i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Lâm học tại
trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, được sự nhất trí của Ban giám hiệu
nhà trường, khoa đào tạo Sau đại học, tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển LSNG tại xã Cao
Bồ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”.
Để hoàn thành luận văn này, tôi luôn nhận được sự động viên và giúp
đỡ nhiệt tình của Nhà trường, cơ quan, gia đình, các thầy cô giáo và bạn bè
đồng nghiệp.
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám
hiệu nhà trường, Khoa Sau đại học, Khoa Lâm học, Trung tâm thông tin khoa
học và thư viện, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh - Hà
Giang, UBND xã Cao Bồ, các hộ gia đình trên địa bàn xã. Đặc biệt cho tôi
gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Trần Hữu Viên, người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi hoàn thành bản Luận văn tốt nghiệp.
Do trong quá trình thực hiện luận văn còn có nhiều hạn chế về mặt thời
gian, kinh nghiệm, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học cùng bạn bè đồng nghiệp để
bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, Ngày 10 tháng 09 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Văn Diễn
ii
MỤC LỤC
iii
2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu........................................................... 19
2.4.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu ............................................ 20
2.4.3. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) ........................... 20
2.4.4. Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
(PRA)........................................................................................................ 20
2.4.5. Phương pháp ma trận tầm quan trọng và mức độ sử dụng ........... 21
2.4.6. Phương pháp đánh giá SWOT ......................................................... 22
2.4.7. Phương pháp xử lý số liệu................................................................ 22
CHƯƠNG 3.................................................................................................... 23
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ......................................... 23
3.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 23
3.1.1. Vị trí địa lý ......................................................................................... 23
3.1.2. Đặc điểm địa hình - địa mạo ............................................................ 23
3.1.3. Khí hậu, thủy văn.............................................................................. 24
3.1.4. Các nguồn tài nguyên ....................................................................... 25
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ....................................................................... 28
3.2.1. Hiện trạng dân số, lao động, việc làm, giáo dục đào tạo, công tác y
tế, xây dựng cơ sở hạ tầng. ..................................................................... 28
3.3. Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và các ngành kinh tế khác .. 31
3.3.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp...................................................... 31
3.3.2. Tình hình sản xuất lâm nghiệp ........................................................ 33
3.3.3. Tình hình sản xuất của các ngành kinh tế khác ............................ 34
CHƯƠNG 4.................................................................................................... 38
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................................... 38
4.1. Đánh giá hiện trạng và tiềm năng của LSNG tại xã Cao Bồ ............. 38
4.1.1. Đánh giá hiện trạng tài nguyên LSNG tại xã Cao Bồ .................... 38
4.1.2. Thực trạng quản lý nguồn tài nguyên LSNG ................................ 44
DANG MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CIFOR
Center for International Forestry Research
FAO
Tổ chức nông lương thế giới
GĐGR
Giao đất, giao rừng
HTX
Hợp tác xã
ICRAF
International Center for Research on Agroforestry
IDRC
International Development Research Center
ITTO
International Tropical Timber Organization
Uỷ ban nhân dân
VQG
Vườn quốc gia
XD
Xây dựng
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Tên biểu
TT
Trang
3.1
Tình hình sử dụng đất đai tại xã Cao Bồ năm 2010
25
3.2
Thống kê tình hình chăn nuôi của các thôn tại xã Cao Bồ
Giá cả một số loại LSNG chủ yếu
48
4.6
Số lượng loài cho LSNG ở các trạng thái rừng tại xã Cao Bồ
51
4.7
4.8
4.9
Tần xuất xuất hiện F% của các loài LSNG ưu thế ở trạng thái
rừng IIIa1, IIIa2
Tần xuất xuất hiện F% của các loài LSNG ưu thế ở trạng thái
rừng IIa, IIb
Tần xuất xuất hiện F% của các loài LSNG ưu thế ở trạng thái
rừng Ib, Ic
52
53
55
4.10 Một số loài cho LSNG được gây trồng tại xã Cao Bồ
57
4.11 Lịch thời vụ một số loại LSNG chủ yếu trên địa bàn xã Cao Bồ
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
TT
Trang
4.1
Hiện trạng LSNG theo ngành, họ, loài tại xã Cao Bồ
39
4.2
Dạng sống của LSNG tại xã Cao Bồ
41
4.3
Phân loại LSNG theo giá trị sử dụng
42
4.4
Thu nhập từ các loại LSNG chính theo nhóm kinh tế hộ
67
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Tên sơ đồ
TT
Trang
4.1
Chuỗi hành trình sản phẩm Thảo Quả
49
4.2
Chuỗi hành trình sản phẩm Măng Vầu
50
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Tên hình
TT
Trang
6
Hàng rào, vườn rau
61
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, có đường biên giới đất liền
khoảng 3700 km dọc theo các triền núi và châu thổ Mê Kông, có bờ biển dài
3260 km. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, cùng với đặc điểm địa hình đặc
trưng đã tạo ra một Việt Nam giàu tính đa dạng sinh vật. Hiện nay các nhà
thực vật học đã thống kê được trên 12.000 loài cây, trong đó 7.000 loài đã
được mô tả, 5.000 loài còn chưa được biết công dụng, phần lớn là các loài cây
dưới tán rừng không cho gỗ. Trong số những loài đã biết có 113 loài cây cho
chất thơm; 800 loài cho tannin; 93 loài chứa chất làm thuốc nhuộm; 458 loài
có tinh dầu; 473 loài chứa dầu và 1863 loài cây dược liệu. Việt Nam có
khoảng 10% tổng số những loài thực vật được biết trên Thế giới. Có những
loài động thực vật từ trước tới nay chưa được biết đến mới được phát hiện ở
Trường Sơn. Chỉ trong các năm 1992 - 1998 đã phát hiện thêm nhiều loài thú
mới ở Bắc Trường Sơn như: Mang lớn, Sao la, Mang Trường sơn, Bò sừng
xoắn Tây nguyên. Mới phát hiện thêm 50 loài cây thuốc quí như Amomum
longiligulara, Rauwolfia vomitoria, Tetrapanax papyrifera…Các nhà thực vật
học đã xác định khoảng 40 - 50% thực vật rừng Việt Nam có nguồn gốc Ấn
Độ, Malai, Indonesia, Trung hoa,... di cư đến [7].
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá, có giá trị to lớn trong
phòng hộ sinh thái, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng....Đồng thời rừng
còn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp gỗ và các lâm sản ngoài gỗ
được ổn định và bền vững?.
Xuất phát từ các vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu đề xuất một số giải pháp phát triển LSNG tại xã Cao Bồ, huyện Vị
Xuyên, tỉnh Hà Giang”.
3
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Lâm sản ngoài gỗ (LSNG)
Khái niệm LSNG đã được đưa ra bởi nhiều quan điểm khác nhau, tùy
từng giai đoạn mà việc vận dụng vào thực tế cũng khác nhau.
Trước năm 1945, ở Việt Nam lâm sản được phân chia thành hai loại đó
là: lâm sản chính và lâm sản phụ. Trong đó, lâm sản chính là những sản phẩm
gỗ, còn lâm sản phụ bao gồm động vật và thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ.
Từ năm 1961, lâm sản phụ được mang tên là đặc sản rừng, qua đó khái
niệm này cũng chỉ phản ánh được một bộ phận của tài nguyên rừng là những
sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt, các sản phẩm khác chưa được
chú trọng.
Debeer (1989) đã đưa ra khái niệm về LSNG: "Tất cả các vật liệu sinh
học khác gỗ mà chúng khai thác từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu tiêu
dùng của loài người. LSNG bao gồm: Thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu,
nhựa cây, keo dán, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang
dại (các sản phẩm và động vật sống), chất đốt và các nguyên liệu thô, song,
mây, tre, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi" [9].
Tổ chức chuyên gia tư vấn về LSNG châu Á Thái Bình Dương (IEC),
họp tại Băng Cốc - Thái Lan (5-8-1991) đã chấp nhận định nghĩa cho LSNG
có thể áp dụng cho hầu hết các nước trong khu vực sau: "LSNG bao hàm tất
nhiều mục tiêu được xác định rõ ràng của công tác quản lý trong vấn đề sản
xuất liên tục các lâm sản và dịch vụ rừng mà không làm giảm đi đáng kể
những giá trị vốn có và khả năng sản xuất sau này của rừng và không gây ra
những ảnh hưởng tiêu cực thái quá đến môi trường và xã hội" [6], [8].
- Tiến trình Helsinki: "QLBVR là sự quản lý rừng và đất rừng theo
cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả
5
năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong việc
thực hiện - hiện tại và tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội
của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu; và không gây ra những
tác hại đối với các hệ sinh thái khác" [6], [8].
Phần lớn các định nghĩa về QLRBV được xuất phát từ quan điểm sản
xuất hàng hóa hoặc phát triển ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên trong các cuộc
thảo luận ở qui mô quốc tế thường có sự nhất trí cao rằng: QLRBV là sự quản
lý (William E Mankin, 1998):
+ Duy trì được rừng và các chức năng, các quá trình và cấu trúc sinh
thái của chúng trong điều kiện lành mạnh và bền vững;
+ Không làm thoái hóa đất và chất lượng nguồn nước;
+ Không tạo ra hậu quả không thể đảo ngược hoặc giảm đa dạng sinh
học bao gồm nguồn gen, loài, các hệ sinh thái và các kiểu rừng;
+ Áp dụng cho tổng thể rừng như là một thực thể sinh thái tổng hợp
chứ không phải cho một thành phần hay một sản phẩm riêng biệt của rừng;
+ Có thể chủ động hoặc thụ động và không đòi hỏi nhất thiết phải khai
thác một sản phẩm cụ thể nào của rừng;
+ Có thể áp dụng cho mọi cấp, mọi mức độ khác nhau của diện tích
quản lý, tuy nhiên ở mỗi cấp độ khác nhau, cần phải xác định rõ ràng ranh
giới của đơn vị quản lý hoặc vùng quản lý;
nước Đông Nam Á. Cùng với 400 – 500 triệu người sống phụ thuộc vào các
sản phẩm tự nhiên, nhiều loại LSNG là sản phẩm không thể thiếu trong đời
sống cộng đồng dân cư trên thế giới.
Vai trò của LSNG được đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ
cung cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, dược phẩm, thủ công mỹ
nghệ đến giải quyết công ăn việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát
huy kiến thức bản địa, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân,
đặc biệt là dân nghèo (FAO, 1994; Sharma, 1995). Tầm quan trọng của LSNG
7
đối với các nước nhiệt đới đã được thừa nhận; rừng và LSNG là nguồn sống
chủ yếu của ít nhất 27 triệu người ở vùng Đông Nam Á (De Beer, 1996).
Nhận định về vai trò của LSNG đối với đời sống nông thôn miền núi đã được
nhiều nhà khoa học đề cập đến. Thực vật cho LSNG là một nhân tố quan
trọng góp phần giải quyết những mâu thuẫn xung đột trong quá trình phát
triển ở khu vực nông thôn miền núi (Chin, 1985; Yonon, 1993; DeCoursey,
1994; Sharma, 1995; De Beer, 1996).
Tổ chức FAO (1993) là một trong những cơ quan đầu tiên để thúc đẩy
phát triển và bảo tồn LSNG thông qua các chương trình, dự án. Trong 20 năm
qua, FAO đã lập ra được 137 tổ chức nghiên cứu về lâm nghiệp, trong đó có
23 tổ chức ưu tiên nghiên cứu về LSNG [10]. Một số cơ quan quốc tế như Cơ
quan Phát triển Quốc tế Canada (CIDA), Trung tâm Nghiên cứu Phát triển
Quốc tế (IDRC), Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR), Trung
tâm nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới
(IUCN) ...
LSNG đóng góp đáng kể đối với sinh kế của các cộng đồng phụ thuộc
vào rừng (Clendon năm 2001; Belcher và cộng sự năm 2005; Marshall và
cộng sự năm 2005; Ros-Tonen và Wiersum năm 2005; FAO 2006; Ahenkan
cộng đồng địa phương (Wollenberg và Ingles năm 1998; Neumann và Hirsch
năm 2000; Angelsen và Wunder 2003) [25].
Các dự án thương mại hóa các sản phẩm LSNG ở Mexico và Bolivia:
ảnh hưởng đến yếu tố thành công được CEPFOR tài trợ từ năm 2000 và 2005
để xác định theo những điều kiện thương mại LSNG có khả năng đóng góp
tích cực cho cả đời sống con người và bảo tồn rừng. CEPFOR chọn ra 10
LSNG để phân tích chi tiết của 18 cộng đồng dân cư phụ thuộc vào rừng ở
Mexico và Bolivia [25].
Balick và Mendelsohn (1992) cho rằng giá trị về y học trên một hecta
trong rừng thứ sinh ở Beliz cũng cao hơn giá trị thu được từ nông nghiệp.
9
Với đặc điểm của rừng tự nhiên nhiệt đới có thảm thực vật rất đa dạng
và phong phú, trong đó có nhiều loại LSNG có giá trị. Theo Peter có tới 72
loài thực vật sống trên một ô mẫu rộng 2 hecta mà chúng ta có thể là sản
phẩm hàng hóa.
Trên thế giới, tài nguyên LSNG rất phong phú và đa dạng, có đến
25.000 loài cây và không ít hơn các loài con, có ít nhất 30 triệu người sống
phụ thuộc vào tài nguyên này. Trong phạm vi quốc nội từng nước, LSNG có
vai trò quan trọng trong đời sống của người dân hàng triệu người ở các nước
đặc biệt là các nước Châu Á và Châu Phi khai thác nguồn thực phẩm từ rừng,
vật liệu làm nhà và thu nhập hàng ngày từ LSNG. Những sản phẩm LSNG
lưu thông trên thị trường có quy mô lớn, xuất khẩu thường là những sản phẩm
chế biến công nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp nhưng với công nghệ vi tinh
vi, tuy nhiên cũng có nhiều loại LSNG xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu mới
chỉ sơ chế để bảo quản như vỏ Quế, quả Hồi, Dược liệu…
Nhiều nguồn tài nguyên LSNG đã được thu hoạch một cách không bền
vững, kết quả là suy thoái tài nguyên rừng, người dân mất dần nguồn thu nhập
tổ chức tiêu biểu đã có những công trình quy mô về mô tả, thống kê và phân
loại thực vật cho LSNG: Mendelsohn (1992), Kamol Visuphaka (1987), Peter
và cộng sự (1989), Soepadmo (1983), Schwatzman (1989), Murty và
Subrahmanayan (1989), De Beer (1989, 1996), Caldecott (1988), Farnsworth
và Soejarto (1992), FAO (1984),…
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, hội nghị môi trường và
phát triển của Liên Hợp Quốc (YNCED), họp tại Rio de janero năm 1992, đã
thông qua chương trình nghị sự về các nguyên tắc về rừng, đã xác định LSNG
là một đối tượng quan trọng, một nguồn lợi môi trường cho phát triển lâm
nghiệp bền vững cần được chú trọng hơn nữa. Từ đó đến nay việc phát triển
LSNG được các nhà khoa học nghiên cứu, bàn luận sôi nổi trong các lĩnh vực
lý luận thực tiễn sản xuất.
11
Nghiên cứu của Mendelsoln (1992) cho rằng: LSNG vùng nhiệt đới có
vai trò quan trọng cho sự bảo tồn và duy trì tính bền vững của rừng và có giá
trị kinh tế. Căn cứ vào giá trị sử dụng của LSNG Mendelsoln đã phân thành
các nhóm: nhóm cho lương thực thực phẩm, nhóm keo dán và nhựa, thuốc
nhuộm và tanin, cây cho sợi và cây cho dược liệu.
Căn cứ vào thị trường tiêu thụ sản phẩm Mendelsoln phân thành 3
nhóm: Nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm dùng để
sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch.
Nghiên cứu của Peter (1989) chỉ ra rằng việc khai thác nhựa của rừng
nguyên sinh ở Peru đã cho kết quả là thu nhập cao hơn so với bất kỳ kiểu sử
dụng đất nào.
Trên toàn cầu, việc thương mại LSNG được ước tính là 11 tỷ USD
hàng năm (Ndoye và Ruiz Pérez năm 1998; Shiva và Verma năm 2002;
Marshall et al năm 2005; Ahenkan và Boon 2010). Theo Foster (1995), Mỹ
Những nghiên cứu và phân tích của Padoch (1998), Bele (1989) đã chỉ
ra rằng: Rừng nhiệt đới đóng vai trò quan trọng cho người dân địa phương.
Rừng không chỉ là nguồn thu lợi mà còn cung cấp các lương thực, vật liệu,
dược liệu. Myes (1980) ước lượng khoảng 60% tổng sản phẩm ngoài gỗ được
tiêu thụ bởi người dân địa phương. Đối với nền kinh tế của một số nước có
vài trò của LSNG đã được khẳng định. Chẳng hạn ở Thái Lan trong năm 1987
đã xuất khẩu đạt 23 triệu USD từ LSNG. Ở Indonesia cũng trong năm đó đạt
238 triệu USD và Malaysia năm 1986 xuất khẩu hàng hoá từ LSNG đạt xấp xỉ
11 triệu USD (theo Jene.H.Der Beer 1986).
Những nghiên cứu về khai thác cũng chỉ ra rằng, việc thu hoạch các
LSNG từ tự nhiên hoang dã và từ các loại hình canh tác khác còn nhiều bất cập,
đặc biệt là về phương diện dụng cụ và thiết bị, công nghệ, việc chuẩn bị trước
khai thác, xử lý sau thu hoạch và những đòi hỏi của chế biến trung gian. Do chưa
quan tâm đến công nghệ sau thu hoạch nên thường gây lãng phí cả về số lượng
13
và chất lượng trong quá trình thu hái và cất trữ sản phẩm (FAO, 1995).
Ở Sarawak, năm 1870, LSNG chiếm 7% thu nhập của chính phủ (John,
1870). Qua đó cho thấy tiềm năng của LSNG là rất lớn đối với sự phát triển
kinh tế và xã hội của các quốc gia trên thế giới. Sự đa dạng của LSNG trong
hệ sinh thái rừng nhiệt đới sẽ có vai trò rất lớn đến duy trì chất lượng môi
trường sống của rừng. Tuy nhiên về mặt xã hội thì LSNG bị đe dọa nhiều hơn
so với cây gỗ và chúng phụ thuộc vào sự đói nghèo (Parnwell, 1993; Taylor
và cộng sự, 1994; Parnwell và Taylor, 1995)
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc sử dụng LSNG đã gắn liền với sự tồn tại của cộng
đồng dân cư và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống từ lâu đời.
Khai thác và sử dụng LSNG đã góp phần giải quyết công ăn việc làm tăng thu
thác ở VQG Ba Vì vào năm 1997 – 1998 (Gilman, Nguyễn Văn Sản, 1999).
Ước tính gần 60% người dân tộc Dao ở Ba Vì khai thác nguồn tài nguyên
này, và nguồn thu nhập của họ từ dược liệu đứng thứ hai sau Lúa và Sắn. Do
sự khai thác quá mức của con người đối với tài nguyên rừng Ba Vì, cho nên
sự đa dạng và phong phú của các loài thú lớn và chim hiện nay rất thấp, một
số loài có thể đã bị tuyệt chủng tại đây [11].
Thông qua việc triển khai một số công trình nghiên cứu và phát triển
của LSNG các nhà khoa học đã phát hiện và xác định được danh mục các loài
LSNG trong đó: Có khoảng 40 loài tre nứa, 40 loài song mây, 60 loài có chứa
Tanin, 260 loài lấy tinh dầu và nhựa, 70 loài có chứa chất thơm và hàng trăm
loài cho lương thực, thực phẩm. Riêng đối với các loài cây dùng làm dược
liệu, theo tài liệu của viện dược liệu, ở Việt Nam đã phát hiện 1863 loài cây
thuốc quý thuộc 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp và 11 ngành thực vật. Con
số này ngày càng được bổ sung thêm (Trần Văn Kỳ 1995) [9].
Theo công trình "Vấn đề nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên sinh vật và
15
sinh thái ở núi SaPa'' các tác giả Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thủy và Phạm
Văn Thính (1995) đã đề cập đến nguồn tài nguyên thực vật cho LSNG theo
hướng phân loại theo hệ thống sinh thái và thống kê thực vật có giá trị làm
thuốc.
Việt Nam đã có thị trường truyền thống về LSNG (Nhật Bản, Trung
Quốc, Đài Loan, Mỹ....), xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ. Thị
trường Nhật Bản và Đài Loan chiếm thị phần cao và ổn định, thị trường Mỹ
mới có từ năm 2001 và là thị trường tiềm năng, những thị trường truyền thống
là Liên xô cũ và các nước XHCN Đông Âu cũ chưa được khôi phục. Giai
đoạn 2000 - 2005 tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không cao, bình quân 17 27%/năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu LSNG năm 2004 gần 200 triệu USD,
riêng hàng mây tre đan đạt 138 triệu USD, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu
LSNG được gây trồng có quy mô tập trung, khoanh nuôi tái sinh rừng tự
nhiên chủ yếu: Tre Nứa, Trúc 769.411ha (chiếm 47%); Song Mây 381.936ha
(22,4%); Thông ba lá 255.781ha (15,6%); Quế 80.991ha (4,9%); các loại
LSNG khác gây trồng với diện tích nhỏ và phân tán [5].
Về thực tiễn phát triển LSNG ở Việt Nam, từ năm 1998 Viện nghiên
cứu đã thực hiện một dự án lớn về LSNG với khoản kinh phí 1,7 triệu USD.
Tuy nhiên dự án đến nay mới chỉ tập trung vào phát hiện loài LSNG ở một số
khu bảo tồn tự nhiên: Ba Kể, Kẻ Gỗ… Ngoài ra dự án cũng đã xây dựng một
số mô hình sản xuất tăng thu nhập cho người dân từ LSNG như: Mô hình
Trúc Sào ở Ba Bể, mô hình phát triển cây thuốc ở Ba Vì, Kẻ Gỗ. Nhưng đây
mới chỉ là những mô hình thí nghiệm.
Theo “Đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006 - 2020” của
bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đến năm 2020, LSNG trở thành một
phân ngành sản xuất trong lâm nghiệp, đạt được một số chỉ tiêu: Giá trị sản
17
xuất LSNG chiếm trên 20% trong giá trị sản xuất lâm nghiệp; giá trị xuất
khẩu tăng bình quân 10 - 15%, đến năm 2020 đạt 700 - 800 triệu USD/năm
(bằng 30 - 40% giá trị xuất khẩu gỗ); thu hút 1,5 triệu lao động nông thôn
miền núi vào việc thu hái, sản xuất, kinh doanh LSNG; thu nhập từ LSNG
chiếm 15 - 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn miền núi. Bảo tồn các
loài LSNG có giá trị kinh tế và khoa học, hạn chế suy thoái tài nguyên. Nâng
cao năng lực, nhận thức của người dân và cộng đồng về bảo tồn và phát triển
LSNG.
Như vậy vì những lý do khác nhau mà cho đến nay vẫn chưa có mô
hình nào nghiên cứu một cách hệ thống và đồng bộ về LSNG ở Việt Nam.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu tập trung vào việc nghiên cứu vai
trò của LSNG, thị trường của LSNG, mô tả, thống kê tài nguyên LSNG.
Không đề cập đến động vật, các sản phẩm từ động vật, các sản phẩm gỗ, củi,
cành ngọn, gốc cây và các dịch vụ trong rừng.
- Về điều tra, đánh giá, ước lượng tài nguyên LSNG, chủ yếu là khảo
sát sự phong phú và sự phân bố của chúng; không đi sâu vào trữ lượng và
phẩm chất.
- Chỉ nghiên cứu LSNG tại xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.