĩa. c. Kết hợp với yếu tố trung hoà và
xấu nghĩa.
4.3.1.2. Bất thường về khả năng kết hợp
a. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa và trung hoà về nghĩa
Các VTHĐ thuộc trường nghĩa “ăn cắp” đều thuộc nhóm này.
b. Kết hợp với yếu tố tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu nghĩa
Khi kết hợp với các yếu tố tốt nghĩa, trung hoà về nghĩa và xấu
nghĩa, các VTHĐ nhóm này tạo ra duy nhất một sắc thái xấu nghĩa.
1/ A (X) + B (T)  C (X)
2/ A (X) + B (TH)  C (X)
3/ A (X) + B (X)  C (X)
4.3.2. VTHĐ xấu nghĩa biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh nhất
định
Lừa2 xấu nghĩa trong hầu hết các kết hợp (lừa cô ấy, lừa gạt…)

Nếu nghĩa hiển hiện trên bề mặt câu chữ dường như tỏ ý chê
trách, coi khinh thì ý định thật sự mà người nói gởi gắm trong phát
ngôn loại này lại là trân trọng, ngưỡng mộ…
Nếu đặt phát ngôn “Tiếng Anh của hắn ta kinh khủng quá!” vào
tình huống miêu tả một người đàn ông cực kỳ giỏi tiếng Anh thì phát
ngôn này lại là một lời khen ngợi.
5.2. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn chê trách
5.2.1. Phát ngôn chê trách có nghĩa tường minh tiêu cực


19
5.2.1.1. Chê trách bằng cách mô tả tính chất, trạng thái, hành động
của đối tượng.
Nhóm phát ngôn này chứa các đơn vị từ vựng xấu nghĩa như: xấu,
tệ, dở, vô duyên, tẻ nhạt, nhạt nhẽo, chua loét, đắng nghét…
5.2.1.2.

Chê trách bằng cách bộc lộ trực tiếp cảm xúc của người
nói.

Loại phát ngôn này chứa các vị từ xấu nghĩa như sợ, ghét, chán,
mệt, buồn… hoặc dạng phủ định của các vị từ tốt nghĩa như không
thích, không ưa, không mê, không ham, chẳng thích, chẳng ưa…
5.2.1.3. Kết hợp cả 2 nhóm 5.2.1.1. và 5.2.1.2.
Trong nhiều trường hợp, người ta thể hiện lời chê bằng cách vừa
mô tả tính chất, trạng thái, hành động của đối tượng vừa trực tiếp bộc
lộ cảm xúc của bản thân.
5.2.2. Phát ngôn chê trách có nghĩa tường minh trung hoà
Nếu như STNN trên bề mặt câu chữ của phát ngôn loại này là
trung hoà thì STNN ẩn dưới bề mặt câu chữ lại là tiêu cực. Chẳng

5.3.3. Phát ngôn chửi rủa có nghĩa tường minh tích cực
Chẳng hạn, trong tình huống một người đàn ông bị bắt vào tù,
một người vốn ghét anh ta từ lâu nói: “Chúc mừng anh!”
Nếu xem xét phát ngôn này ở tầng nghĩa bên dưới thì nó mang sắc
thái tiêu cực, là một lời nguyền rủa.
5.4. Sắc thái ngữ nghĩa của phát ngôn mắng yêu
Tất cả các phát ngôn mắng yêu đều có nghĩa tường minh tiêu cực
nhưng thực chất chúng lại được dùng để thể hiện cảm xúc yêu
thương, thái độ trân trọng, quý mến... Chẳng hạn, nếu đặt phát ngôn
“Thằng cha mày!” vào trong ngữ cảnh một người bà đang nói với
đứa cháu của mình thì nó lại mang sắc thái tích cực.
KẾT LUẬN
Tốt nghĩa và xấu nghĩa không phải là những khái niệm xa lạ trong


21
ngôn ngữ học. Vấn đề này đã được giới ngôn ngữ học quan tâm trên
nhiều phương diện. Hai hướng nghiên cứu đạt nhiều thành tựu nhất
trong lịch sử nghiên cứu tốt nghĩa và xấu nghĩa là: 1. Hướng nghiên
cứu theo quan điểm lịch đại, trong đó sự biến đổi tốt nghĩa và xấu
nghĩa được xem như một trong những phương thức biến đổi nghĩa. 2.
Hướng nghiên cứu theo quan điểm đồng đại, trong đó chủ yếu xem
xét dưới góc độ ngữ dụng học.
Trong tiếng Việt, tốt nghĩa và xấu nghĩa có nhiều điều đáng nói.
Chính hiện tượng này đã góp phần làm nên sự phong phú, tinh tế
trong STNN của các đơn vị từ vựng cũng như tạo ra sự độc đáo thú
vị trong STNN của các phát ngôn.
1. Từ những tiền đề lý thuyết về ngữ cảnh, chúng tôi khái quát một
quy trình xác lập sắc thái tốt nghĩa, xấu nghĩa của các đơn vị từ vựng
dựa trên ngữ cảnh. Theo đó, phân loại và miêu tả STNN của ba bộ

dạng, dúm2, đám, đàn4, hạng, kẻ2, loại1, mớ1, nắmII, nhúm1II, phe1,
phường, quầng, tao2, thứ1, xâu3II... Khám phá cơ chế biến đổi của
chúng, luận án đã phát hiện ra những nét tinh tế trong ngữ nghĩa của
DTĐV tiếng Việt.
3. Mặc dù có biểu hiện phức tạp về STNN nhưng VTTT tiếng Việt
vẫn tương đồng với DTĐV ở một số điểm cơ bản. Đó là một số
lượng lớn đơn vị trung hoà bị biến đổi STNN trong loạt ngữ cảnh
nhất định với xu hướng chủ đạo là biến đổi xấu nghĩa (rộng, hẹp,
cạnI, nông2, sâu2, cao3, thấp2...). Đó là những trường hợp có khả
năng kết hợp bất thường như hay2 (hay ho, hay hớm), sành (sành
sỏi), thiệt1 (thiệt hơn), rủiII (rủi may)... Đó là những quy trình kết
hợp bất thường tạo nên những kết hợp giàu tính biểu cảm kiểu như
dài mồm, dài lưng, dài lời (dài); lắm mồm, lắm chuyện, lắm lời
(lắmI); rắn đầu, rắn mặt (rắn2); đứng đường, đứng đường đứng chợ
(đứng2)… Điều khác biệt là ở VTTT, sự gia tăng đáng kể tỉ lệ đơn vị


23
tốt nghĩa và đơn vị xấu nghĩa cũng như sự đa dạng hoá các xu hướng
biến đổi STNN, các kiểu bất thường về khả năng kết hợp và quy
trình kết hợp là bằng chứng cho thấy sự phức tạp về STNN của bộ
phận từ loại này. Bên cạnh đó, STNN của một số loại kết hợp đặc
biệt xuất phát từ VTTT (1. Kết hợp láy. 2. Kết hợp chỉ mức độ cao
của tính chất. 3. Kết hợp biểu thị một quá trình tăng hay giảm tính
chất) cũng chứa đựng nhiều điều thú vị, trong đó, đáng chú ý là mối
liên hệ giữa vỏ ngữ âm và STNN của các yếu tố cộng thêm trong kết
hợp láy và các yếu tố chỉ mức độ cao theo sau VTTT.
Nhìn chung, với việc gia tăng tỉ lệ loại STNN tích cực và loại
STNN tiêu cực cũng như càng ngày càng vượt ra khỏi khuôn khổ
cho phép về khả năng kết hợp và quy trình kết hợp, VTTT được xem


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status