Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ tại rừng quốc gia đền hùng phú thọ - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN QUYẾT TIẾN

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ
TẠI RỪNG QUỐC GIA ĐỀN HÙNG, PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG VĂN SÂM

Hà Nội, 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN QUYẾT TIẾN

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ

Nghiên cứu về hệ thực vật rừng là một trong những nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu cho công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học. Việc
nghiên cứu về hệ thực vật giúp người ta hiểu rõ được thành phần và tính
chất của hệ thực vật ở từng nơi, từng vùng nhằm xây dựng mô hình về khai
thác, sử dụng, phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật một cách bền


2

vững, không gây ảnh hưởng đến môi trường sống, phục hồi các hệ sinh thái
đã bị suy thoái, mang lại lợi ích lâu dài cho con người. Ngày nay, mặc dù
với sự phát triển vượt bậc của các ngành công nghiệp chế biến khác, phục
vụ đời sống con người, nhưng nhu cầu về sử dụng các sản phẩm của thực
vật thân gỗ vẫn ngày càng gia tăng. Do đó việc tìm hiểu đa dạng về nhóm
cây này vẫn phải được đề ra, một mặt phục vụ cho đời sống ngày càng cao
của nhân dân, mặt khác phải bảo vệ, tôn tạo được nguồn tài nguyên thực vật
thân gỗ đảm bảo cân bằng sinh thái, cải tạo nuôi trồng, giữ cho rừng luôn
bền vững, cho năng suất cao.
Khu Rừng quốc gia Đền Hùng là một trong những trung tâm đa dạng
sinh học không chỉ của vùng Đông Bắc mà còn cho cả Việt Nam. Bên cạnh
đó tài nguyên rừng nơi đây còn mang giá trị to lớn trong việc nâng cao giá trị
của khu Di tích Đền Hùng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu bảo tồn hệ thực vật
nói chung và thực vật thân gỗ nói riêng là hết sức quan trọng.
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa
dạng thực vật thân gỗ tại Rừng quốc gia Đền Hùng, Phú Thọ”.


3

Chương 1

cộng đồng sinh thái khác nhau, hoặc tập hợp các loài sống ở các vùng khác
nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau”. Định nghĩa này đã đề cập
đến ba vấn đề về đa dạng sinh học là đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ
sinh thái. Tuy nhiên, định nghĩa trên còn dài dòng, không rõ ràng, dễ nhầm
lẫn giữa tính phong phú và tính đa dạng; còn một điểm không rõ nữa là định
nghĩa trên chỉ nói đến hai nhân tố là động vật và thực vật trong giới sinh vật
mà bỏ quyên quần xã sinh vật và các loài sinh vật khác như nấm và vi sinh
vật.
Định nghĩa về đa dạng sinh học được sử dụng thông thường nhất, ngắn
gọn và đầy đủ nhất là định nghĩa về đa dạng sinh học trong công ước về bảo
tồn đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio
de Janeiro (1992): “Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả
mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái
nước khác, sự đa dạng thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh
thái”. Định nghĩa này tương đối đầy đủ và rõ ràng.
1.2. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng thực vật
1.2.1. Trên thế giới
Việc nghiên cứu hệ thực vật trên thế giới đã có từ lâu. Người ta đã tìm
thấy các tài liệu mô tả về thực vật xuất hiện ở Ai Cập khoảng 3000 năm trước
Công nguyên và ở Trung Quốc khoảng 2000 năm trước Công nguyên. Song
những công trình có giá trị xuất hiện vào thế kỷ 19 - 20 như: Thực vật chí
Honkong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc
và Trung tâm Ấn Độ (1874). Theo hướng nghiên cứu thống kê và mô tả thực
vật phải kể đến các công trình như: Thực vật chí Đông Dương của Lecomte
và cộng sự (1907 -1952), Thực vật chí Malaisia (1948 – 1972), Thực vật chí
Vân Nam (1979 - 1997).


5



a- Cây gỗ lớn chồi trên đất Meg (Mégaphanérophytes)
b- Cây gỗ vừa có chồi trên đất Mes (Mésophanérophytes)
c- Cây nhỏ có chồi trên đất Mi (Microphanérophytes)
d- Cây thấp có chồi trên đất Na (Nanophanérophytes)
Raunkiaer còn gộp những cây gỗ thuộc 2 dạng Mégaphanérophytes và
Mésophanérophytes thành nhóm cây gỗ lớn và vừa có chồi trên đất (MM).
e- Cây có chồi trên đất leo cuốn Lp (Lianes phanérophytes)
f- Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám Ep (Epiphytes
phanérophytes)
g- Cây có chồi trên đất thân thảo Hp (Phanérophytes herbacés).
h- Cây có chồi trên đất thân mọng nước Sp (Phanérophytes succlents).
Raunkiaer đã tính toán cho hơn 1000 loài cây ở các vùng khác nhau
trên trái đất và lập được phổ dạng sống tiêu chuẩn (SN) như sau:
SN

Ph

Ch

H

Cr

Th

46

9


(Nguồn: Nguyễn Bá Thụ, 1995)
1.2.2. Ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao so với các nước
trên thế giới. Việc nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam đã có từ lâu. Ta có
thể nhắc tới một số tác giả như: Tuệ Tĩnh (1417) trong cuốn “Nam dược thần
hiệu” đã mô tả tới 579 loài cây làm thuốc, Lý Thời Chân (1595) trong cuốn
“Bản thảo cương mục” đã đề cập đến hơn 1000 vị thuốc thảo mộc… Song
việc điều tra nghiên cứu thực vật có tính quy mô lớn ở nước ta mới chỉ bắt
đầu vào thời Pháp thuộc. Trước hết phải kể đến các công trình: “Thực vật chí
Nam bộ” của Leureiro [42]; Thực vật chí rừng Nam bộ của các tác giả Pierre
L. [44]. Một trong công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công
trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp Lecomte et al.
[41], kết quả của nghiên cứu này là bộ “Thực vật chí đại cương Đông
Dương”, trong kết quả nghiên cứu này theo Lecomte thì vùng Đông Dương
có hơn 7.000 loài. Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn với các nhà thực vật học;
hiện nay, bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật
Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Tiếp theo đó là bổ
sung của Humbert H.
Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam (1971 – 1988) đã công bố 7
tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh


8

hoạ. Đến năm 1996, công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng
chủ biên. Võ Văn Chi (1997) đã công bố “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (Ngô
Tiến Dũng, 2006).
Theo hướng nghiên cứu đa dạng phân loại ở các vùng của Việt Nam có
công trình của Phan Kế Lộc (1973) “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở
miền Bắc Việt Nam”. Tác giả đã thống kê được 5.609 loài thuộc 1.660 chi và

ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 632 loài, 138 chi, 28 họ; ngành Hạt trần
(Gymnospermae) có 52 loài, 22 chi, 8 họ; ngành Hạt kín có 9.450 loài, 2.131
chi, 244 họ.
Gần đây (2001 – 2005), tập thể các tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu
Tài nguyên và Môi trường – ĐHQGHN, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trên cơ sở tập hợp các mẫu tiêu
bản thực vật cùng với các tài liệu đã xuất bản bộ “Danh lục các loài thực vật
Việt Nam” gồm 3 tập. Bộ sách đã thống kê đầy đủ nhất các loài thực vật có ở
Việt Nam với tên khoa học cập nhật nhất.
Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật tại các Vườn Quốc gia (VQG),
Khu Bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam cho đến đến nay đã có nhiều công
trình. Điển hình phải kể tới các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn
Bá Thụ ở VQG Cúc Phương (1995); Năm 1995, trong luận án phó tiến sỹ
khoa học nông nghiệp với đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn
Quốc gia Cúc Phương” tác giả Nguyễn Bá Thụ đã thống kê được trên diện
tích 222 km2 có 1.944 loài thực vật bậc cao thuộc 912 chi, 219 họ, 86 bộ của 7
ngành thực vật bậc cao và đã bổ sung thêm 270 loài thực vật cho hệ thực vật
Cúc Phương so với danh lục thực vật năm 1971. Trong số đó có 127 loài, 74
chi, 31 họ thuộc ngành Rêu (Bryophyta). Đồng thời tác giả đã phân tích khá
đầy đủ sự đa dạng về dạng sống, yếu tố địa lý, thành phần cũng như cấu trúc
rừng. Lê Thị Huyên ở VQG Cát Bà (1998), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự ở
VQG Bạch Mã (2003), Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Thanh Nhàn ở VQG Pù
Mát (2004), Nguyễn Văn Thanh ở VQG Xuân Sơn (2005).


10

1.2.3. Ở Đền Hùng
Đối với việc nghiên cứu về thực vật ở Rừng quốc gia Đền Hùng phải
kể đến công trình nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam

Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thực vật thân gỗ tại Rừng quốc gia Đền Hùng, Phú Thọ.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được tính đa dạng sinh học về thành phần loài, dạng sống,
công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật thân gỗ tại Rừng quốc gia Đền
Hùng từ đó đề xuất được các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên thực
vật có hiệu quả.
2.3. Nội dung nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài chúng tôi thực hiện 4 nội dung
sau:
- Điều tra, xây dựng danh lục các loài thực vật thân gỗ tại khu vực
nghiên cứu.
- Đánh giá tính đa dạng sinh học về thành phần loài, dạng sống, công
dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật thân gỗ tại Rừng quốc gia Đền Hùng.
* Nghiên cứu, xây dựng bộ dữ liệu các loài thực vật thân gỗ có giá trị
bảo tồn cao tại Rừng quốc gia Đền Hùng.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật có hiệu
quả tại khu vực nghiên cứu.
2.4. Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1. Điều tra ngoại nghiệp
* Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu
Trên cơ sở bản đồ địa hình kết hợp với việc lập các tuyến điều tra để
tiến hành nghiên cứu và thu mẫu.


12



- Số hiệu mẫu.
- Địa điểm (tỉnh, huyện, xã,…) và nơi lấy (thung lũng, sườn hay đỉnh
núi hoặc đồi, …)
- Ngày lấy mẫu.
- Đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ cao, đường kính, màu lá,
hoa, quả, …
- Người lấy mẫu.
Khi ghi phải dùng bút chì mềm, tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực
để tránh bị mất khi ngâm tẩm về sau.
2.4.2. Xử lý trong phòng thí nghiệm
Mẫu tiêu bản thu thập trong quá trình điều tra được mang về và xử lý
tại Trung tâm Đa dạng sinh học, Trường Đại học Lâm nghiệp. Nội dung công
việc gồm:
+ Ép mẫu và sấy mẫu.
+ Phân loại mẫu theo họ và chi.
+ Giám định mẫu tiêu bản được thực hiện bởi tác giả cùng với sự giúp
đỡ của các chuyên gia về Phân loại Thực vật của Trung tâm Đa dạng sinh
học, Bộ môn Thực vật rừng đồng thời đối chiếu mẫu nghiên cứu với bộ mẫu
đang lưu trữ tại Trung tâm Đa dạng sinh học.
+ Phân tích mẫu: Dựa trên một số nguyên tắc; phân tích từ tổng thể đến
chi tiết, từ cái lớn đến cái nhỏ, phân tích phải đi đôi với nghi chép.
+ Tra tên khoa học: Sau khi đã phân tích mẫu chúng tôi tiến hành tra
tên khoa học dựa theo các khóa xác định.
2.4.3. Xây dựng danh lục và đánh giá đa dạng hệ thực vật
* Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục:


14


loài trong từng chi được sắp xếp theo thứ tự ABC. Trong danh lục thể hiện
được tên khoa học, tên Việt Nam, dạng sống, giá trị sử dụng, mức độ đe dọa.
* Đánh giá đa dạng về phân loại: Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [43], bao
gồm:
o

Thống kê và đánh giá thành phần loài, chi, họ của các ngành từ

thấp đến cao và tính tỷ lệ phần trăm.
o

Tính chỉ số đa dạng ở cấp họ (số loài trung bình của một họ), cấp

chi (số loài trung bình của một chi).
o

Đánh giá đa dạng các họ, chi: thống kê 10 họ, 10 chi giàu loài

nhất, tiêu biểu cho hệ thực vật.
* Đánh giá sự đa dạng về dạng sống:
Dạng sống là một đặc trưng nói lên bản chất sinh thái của hệ thực vật
cũng như thảm thực vật của hệ sinh thái đó. Mỗi hệ sinh thái là do các loài
trong tương quan với các nhân tố sinh thái của nơi sống đó tạo nên. Nó được
thể hiện trên từng cá thể loài và các loài đó tập hợp nên những quần xã riêng
biệt phản ánh môi trường sống nơi đó. Cho đến nay, khi phân tích bản chất
sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của vùng nhiệt đới người ta
vẫn thường dùng hệ thống các dạng sống của Raunkiaer (1943) (ghi theo Thái
Văn Trừng, 1999).




Ep

Cây kí sinh, bán ký sinh sống lâu năm

Pp

Cây thân thảo sống lâu năm cao trên 25cm

Hp

Cây mọng nước sống lâu năm cao trên 25cm

Suc

Dây leo sống lâu năm, leo cao trên 25cm

Lp

Nhóm cây chồi sát đất

Ch

Gồm những cây có chồi cách mặt đất 0 – 25cm, mùa bất

Chamaephytes

lợi thường được lá khô che phủ
Nhóm cây chồi nửa ẩn


của hệ thực vật. Thống kê các loài có giá trị sử dụng từ bảng danh lục thực vật
thân gỗ Đền Hùng bằng các tư liệu chuyên ngành như: “Từ điển cây thuốc
Việt Nam”; “1900 loài cây có ích”; “Cây cỏ có ích Việt Nam”; “Danh lục các
loài thực vật Việt Nam”; “Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam”; “Cây cỏ Việt
Nam”; “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”; “ Lâm Sản Ngoài Gỗ Việt
Nam”; … Các tiêu chuẩn để đánh giá giá trị tài nguyên thực vật được trình
bày trong bảng 2.2 cụ thể như sau:
Bảng 2.2. Giá trị sử dụng các loài trong hệ thực vật thân gỗ
TT
1
2
3
4
5
7
8
9
10
11
12
13

Nhóm công dụng
Cho gỗ
Cho thuốc
Cho tinh dầu
Cho dầu béo
Cho tinh bột
6Cho rau ăn
Làm cảnh và bóng mát

* Nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu về các loài thực vật thân gỗ có giá trị
bảo tồn cao tại Rừng quốc gia Đền Hùng:
Kế thừa các tài liệu về thực vật của (Phạm Hoàng Hộ 1999, 2000; Lê
Mộng Chân, Lê Thị Huyên 2000; PROSEA; Hoàng Văn Sâm và cộng sự
2004, Thực vật rừng, Sách đỏ Việt Nam… các trang web như:
www.vfu.edu.vn, www.botany.vn, www.ipni.org, …) về các hạng mục: Đặc
điểm hình thái, đặc tính sinh học và sinh thái học, phân bố, tình trạng. Bên
cạnh đó chúng tôi kết hợp với những kết quả nghiên cứu thực địa điều tra tình
hình của các loài tại khu vực nghiên cứu để mô tả đặc điểm nhận biết, đặc
điểm sinh học, phân bố và giá trị của từng loài cây gỗ quý hiếm tại khu vực
nghiên cứu.


18

Chương 3
KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1.Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý, hành chính
Rừng quốc gia Đền Hùng thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt
Trì, tỉnh Phú Thọ.
Tọa độ địa lý là:
- Từ 210 24’ 08” đến 210 28’ 76” vĩ độ Bắc.
- Từ 1040 77’ 55” đến 1040 81’ 68” kinh độ Đông.
- Phía Đông giáp xã Kim Đức và xã Vân Phú (thành phố Việt Trì).
- Phía Tây giáp xã Tiên Kiên (huyện Lâm Thao).
- Phía Nam giáp xã Chu Hóa (thành phố Việt Trì) và thị trấn Hùng Sơn
(huyện Lâm Thao).
- Phía Bắc giáp xã Phù Ninh (huyện Phù Ninh).

Lật, Cao Phầy, …
- Độ dốc trên 250, có diện tích 83,2 ha. Gồm Trọc Lớn, đồi Phân
Đậu,…
3.1.2.2. Địa hình thung lũng
Dạng địa hình này có diện tích không lớn, thường được phân bố dọc
theo các thung lũng nhỏ hẹp ven theo tả ngạn sông Hồng và hữu ngạn sông
Lô. Độ cao tuyệt đối từ 26 - 32m. Đất ở đây khá tốt, thuận lợi cho việc trồng
lúa nước, các loại cây hoa màu và cây ăn quả.
3.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng
Rừng quốc gia Đền Hùng nằm trong vùng đồi gò đất giữa, đây là vùng
phù sa cổ được các quá trình vận động tạo sơn nâng lên, đất tốt, có tầng dày,
có lẫn đá cuội, sỏi. Lớp đất mỏng với các kiểu địa mạo đồi Gnai, đồi phù sa


20

cổ, các bậc thềm thung lũng lũ tích tương ứng với các kiểu địa hình (đồi thấp
là chủ yếu, sau đó đến gò và đồi trung bình) và thung lũng bồi tích. Điều đó
tạo nên những tiểu vùng đồi xen ruộng. Do cấu tạo địa mạo nên địa thế ở khu
vực Đền Hùng cơ bản là sườn dốc thoải. Vì vậy, sinh ra những kiểu mẫu chất,
sườn tích, phù sa cổ và phù sa mới. Có thể chia ra 03 loại đất chính:
3.1.3.1. Đất đồi gò (Feralit) phát triển trên đá biến chất Gnai
Đất có màu đỏ vàng phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá Gnai.
Màu đặc trưng này thay đổi phụ thuộc vào kiểu địa hình, lớp phủ thực bì và
tuổi khai thác sử dụng đất. Loại đất này có độ tơi xốp cao, một số diện tích có
hiện tượng kết von. Loại đất này phân bố hầu hết trên các đồi gò trong khu
vực. Tùy theo dạng địa hình, độ dày tầng đất và tầng trung khí hậu, loại đất
này được phân thành 17 dạng lập địa.
3.1.3.2. Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ
Loại đất này có màu nâu vàng, phát triển trên phù sa cổ. Quá trình kết

+ Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 3,50C.
- Số giờ nắng
+ Nắng và nóng nhiều nhất trong tháng 5 và tháng10.
+ Nắng ít nhất trong các tháng 1 và tháng 3.
+ Tổng số giờ nắng cả năm: 1.662 giờ.
- Bức xạ mặt trời
+ Tổng số bức xạ khi trời quang mây cao nhất: 25,1.Kcal/cm2/tháng
(tháng 6).
+ Tổng số bức xạ khi trời quang mây thấp nhất: 11,6.Kcal/cm2/tháng
(tháng 12).
+ Tổng lượng bức xạ thu nhập thực tế cao nhất: 13,9.Kcal/cm2/tháng
(tháng 6).


22

+ Tổng lượng bức xạ thu nhập thực tế thấp nhất: 0,0. Kcal/ cm2/tháng
(tháng 12).
- Mưa phùn
+ Số ngày mưa phùn cả năm: 26,7 ngày.
+ Số ngày mưa phùn nhiều nhất là tháng 3: 8,1 ngày.
- Mưa
+ Lượng mưa tập chung vào tháng 7 và tháng 8.
+ Số ngày mưa trung bình năm: 120,1 ngày.
+ Lượng mưa trung bình năm: 1.850mm.
+ Lượng mưa trung bình lớn nhất vào tháng 7: 382mm.
+ Lượng mưa trung bình nhỏ nhất vào tháng 12: 24,9mm.
- Độ ẩm
+ Độ ẩm tương đối trung bình năm: 84%.
+ Độ ẩm trung bình cao nhất: 87%.

+ Mực nước thấp nhất: 12,0m.
+ Lưu lượng nước lớn nhất: 8.180m3/s.
+ Lưu lượng nước thấp nhất: 178m3/s.
3.1.4.2.2. Hồ
Khu vực Rừng quốc gia Đền Hùng có hệ thống ao, hồ khá phong phú,
dễ kiến tạo. Đặc biệt có nhiều hồ vừa có tiềm năng thủy lợi, vừa có giá trị tạo
cảnh quan và điều hòa khí hậu như: hồ Gò Cong, hồ Lạc Long Quân, hồ Đập
Nhà Bìa, hồ Hoóc Trai, hồ Nhà Chùa, hồ Nhà Nhen,…
3.1.4.2.3. Nước ngầm
Theo tài liệu của Đoàn địa chất thủy văn 54 - Liên đoàn II đã thăm dò
và đánh giá khả năng cấp nước ngầm như sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status