VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ LỆ DUNG
ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỒNG NGHĨA
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
Chuyên ngành:
Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số:
62.22.02.41
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI
VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn
nghiên cứu thường đối chiếu các hiện tượng thuộc bình diện ngữ âm - âm vị,
ngữ pháp hoặc các trường từ vựng - ngữ nghĩa cụ thể để chỉ ra những điểm
tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ nhằm phục vụ cho mục đích
khác nhau, trong đó có việc dạy và học ngoại ngữ. Riêng sự đối chiếu từ
đồng nghĩa giữa các ngôn ngữ nói chung, giữa tiếng Anh và tiếng Việt nói
riêng, cho đến nay hầu như chưa được thực hiện trong công trình lí luận
chuyên biệt nào. Đây là công việc rất khó khăn và phức tạp bởi nó đòi hỏi
nhà nghiên cứu không những phải nhận ra được sự giống nhau và khác biệt
ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa trong mỗi ngôn ngữ mà còn phải chỉ ra
được sự giống và khác nhau giữa các từ đồng nghĩa tương ứng với nhau
giữa hai ngôn ngữ được đối chiếu.
Chính vì thế việc nghiên cứu đối chiếu các từ đồng nghĩa trong tiếng
Anh và tiếng Việt là một đề tài có tính cấp thiết. Do vậy, luận án đặt vấn đề
nghiên cứu “Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên
bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng đến mục đích:
- Nhằm phục vụ việc dạy và học tiếng Anh và tiếng Việt như một
ngoại ngữ, nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ cho người học;
- Phục vụ cho việc biên soạn từ điển giải thích, từ điển đối chiếu từ
đồng nghĩa và công tác biên phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Anh –Việt.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu từ đồng nghĩa và đối chiếu từ đồng
nghĩa trên thế giới cũng như ở Việt Nam;
- Xác định những cơ sơ lí thuyết và phương pháp nghiên cứu liên
quan đến đề tài;
1
để xem xét phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng của mỗi từ đồng nghĩa trong
mối quan hệ hệ thống với các đơn vị khác trong mỗi dãy từ đồng nghĩa nói
riêng, trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ nói chung, và trong mối
quan hệ với thực tế khách quan của mỗi cộng đồng bản ngữ Anh và Việt.
4.2.Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây.
- Phương pháp đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa
tương đương nhau về ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt nhằm tìm ra
những nét tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng.
- Phương pháp miêu tả
2
Đây là phương pháp quan trọng để miêu tả hoạt động của các từ đồng
nghĩa trong ngữ cảnh sử dụng nhằm chỉ ra sự giống nhau và khác nhau về
ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng khi đối chiếu.
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa
Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được sử dụng để phân tích cấu
trúc nghĩa của các từ đồng nghĩa nhằm xác định các nét nghĩa khu biệt của
chúng, từ đó có thể chỉ ra các nét nghĩa giống và khác nhau giữa chúng.
- Thủ pháp thống kê
Thủ pháp này được sử dụng để chỉ ra mức độ phổ biến qua số
lượng, tần số xuất hiện của các hiện tượng ngữ nghĩa và ngữ dụng của các
từ đồng nghĩa được đối chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Ngoài ra chúng tôi còn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu từ
đồng nghĩa do Nguyễn Đức Tồn đề xuất. Đó là:
- Thủ pháp dùng kết cấu đồng nhất “A là B”, đảo lại “B là A” để
xác định các đơn vị đồng nghĩa. Thủ pháp này được sử dụng để loại bỏ các
Luận án là công trình đầu tiên làm sáng tỏ được đặc trưng ngữ nghĩa,
ngữ dụng của các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Từ đó các
kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung, làm sâu sắc thêm và phát triển lí
thuyết về từ đồng nghĩa vốn còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam. Ngoài ra
luận án còn có đóng góp nhất định trong việc đề xuất cách thức đối chiếu
các từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận án giúp ích cho việc phân tích cái
hay, cái đẹp về phương tiện biểu đạt của tiếng Anh và tiếng Việt; phục vụ
thiết thực cho việc giảng dạy và học tập tiếng Anh trong nhà trường cũng
như giúp người nước ngoài học tiếng Việt thuận lợi hơn. Kết quả nghiên
cứu còn có thể được sử dụng để biên soạn từ điển giải thích, từ điển từ đồng
nghĩa và từ điển đối chiếu từ đồng nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt;
biên soạn tài liệu giảng dạy biên dịch và phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Anh
và Việt.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 : Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài của luận án
Chương 3: Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên
bình diện ngữ nghĩa
Chương 4: Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên
bình diện ngữ dụng.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. DẪN NHẬP
Các từ đồng nghĩa và kết cấu ngữ pháp đồng nghĩa có ý nghĩa rất to
lớn giúp chúng ta biểu hiện được tư tưởng, tình cảm của mình một cách
chính xác hơn, có thể tránh được sự diễn đạt trùng lặp. Chính vì vậy, từ lâu
D. I. Fônvizin (1783), P. Kalaiđôvích (1818), Galich (1840), V. N. Kliueva
(1956, in lại lần thứ 2 có sửa đổi và bổ sung năm 1961), Z. E.
Alếchsanđrôva (1975), v.v...
Bên cạnh các cuốn từ điển từ đồng nghĩa, ở Liên Xô trước đây còn có
những bài viết, chuyên luận của nhiều tác giả bàn các vấn đề lí luận về từ
đồng nghĩa, chẳng hạn, I. I. Đavưđốp (thế kỉ XIX), V. K. Favôrin (1953), A.
B. Sapir " (1955), Công trình của V. A. Sirotina (1970), E. M. Bêrêgốpskaia
(1962), Ju.D. Apresjan (1974), v.v...
Các nhà nghiên cứu đã có được hàng loạt những quan sát đúng
đắn: Các từ đồng nghĩa được định nghĩa là các từ gần gũi nhưng không
đồng nhất về ý nghĩa (trong số các từ đồng nghĩa người ta đã tách riêng ra
các từ gọi tên cùng một sự vật). Chúng là chỉ tố về tính chất đã phát triển,
về sự phong phú, uyển chuyển của một ngôn ngữ và để phục vụ cho sự đa
dạng hóa cách biểu hiện tư tưởng. Các từ đồng nghĩa khu biệt nhau về mặt
phong cách, về mức độ của đặc trưng, về khả năng kết hợp với phạm vi từ
nào đó. Lĩnh vực từ đồng nghĩa là lĩnh vực các từ có ý nghĩa trừu tượng.
Tuy nhiên, những điểm này mới chỉ là những quan sát riêng lẻ chưa được
luận giải đầy đủ và cũng chưa được chứng minh đủ tin cậy. Còn nhiều vấn
đề chưa được nghiên cứu kĩ, thậm chí người ta còn chưa hiểu bản chất của
từ, các mối liên hệ của nó với những từ khác.
Các nghiên cứu về đồng nghĩa từ vựng ở Liên Xô trước đây cho phép
quy tất cả các định nghĩa về từ đồng nghĩa được đưa ra trong các công trình
khoa học vào hai loại:
Loại 1. Định nghĩa các từ đồng nghĩa là những từ có âm khác nhau,
gần gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa.
5
Loại 2. Định nghĩa từ đồng nghĩa là những từ biểu thị cùng một hiện
tượng của hiện thực khách quan, nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa,
có chỉ rõ các mức độ đồng nghĩa và thao tác để nhận diện các tiểu loại từ
đồng nghĩa tương ứng; đề xuất cách lập dãy từ đồng nghĩa với một từ cho
trước và phương pháp tìm các nét nghĩa khu biệt của các từ đồng nghĩa.
1.4.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỒNG NGHĨA
ANH-VIỆT
Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như ở Anh Quốc chủ yếu mới có các
công trình nghiên cứu lí luận về từ đồng nghĩa và biên soạn từ điển đồng
nghĩa. Hiện nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu đối chiếu toàn diện, có
hệ thống từ đồng nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và
6
ngữ dụng. Do vậy luận án của chúng tôi là công trình đầu tiên dành cho đề
tài này.
1.5. TIỂU KẾT
Hiện tượng từ đồng nghĩa đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước quan tâm từ rất lâu. Nhìn chung, các công trình chủ yếu là các từ điển
từ đồng nghĩa. Các công trình nghiên cứu lí luận về từ đồng nghĩa không
nhiều, trong đó chủ yếu bàn về khái niệm từ đồng nghĩa, sự phân loại và các
thủ pháp nhận diện chúng. Công trình Từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn
Đức Tồn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc
các vấn đề liên quan đến từ đồng nghĩa trong các ngôn ngữ nói chung, trong
tiếng Việt nói riêng.
Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như ở Anh Quốc hầu như chưa có
công trình nào nghiên cứu đối chiếu toàn diện từ đồng nghĩa tiếng Anh và
tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng. Do vậy luận án chúng tôi
là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này.
Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
2.1 PHÂN BIỆT CÁC KHÁI NIỆM: HIỆN TƯỢNG ĐỒNG NGHĨA,
các nghĩa cũ và nghĩa mới của từ có mối quan hệ với nhau theo cách nào đó.
Các nghĩa mới (nghĩa phái sinh) thường được nảy sinh trên cơ sở nghĩa ban
đầu của từ hoặc trên cơ sở một hay vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu
niệm của từ. Chính sự chuyển nghĩa, sự phát triển ý nghĩa của từ đã làm
nảy sinh các từ đồng nghĩa. Hai từ vốn không đồng nghĩa với nhau, do
phát triển thêm các nghĩa phái sinh, chúng trở nên có quan hệ đồng nghĩa.
Ví dụ: do sự phát triển thêm các nghĩa phái sinh mà ăn đã trở nên đồng
nghĩa với hợp, với thắng, với hưởng, v.v...Trong quá trình đối chiếu các
từ đồng nghĩa giữa tiếng Anh và tiếng Việt, nhiều trường hợp các từ trong
dãy đã đồng nghĩa với nghĩa gốc của từ trung tâm theo nghĩa phái sinh (x.
Chương 3).
2.5. TRƯỜNG TỪ VỰNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỪ ĐỒNG
NGHĨA
2.5.1. Lí thuyết trường từ vựng
Theo Đỗ Hữu Châu: “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ
vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về nghĩa.” Một từ nhiều nghĩa có
thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau. Điều này tạo ra hiện tượng giao
thoa giữa các trường. Khi nghiên cứu, chúng tôi chỉ đối chiếu các từ đa
nghĩa đồng nghĩa nhau ở nghĩa gốc đầu tiên thuộc cùng một trường từ vựng.
2.5.2. Dãy đồng nghĩa và vấn đề chọn từ trung tâm của dãy đồng nghĩa
Luận án xét đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của các dãy từ đồng nghĩa
trong tiếng Việt và tiếng Anh cho nên chúng tôi sử dụng lí thuyết về trường
từ vựng để giải quyết vấn đề phân lập các dãy đồng nghĩa, chọn từ trung
tâm của dãy đồng nghĩa.... Bởi các tập hợp từ đồng nghĩa thì nhất thiết cùng
nằm trong một trường từ vựng, tuy nhiên, không phải bất cứ những tập hợp
từ cùng trường nào cũng là các từ đồng nghĩa. Để tránh nhầm lẫn đưa cả
những từ cùng chủ đề vào một dãy đồng nghĩa, đồng thời vẫn giúp thấy
được mối liên hệ giữa các từ đồng nghĩa, có thể áp dụng lí thuyết trường từ
vựng vào đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa, nhất là khi các từ đồng nghĩa cần
đối chiếu có số lượng khá lớn, sự giống nhau về ý nghĩa của chúng so với ý
2.6.1.1. Khái niệm nghĩa từ
Để làm việc, chúng tôi theo quan điểm: nghĩa của từ là sự hiểu biết
cùng với xúc cảm kèm theo xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc người
bản ngữ về sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ.... mà từ biểu
thị khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy. Ngữ nghĩa của từ luôn gồm có 3 thành tố
sau đây:Thành tố 1 là sự vật/khái niệm mà từ biểu thị; Thành tố 2 là sắc thái
biểu cảm - phong cách; Thành tố 3 là phạm vi sử dụng...Sự đối chiếu các từ
đồng nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt được dựa theo ba thành tố này trong
nghĩa của từ.
2.6.1.2. Khái niệm cấu trúc tham tố của động từ
Khi đối chiếu các động từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ, để phân
biệt ý nghĩa các đơn vị từ vựng đồng nghĩa là động từ chúng tôi sẽ dựa vào
cấu trúc tham tố của các động từ. Cụ thể là cần dựa theo các tham tố sau:
diễn tố/tác tố và chu tố (hay còn gọi là trạng tố) trong cấu trúc tham tố của
động từ.
2.6.2. Ngữ dụng của từ
Theo Ju. D. Apresjan, ngữ dụng là thái độ (hay quan hệ) của người
nói đã được củng cố trong đơn vị ngôn ngữ (từ vị, phụ tố, kết cấu cú pháp)
đối với: 1) hiện thực, 2) nội dung của thông báo, 3) người nghe.
Các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt có thể được đối
chiếu với nhau theo các phương diện ngữ dụng đã nêu trong định nghĩa trên
9
2.7. TIỂU KẾT
Để triển khai đề tài, luận án dựa vào các cơ sở lí thuyết chủ yếu sau:
Dựa vào định nghĩa từ đồng nghĩa trên cơ sở thủ pháp nhận diện từ
đồng nghĩa là: Sử dụng kết cấu đồng nhất “A là B” và đảo lại “B là A”.
Ngoài ra, chương này còn trình bày vấn đề chọn Từ trung tâm của một dãy
đồng nghĩa; khái niệm nghĩa của từ và các thành tố của nó để làm cơ sở
động từ đồng nghĩa trong tiếng Anh cũng như tiếng Việt có sự khu biệt
nghĩa tinh tế theo đủ tất cả các tham tố của động từ: chủ thể hành động (nói
chung hay chỉ nói về lực lượng vũ trang), trạng thái của chủ thể (luôn luôn
có mặt túc trực tại vị trí cần bảo vệ hay không), phương tiện để bảo vệ (có
vũ khí / phương tiện hay không); Đối tượng cần được bảo vệ là con người,
10
hay tài sản, vị trí, đất đai….; Đối tượng gây hại cần phòng tránh là loại nào
( sự xâm phạm, tổn thất, mất mát, sự bất trắc hay cái xấu nói chung…). Tuy
nhiên, sự hiện thực hóa nét nghĩa khác biệt được thể hiện qua các tham tố
trên trong mỗi ngôn ngữ có sự khác nhau, do đó, ý nghĩa của mỗi động từ
trong hai ngôn ngữ bên cạnh những nét nghĩa trùng nhau vẫn cũng có nét
nghĩa khác nhau. Đặc biệt, tiếng Việt có nhiều từ đồng nghĩa hơn tiếng
Anh (13 so với 5) nên giữa các từ có sự phân biệt ngữ nghĩa cụ thể và tinh
tế hơn so với tiếng Anh. Do vậy, một từ tiếng Anh thường có nghĩa rộng và
khái quát hơn nên thường tương đương với ý nghĩa của cả hai hoặc trên hai
từ đồng nghĩa tiếng Việt.
3.2.1.2. Đối chiếu ngữ nghĩa các dãy động từ đồng nghĩa:
CARRY , BEAR, CONVEY, TRANSPORT, TRANSMIT và
a) MANG, ĐEM, XÁCH, BÊ, BƯNG
b) ĐEO, VÁC, GÁNH, KHIÊNG, KHUÂN, QUẨY, ĐỘI
c) CHỞ, TẢI, CHUYÊN CHỞ, VẬN CHUYỂN, CHUYỂN VẬN, VẬN
TẢI
Kết quả phân tích, đối chiếu cho thấy dãy từ đồng nghĩa tiếng Anh
cùng có ý niệm chung “làm cho đối tượng di chuyển bằng cách có nó trên
mình và chuyển dời cùng với nó tới nơi khác” có số lượng đơn vị từ vựng ít
hơn rất nhiều so với các dãy từ đồng nghĩa tiếng Việt tương ứng (SS. A: 5
từ; V: 18 từ). Các từ đồng nghĩa tiếng Việt có sự phân biệt ngữ nghĩa chi
tiết, cụ thể hơn rất nhiều so với các từ tiếng Anh, trong đó có nhiều từ chỉ
cắp (chủ thể hành động: người; khách thể hành động: người, động vật, bất
động vật; phương tiện: tay; cách thức: kẹp vào nách hay bên sườn); cõng
(chủ thể hành động: người; khách thể hành động: người, bất động vật;
phương tiện: tay và lưng; cách thức: mang vật theo trên lưng); đèo (chủ thể
hành động: người; khách thể hành động: người, bất động vật; phương tiện:
xe đạp; cách thức: để sau yên xe đạp).
3.2.1.3. Đối chiếu ngữ nghĩa các dãy động từ đồng nghĩa:
CHOOSE, SELECT, PICK, CULL, ELECT, OPT, SINGLE OUT và
a) CHỌN, LỰA, TUYỂN, KÉN, LỌC, CHỌN LỌC, LỰA CHỌN,
CHỌN LỰA, KÉN CHỌN, TUYỂN b) CHỌN, TUYỂN LỰA
Kết quả phân tích cho thấy các từ trong dãy đồng nghĩa tiếng Anh và
tiếng Việt cùng khác nhau theo các tham tố chu tố sau đây: 1. Hoàn cảnh
lựa chọn nghiêm chỉnh tới mức nào; 2. Việc lựa chọn tiến hành kỹ càng đến
đâu; 3. Những yếu tố nào quyết định việc lựa chọn; 4. Có sự tích lũy, thu
góp những đối tượng được lựa chọn hay không.
Song các từ đồng nghĩa tiếng Việt không có sự phân biệt nhau theo
tham tố thứ 5 như tiếng Anh: phải chọn lựa một trong hai phương án loại
trừ nhau nảy sinh chủ yếu trong lĩnh vực đời sống xã hội hoặc chính trị (thể
hiện trong ý nghĩa của động từ opt). Các từ đồng nghĩa tiếng Việt khác với
các từ đồng nghĩa tiếng Anh ở tham tố thứ 5 là sự hạn chế về đối tượng để
chọn (người, văn thơ) (thể hiện trong nghĩa từ tuyển) và tham tố thứ 6 là
tiêu chuẩn để chọn là có sẵn hay tự mình đề ra để tìm cho được cái hoàn
toàn đáp ứng với yêu cầu của mình, khi chưa tìm được thì chờ (thể hiện
trong ý nghĩa từ kén). Ngoài ra tiếng Việt còn có hiện tượng ghép theo
quan hệ đẳng lập các đơn vị đồng nghĩa đơn tiết để tạo ra các đơn vị song
tiết mang nghĩa tổng hợp, khái quát hơn các từ đồng nghĩa tiếng Anh tương
ứng (thể hiện trong nghĩa các từ chọn lọc, lựa chọn, chọn lựa, kén chọn,
tuyển chọn, tuyển lựa).
3.2.1.4. Đối chiếu ngữ nghĩa các dãy động từ đồng nghĩa:
CONVENE, CONVOKE, CALL, SUMMON, MUSTER và
PASS WAY , DICEASE
CHẾT, MẤT, VỀ, HI SINH, TỪ TRẦN, THỌ CHUNG, TẠ
THẾ, BĂNG HÀ, QUY TIÊN, TỊCH, TỊCH DIỆT, VIÊN TỊCH, BỎ
XÁC, BỎ THÂY, TOI, NGOẺO,...
3.2.1.6
ADAPT , ADJUST, ACCOMMODATE, CONFORM,
RECONCILE
THÍCH NGHI, THÍCH ỨNG, THÍCH HỢP, PHÙ HỢP
3.2.2. Đối chiếu ngữ nghĩa một số dãy tính từ đồng nghĩa
3.2.2.1 Đối chiếu ngữ nghĩa các dãy tính từ đồng nghĩa:
BEAUTIFUL, PRETTY, HANDSOME, ATTRACTIVE, LOVELY,
CUTE,GOOD-LOOKING, GORGEOUS, STUNNING, STRIKING và
ĐẸP, ĐẸP ĐỄ, XINH, DỄ COI, DIỄM LỆ, LỘNG LẪY, MỸ LỆ
Kết quả phân tích, đối chiếu cho thấy các tính từ đồng nghĩa trong
tiếng Anh có nghĩa chung là “đẹp”, chúng khác nhau về các nét nghĩa khu
biệt sau: 1) Sự khác biệt về diễn tố là chủ thể mang tính chất hay vẻ “đẹp”:
là nam hay nữ, đứng tuổi hay còn trẻ; 2) Sự đánh giá chủ thể mang vẻ
“đẹp”về phương diện giới tính: có những nét mạnh mẽ như đàn ông, hay có
13
những nét nhỏ nhắn, tinh tế của phụ nữ; 3) Trạng thái tình cảm của người
nói đối với chủ thể mang vẻ “đẹp” là tích cực, dễ chịu hay tiêu cực không
ưa nhìn; 4) Khác nhau về chu tố mức độ của vẻ “đẹp” : trung hòa- rất cao
– cực kì ; 5) Khác nhau về chu tố phương diện được nói đến của vẻ “đẹp”:
chỉ dùng để chỉ vẻ bề ngoài hay nói chung toàn cơ thể; về phương diện tình
dục; 6) Sắc thái phong cách-biểu cảm trang trọng hay không.
Các tính từ trong dãy đồng nghĩa trên trong tiếng Việt cũng có nghĩa
chung là “đẹp” và khác nhau theo các nét nghĩa khu biệt sau:
1) Sự khác biệt về diễn tố là chủ thể mang tính chất hay vẻ “đẹp”: nói về
hoặc các bộ phận cơ thể). Điều này cho thấy nghĩa của tính từ trong tiếng
Anh thường mang nghĩa khái quát, rộng hơn tính từ tương ứng trong tiếng
14
Việt. Do vậy, cùng một tính từ tiếng Anh được sử dụng trong ngữ cảnh
khác nhau thường được dịch bằng nhiều tính từ tiếng Việt khác nhau.
3.2.3 Đối chiếu ngữ nghĩa một số dãy danh từ đồng nghĩa
2.2.3.1 Đối chiếu ngữ nghĩa dãy danh từ đồng nghĩa:
COUPLE, PAIR, BRACE, YOKE và HAI, VÀI, ĐÔI, CẶP
Couple có ý nghĩa rộng nhất và ít xác định nhất – nó có thể biểu thị
vừa đúng hai sự vật và cũng có thể một số lượng hơi nhiều hơn một chút, ví
dụ: a couple of girls /of women, of boys (hai cô gái/phụ nữ, thằng bé); a
couple of dogs /of cats, of cows (hai con chó/con mèo, con bò cái); after a
couple of glasses (sau hai/vài cốc) ; in a couple of minutes /of days (trong
hai phút/ngày).
Pair thể hiện ý là hai sự vật được xem xét hình thành một bộ hoàn
chỉnh, không thể sử dụng cái này mà không có cái kia, v.v..., ví dụ: a pair
of eyes/of hands, of feet (đôi mắt/tay, chân); a pair of shoes (đôi giày); to
walk in pairs (đi từng/thành đôi).
Brace và yoke có ý nghĩa chuyên hóa đơn couple bởi lẽ chúng biểu
thị đúng hai sự vật; mặt khác chúng có ý nghĩa ít chuyên hóa đơn pair, bởi
vì chỉ nhấn mạnh, sự thể hai sự vật hiện ra trong nhận thức người nói như
những thứ liên hệ với nhau, ví dụ: a brace of pheasants /of ducks, of
greyhounds (cặp (đôi) gà lôi/vịt, chó săn); a brace of pistols (hai khẩu sung
lục); a yoke of oxen (đôi bò).
Trong tiếng Việt, hai là từ chỉ số sau số một, trước số ba trong hệ
thống số đếm của tiếng Việt. Đồng nghĩa với hai, còn có các từ đôi, cặp.
Tuy vậy, giữa các từ này vẫn có sự khác nhau khá rõ về sắc thái nghĩa và
cách dùng.
hướng mang nghĩa rộng và khái quát hơn từ tiếng Việt có nghĩa tương ứng.
Chính lí do này đã khiến cho các nhà biên soạn từ điển đối chiếu Anh - Việt
thường phải sử dụng nhiều từ tiếng Việt đồng nghĩa để đối dịch một từ
trong tiếng Anh khi được sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau.
Các từ trong dãy đồng nghĩa của tiếng Việt thường có số lượng nhiều
hơn các từ trong dãy đồng nghĩa tương ứng của tiếng Anh nên dung lượng
ngữ nghĩa mỗi từ hẹp hơn từ tiếng Anh tương ứng. Hệ quả điều này là các
từ trong dãy đồng nghĩa tiếng Việt thường khu biệt nhau về nhiều nghĩa vị
hơn so với các từ trong dãy đồng nghĩa tương ứng của tiếng Anh. Thậm chí
ngay cả trong trường hợp các dãy từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ có số
lượng loại nghĩa vị khu biệt bằng nhau, nhưng sự hiện thực hóa mỗi loại
nghĩa vị này thành các nghĩa vị cụ thể ở các từ đồng nghĩa tiếng Việt cũng
nhiều hơn tiếng Anh. Các từ đồng nghĩa tiếng Việt không chỉ khác biệt
nhau theo các tham tố về mức độ quy mô, kích cỡ... của đối tượng được
biểu đạt (đối với các danh từ đồng nghĩa), về mức độ cao thấp của tính chất
được biểu thị (đối với các tính từ đồng nghĩa ) và về các tác tố hay diễn tố
(chủ thể và khách thể hành động) cùng các chu tố hay trạng tố trong cấu
trúc tham tố của động từ (đối với các động từ đồng nghĩa) như đối với các
từ đồng nghĩa tiếng Anh mà còn khác biệt theo các tham tố: tính cụ thể hay
trừu tượng hoặc mức độ rộng - hẹp của ý nghĩa được diễn đạt. Các từ đồng
nghĩa tiếng Anh rất ít hoặc hầu như không khác biệt nhau theo hai tham tố
cuối cùng này. Điều đó cho thấy trong những ngôn cảnh khác nhau, tuỳ
mục đích giao tiếp, cùng một thông tin ngữ nghĩa hay ý niệm, người Việt
thường có xu hướng sử dụng các cách diễn đạt đồng nghĩa khác nhau để nói
lên những khía cạnh khác nhau trong nội dung thông điệp của mình.
Các cứ liệu nghiên cứu trên đây chứng tỏ rằng người Việt có xu
hướng chia cắt, phạm trù hóa hiện thực khách quan và biểu đạt nó qua ngôn
ngữ một cách chi tiết, cụ thể hơn so với người Anh. Chúng hoàn toàn phù
hợp với những đặc điểm tư duy ngôn ngữ của mỗi dân tộc: người Anh có xu
vị để biểu thị thông tin ngữ dụng có giá trị khu biệt các từ đồng nghĩa (SS.
Các nét nghĩa khu biệt được gọi là nghĩa vị). Ngữ dụng vị là nét khu biệt về
ngữ dụng dựa trên sự đối lập của cùng một loại thông tin ngữ dụng, ví dụ :
thông tin đánh giá theo thang độ về số lượng có ba đối lập, từ đó có ba ngữ
dụng vị: đánh giá được cho là bình thường/ trung tính - đánh giá được cho
là ít – đánh giá được cho là nhiều,v.v...
4.2. ĐỐI CHIẾU NGỮ DỤNG CÁC TỪ ĐỒNG NGHĨA TRONG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
4.2.1. Đối chiếu động từ đồng nghĩa
4.2.1.1 Đối chiếu các dãy động từ đồng nghĩa:
CARRY , BEAR, CONVEY, TRANSPORT, TRANSMIT và
a) MANG, ĐEM, XÁCH, BÊ, BƯNG
b) ĐEO, VÁC, GÁNH, KHIÊNG, KHUÂN, QUẨY, ĐỘI
17
c) CHỞ, TẢI, CHUYÊN CHỞ, VẬN CHUYỂN, CHUYỂN
VẬN, VẬN TẢI
Kết quả phân tích đối chiếu cho thấy, dãy các động từ đồng nghĩa
tiếng Anh nói trên khu biệt nhau theo 5 ngữ dụng vị sau đây: 1. Ngữ dụng
vị biểu thái sách vở (bút ngữ) hay trung hòa; 2. Ngữ dụng vị đánh giá trọng
lượng hoặc tầm quan trọng của đối tượng chuyên chở là lớn nên có sự phải
cố sức của chủ thể; 3. Ngữ dụng vị đánh giá đối tượng được chuyên chở là
có tính chất đặc thù hay riêng biệt; 4. Ngữ dụng vị đánh giá khoảng cách
vận chuyển là xa; 5. Ngữ dụng vị đánh giá hành động có tính hoàn thành,
đạt được đến đích.
Các động từ trong ba dãy trên của tiếng Việt không có sự khác biệt
về ngữ dụng vị biểu thái phong cách - biểu cảm và phạm vi sử dụng như
trong tiếng Anh. Chúng có các ngữ dụng vị đánh giá sau: 1) Ngữ dụng vị
sống xã hội hoặc chính trị; 10) Ngữ dụng vị giới hạn của hành động: chỉ
tách chọn khả năng, hay bao hàm cả việc thực hiện khả năng đó.
Các động từ đồng nghĩa tiếng Việt chỉ phân biệt nhau về 6 ngữ dụng
vị sau:1) Ngữ dụng vị đánh giá về mức độ đáp ứng của đối tượng hành
động trong nhiều cái cùng loại; 2)Ngữ dụng vị đánh giá mức độ phức tạp
của tiêu chuẩn để thực hiện hành động khi xem xét so sánh trong số những
cái cùng loại; 3) Ngữ dụng vị đánh giá về số lượng của đối tượng hành
động là nhiều hay ít; 4) Ngữ dụng vị đánh giá có sự hạn chế hay không về
loại đối tượng để thực hiện hành động; 5) Ngữ dụng vị đánh giá mức độ cao
của những tiêu chuẩn do tự chủ thể hành động đề ra để tìm cho được cái
hoàn toàn đáp ứng với yêu cầu; 6) Ngữ dụng vị giới hạn đối tượng của hành
động:có bị hạn chế trong những cái có sẵn trước mắt hay không.
Như vậy, dãy các động từ đồng nghĩa tiếng Anh tuy có số lượng từ ít
hơn tiếng Việt (SS. A: 8 và V: 12), nhưng các thông tin ngữ dụng của các
động từ đồng nghĩa tiếng Anh phong phú và nhiều hơn tiếng Việt (SS.
A:10, V:6)
Các động từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ Anh và Việt chỉ giống
nhau ở 2 ngữ dụng vị:1) Ngữ dụng vị đánh giá về mức độ kỹ càng của chủ
thể hành động; 2) Ngữ dụng vị đánh giá về tính khắt khe của hành động.
Kết quả đối chiếu cho thấy rằng phần ngữ nghĩa của các động từ
đồng nghĩa trên trong hai ngôn ngữ khá giống nhau, nhưng về ngữ dụng thì
khác nhau căn bản.
4.2.1.3 Đối chiếu các dãy động từ đồng nghĩa:
CONVENE, CONVOKE, CALL, SUMMON, MUSTER và
TRIỆU TẬP, TẬP TRUNG, TRIỆU, GỌI, VỜI
Cacs dãy động từ đồng nghĩa này trong tiếng Anh và tiếng Việt có số
lượng các ngữ dụng vị ngang nhau (SS. A.:4, V: 4). Chúng chỉ khác nhau ở
02 ngữ dụng vị sau: 1) Ngữ dụng vị biểu thái tính chất nghi thức hoặc mệnh
lệnh hay trung hòa (tiếng Anh) và Ngữ dụng vị biểu thái cũ, trang trọng hay
hiện bằng các tính từ: đối với cả chủ thể lẫn khách thể hay chỉ đối với chủ
thể (bản thân) hay chỉ đối với khách thể (người khác) trong quan hệ cư xử.
2) Ngữ dụng vị đánh giá mức độ nghiêm khắc, khắt khe/ mức độ chịu đựng
của người bị cư xử bởi mối quan hệ được nói đến;
3) Ngữ dụng vị thái độ của người nói đối với quan hệ cư xử được nói đến
(khen hay ác cảm).
Các tính từ đồng nghĩa trong tiếng Việt cũng giống các tính từ đồng
nghĩa tiếng Anh ở 02 ngữ dụng vị sau: 1) Ngữ dụng vị giới hạn phạm vi
đối tượng của quan hệ cư xử được biểu hiện bằng các tính từ: đối với cả chủ
thể (bản thân) lẫn khách thể là người khác (nghiêm khắc) hay chỉ đối với
chủ thể là bản thân (khắc khổ ) hay chỉ đối với khách thể - người khác
(nghiệt, nghiệt ngã, hà khắc ) trong quan hệ cư xử;
2) Ngữ dụng vị đánh giá mức độ cao về tính nghiêm khắc, khắt khe trong
quan hệ cư xử / mức độ chịu đựng của người bị cư xử bởi mối quan hệ được
nói đến.
Các tính từ tiếng Việt khác với các tính từ đồng nghĩa tiếng Anh ở
ngữ dụng vị 3: Các tính từ tiếng Anh có thể mang thông tin ngữ dụng đánh
giá tích cực hoặc tiêu cực về quan hệ được nói đến. Các tính từ đồng nghĩa
tương ứng trong tiếng Việt chỉ mang thông tin ngữ dụng đánh giá tiêu cực
về quan hệ được nói đến.
4.2.2.3 Đối chiếu ngữ dụng các dãy tính từ đồng nghĩa:
LARGE, BIG, GREAT và
TO, TO ĐÙNG,TO LỚN, TO SỤ, TO TÁT, TO TƯỚNG, TO XÙ,
LỚN, LỚN LAO, KHỔNG LỒ, VĨ ĐẠI
4.2.3 Đối chiếu ngữ dụng các danh từ đồng nghĩa
20
4.2.3.1 Đối chiếu các dãy danh từ đồng nghĩa:
CROWD, MOB, HORDE, THRONG, DROVE, CRUSH, RABBLE và
giá thấp về số lượng trong tiếng Việt
CHỈ, MỖI, MỚI, CÓ, ĐỘC, THÔI
b) Dãy từ đồng nghĩa mang thông tin ngữ dụng nhấn mạnh sự đánh
giá cao về số lượng trong tiếng Việt
ĐÃ, NHỮNG, TẬN, TỚI, MÃI, ĐẾN, HẲN, ĐÃ, CẢ
Nhận xét chung: Sự đánh giá về số lượng là một trong ba kiểu thuộc
bình diện ngữ dụng “thái độ của người nói đối với hiện thực”. Các phương
tiện biểu hiện nó có tính chất ngoại vi, nghĩa là được biểu hiện bằng các loại
hư từ như tiểu từ, thán từ, từ đệm. Chính vì vậy các từ trong dãy đồng nghĩa
21
mang thông tin ngữ dụng đánh giá về số lượng được luận án của chúng tôi
xét đều là các hư từ. Tuy nhiên, cũng có trường hợp thông tin ngữ dụng
đánh giá về số lượng được biểu hiện bằng tính từ như trường hợp từ hẳn.
Trong tiếng Anh và tiếng Việt cùng có dãy từ đồng nghĩa mang thông
tin ngữ dụng từ phương diện sự đánh giá thấp về số lượng nên có sự đối
chiếu dễ dàng. Đó là only, just và dãy đồng nghĩa tương ứng trong tiếng
Việt là chỉ, mỗi, mới , có, độc, thôi.
Đối với các từ mang thông tin ngữ dụng từ phương diện sự đánh giá
cao về số lượng, tiếng Anh chỉ sử dụng từ TOO, còn tiếng Việt có khá
nhiều từ: Đã, những, tận, tới, đến, hẳn, mãi, cả.
4.3 TIỂU KẾT
Kết quả đối chiếu các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt
trên bình diện ngữ dụng cũng cho kết quả phù hợp với sự đối chiếu các từ
đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ trên bình diện ngữ nghĩa. Cụ thể là trong
mỗi dãy từ đồng nghĩa tiếng Anh, số lượng các từ đồng nghĩa thường ít hơn
nhiều so với các đơn vị trong các dãy từ đồng nghĩa tương ứng của tiếng
Việt. Chính điều này khiến cho từ đồng nghĩa tiếng Anh thường có thông
tin ngữ dụng khái quát hơn từ đồng nghĩa tương ứng trong tiếng Việt. Trong
sử dụng nhiều từ tiếng Việt đồng nghĩa để đối dịch một từ trong tiếng Anh
được sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau.
2. Cũng chính do số lượng các từ trong dãy đồng nghĩa của tiếng Việt thường
nhiều hơn số lượng các từ trong dãy đồng nghĩa tương ứng của tiếng Anh, nên
các từ trong dãy đồng nghĩa của tiếng Việt phân biệt nhau theo số lượng các nét
nghĩa khu biệt và các tham tố nhiều hơn so với các từ trong dãy đồng nghĩa
tương ứng của tiếng Anh. Chúng không chỉ khác biệt các tham tố về quy mô,
kích cỡ... của đối tượng được biểu đạt (đối với các danh từ đồng nghĩa), về mức
độ cao thấp của tính chất được biểu thị (đối với các tính từ đồng nghĩa ) và về
các tác tố (chủ thể và khách thể) cùng các chu tố trong cấu trúc tham tố của
động từ (đối với các động từ đồng nghĩa) như đối với các từ đồng nghĩa tiếng
Anh mà các từ trong dãy đồng nghĩa của tiếng Việt còn khu biệt nhau về tính
cụ thể hay trừu tượng hoặc mức độ rộng - hẹp của ý nghĩa được biểu đạt. Các
từ đồng nghĩa tiếng Anh rất ít hoặc hầu như không khác biệt nhau theo hai
phương diện này.
Các cứ liệu nghiên cứu của luận án cũng góp phần chứng tỏ rằng người
Việt có xu hướng chia cắt, phạm trù hóa hiện thực khách quan và biểu đạt nó
qua ngôn ngữ một cách chi tiết, cụ thể hơn so với người bản ngữ tiếng Anh.
Điều đó hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tư duy ngôn ngữ của mỗi cộng đồng
ngôn ngữ: cộng đồng người bản ngữ tiếng Anh có xu hướng thiên về khái quát
hóa, còn tư duy ngôn ngữ của người Việt có xu hướng thiên về cụ thể hóa, chi
tiết hóa.
3. Kết quả đối chiếu các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình
diện ngữ dụng cũng cho kết quả phù hợp với kết quả đối chiếu các từ đồng
nghĩa trong hai ngôn ngữ trên bình diện ngữ nghĩa. Khi các dãy đồng nghĩa của
hai ngôn ngữ Anh và Việt có số lượng đơn vị bằng nhau thì các từ đồng nghĩa
tiếng Anh khu biệt nhau theo nhiều ngữ dụng vị hơn các từ đồng nghĩa tiếng
Việt. Song thường thường dãy từ đồng nghĩa tiếng Anh có số lượng đơn vị ít
hơn số lượng các đơn vị trong dãy đồng nghĩa tiếng Việt nên từ đồng nghĩa
tiếng Anh thường có thông tin ngữ dụng khái quát hơn từ đồng nghĩa tương