Thực thi chính sách đối ngoại của mỹ đối với châu á thái bình dương dưới thời tổng thống b obama (2009 2014) - Pdf 44

MỤC LỤC
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN ...........................3
DANH MỤC BẢNG BIỂU.............................................................................................6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................................6
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................7
Chƣơng 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA MỸ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI............................................................11
1.1. Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh ...............................................................11
1.2. Tình hình nƣớc Mỹ .............................................................................................16
1.3. Tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng ..................................................24
Chƣơng 2 SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI
KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƢƠNG THỜI BARACK OBAMA TỪ 2009
ĐẾN NĂM 2014 ...........................................................................................................38
2.1. Nguyên nhân Mỹ điều chỉnh chính sách đối ngoại. ............................................38
2.1.1. Vị trí quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng ..........................38
2.1.2. Sự suy giảm vị trí của Mỹ ở khu vực Châu Á –Thái Bình Dƣơng ..............39
2.2. Mỹ gia tăng can dự vào khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng ............................41
2.2.1. Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng
dƣới thời Tổng thống G.W.Bush ............................................................................42
2.2.2. Chính sách xoay trục của Mỹ .......................................................................47
Chƣơng 3 TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á –
THÁI BÌNH DƢƠNG ...................................................................................................54
3.1. Tác động ..............................................................................................................54
3.1.1. Tác động về kinh tế ......................................................................................54
3.1.2. Tác động về chính trị ....................................................................................54
3.1.3. Tác động về quân sự .....................................................................................55
3.2. Những thách thức trong chính sách của Mỹ đối với khu vực Châu Á – Thái
Bình Dƣơng ................................................................................................................56
3.2.1 Đối với Mỹ ....................................................................................................56
1


kinh tế.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về các chính sách đối ngoại của Mỹ cũng là một điều
cần thiết, vì nó giúp cho các quốc gia có những đối sách phát triển cũng nhƣ là có
những chính sách quốc phòng phù hợp. Ngoài ra, Mỹ cũng là một đối tác quan trọng
của Việt Nam trong lĩnh vực kinh kế, quốc phòng. Chính vì vậy, tìm hiểu chính sách
“tái cân bằng quyền lực” của Mỹ là điều cần thiết. Do đó, tôi quyết định chọn “ Chính

3


sách của Mỹ đối với Châu Á-Thái Bình Dƣơng dƣới thời tổng thống B.Obama từ năm
2009 đến năm 2014” làm đề tài nghiên cứu của tôi.
2. Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Châu Á-Thái Bình
Dƣơng và sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Tổng thống B.Obama, đồng thời rút
ra những nhận xét về chính sách đối ngoại đó.
3. Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu
Thu thập, xử lí, sử dụng những tƣ liệu có độ tin cậy khoa họclàm sáng tỏ bối cảnh
của Châu Á –Thái Bình Dƣơng đầu thế kỉ XXI. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại
của Tổng thống B.Obama đối với khu vực này. Qua đó, đánh giá những tác động của
sự điều chỉnh chính sách ngoại giao mà Mỹ thực hiện đối với Châu Á-Thái Bình
Dƣơng
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng hai phƣơng pháp
nghiên cứu chính
Cơ sở phƣơng pháp luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về chính sách đối ngoại của Mỹ và vai trò của chính sách đối ngoại của
nhà nƣớc
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp lịch sử và so sánh lịch sử để xem xét, phân tích
nguyên nhân buộc Mỹ phải điều chỉnh những thay đổi chính sách đối ngoại đối với

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng

Trang

Bảng 1. Tỷ lệ thƣơng mại giữa Mỹ với các khu vực trên thế giới

26

Bảng 2. Thƣơng mại của Trung Quốc với thế giới giai đoạn 2001 -2013

29

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASB

Air –Sea Battle Concept

Khái niệm tác chiến không – hải

APEC

Asia – Pacific Economic

Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái

Cooperation

Bình Dƣơng

FDI

Foreign Direct Investment

Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

North Atlantic Treaty Organization

Tổ chức Hiệp ƣớc Bắc Đại Tây

NATO

Dƣơng
TPP

Trans – Pacific Partnership

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dƣơng

6


MỞ ĐẦU

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính sách của Mỹ đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dƣơng dƣới thời Tổng
thống B.Obama từ năm 2009 đến năm 2014 là một vấn đề thu hút rất nhiều sự quan
tâm của các nhà khoa học. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể
là:
Phạm Quang Minh (2014), Giáo trình Quan hệ quốc tế ở khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội) đã dành ra một chƣơng để làm rõ mối
quan hệ ngoại giao giữa Mĩ với khu vực Châu Á-Thái Bình Dƣơng ở các giai đoạn
trong chiến tranh lạnh, sau chiến tranh lạnh, sự biến đổi về chính sách ngoại giao của
Mỹ và những thách thức, triển vọng mà Mỹ phải đối mặt ở Khu vực này.
Tác giả Nguyễn Trƣờng (2013), Quan hệ quốc tế trong kỉ nguyên Châu Á - Thái
Bình Dương (Nxb Tri Thức) cũng đã một phần giúp ta nắm đƣợc tình hình nƣớc Mỹ
khi Tổng thống B.Obama lên nắm quyền và những chính sách thực tiễn mang tính
chiến lƣợc mà Mỹ áp dụng trong quan hệ ngoại giao với khu vực Châu Á - Thái Bình
Dƣơng.
Ngoài công trình nghiên cứu trên còn có, Nguyễn Trƣờng (2010), Thế giới thời hậu
chiến tranh lạnh (Nxb Tri Thức) cũng có những nghiên cứu về B.obama và thế kỉ của
Mỹ, những thách thức đang đón đợi chính quyền B.Obama
Nguyễn Thái Yên Hƣơng, Tạ Minh Tuấn, Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kì (Nxb
Giáo dục Việt Nam) đã tập hợp đƣợc một số bài viết của các tác giả khác nhau ban về
những chính sách đối ngoại của chính quyền B.Obama và những rào cản mà Mĩ gặp
phải khi thực hiện chính sách ngoại giao cởi mở.
Ngoài ra, cũng còn một số tác giả đã quan tâm và tìm hiểu vấn đề này, nhƣ tác giả
Nguyễn Hoàng Giáp với tác phẩm Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á hiện
nay (Nxb Chính trị quốc gia, năm 2013) đã cung cấp những tƣ liệu về vị trí, vai trò của
Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của những nƣớc lớn. Hay tác phẩm Quan hệ
Trung - Mỹ hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới gốc độ cân bằng quyền lực (Nxb
Chính trị quốc gia, năm 2011) đã bổ sung, đóng góp thêm một số tƣ liệu về tƣơng lai
của khu vực Châu Á-Thái Bình Dƣơng khi Mỹ thực hiện chính sách ngoại giao mới
đối với Trung Quốc.

Chí Minh về chính sách đối ngoại của Mĩ và vai trò của chính sách đối ngoại của nhà
nƣớc
9


Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp lịch sử và so sánh lịch sử để xem xét, phân tích
nguyên nhân buộc Mỹ phải điều chỉnh những thay đổi chính sách đối ngoại đối với
khu vực Châu Á-Thái Bình Dƣơng của Tổng thống B.Obama.
Về phƣơng pháp logic, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để phân tích những
chính sách đối ngoại của Tổng thống B.Obama đối với khu vực Châu Á -Thái Bình
Dƣơng trên các phƣơng diện chính trị-ngoại giao, kinh tế, quốc phòng-an ninh. Những
tác động của việc thay đổi này đối với sự phát triển của khu vực Châu Á - Thái Bình
Dƣơng. Từ đó rút ra bài học cho việc hợp tác trong quan hệ Việt - Mỹ hiện nay
Bên cạnh hai phƣơng pháp nghiên cứu trên. Chúng tôi còn sử dụng phối hợp nhiều
phƣơng pháp nghiên cứu khác nhƣ phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp phân tích,
tổng hợp để xử lý những số liệu kinh tế, những sự kiện lịch sử.

10


Chƣơng I
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
1.1. Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh
1.1.1. Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh
Năm 1991, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết sụp đổ làm cho trật tự hai
cực Ianta tan rã, mở ra thời kì mới cho lịch sử thế giới, chuyển từ hai cực đối đầu sang
“trật tự một siêu cƣờng – đa trung tâm” [10, tr.179]. Mỹ trở thành trung tâm quyền lực
của thế giới cả về chính trị lẫn kinh tế, dù chịu ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng năng
lƣợng và sự cạnh tranh mạnh mẽ của các nƣớc đang phát triển. Một điều kiện thuận lợi

nƣớc đều vì mục đích kinh tế mà tham gia vào các tổ chức tập hợp lực lƣợng của thế
giới. Các trung tâm quyền lực mới trên thế giới hình thành trên cơ sở tập trung sức
mạnh của các nƣớc về kinh tế - chính trị. Việc tăng cƣờng hình thành và hợp tác này
tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt, đây chính là tiền đề thúc đẩy sự hình thành của một thế
giới đa cực. Văn kiện đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhận định
“Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế
tiếp tục phát triển nhƣng các nƣớc lớn vẫn chi phối các quan hệ quốc tế” [9, tr.32].
Như vậy, sự thay đổi đầu tiên khi trật tự hai cực Ianta sụp đổ là sự thay đổi tương
quan lực lượng trên thế giới, những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của hình hình
chính trị và khuynh hướng hình thành một thế giới đa cực với nhiều trung tâm quyền
lực đang hình thành.
Thế giới bƣớc vào một cách mạng khoa học và kĩ thuật lần thứ ba. Khoa học kĩ
thuật và công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực lƣợng sản xuất của thế giới bƣớc vào một
giai đoạn chƣa từng có trong lịch sử. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ này đã làm
thay đổi rõ rệt đời sống của con ngƣời, đẩy nền kinh tế thế giới bƣớc lên một tầm cao
mới, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa và làm biến đổi các lĩnh vực của đời
sống xã hội theo những chiều sâu khác nhau. Nhƣng đa số, những thành tựu khoa học
kĩ thuật này tập trung ở các nƣớc lớn, tiềm lực kinh tế mạnh, lực lƣợng nghiên cứu
khoa học hùng hậu và hệ thống các công ty xuyên quốc gia nhiều. Các nƣớc đang phát
triển hay các nƣớc kém phát triển khó tiếp cận với các thành tựu khoa học kĩ thuật do
có sự hạn chế về nhiều mặt nhân lực, vật lực. Các quốc gia này có nguy cơ bị tuột hậu
và bị “hòa tan” trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ.
12


Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ ngày càng phát triển đã tạo ra
những bƣớc ngoặc lịch sử, đó chính là sự hình thành nền kinh tế tri thức. Ngày nay,
thông tin khoa học kĩ thuật và công nghệ là vô cùng cần thiết, nếu không đƣợc chú
trọng và quan tâm đầu tƣ đúng mức, các quốc gia sẽ bị đẩy lùi và rơi vào suy thoái,
không bắt kịp xu hƣớng chung của thế giới. Cuộc cách mạng này lôi cuốn mạnh mẽ và

phát triển mạnh mẽ, đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa. Bên cạnh đó nó còn có tác
động không nhỏ đến nền kinh tế - chính trị - xã hội và quan hệ quốc tế của mỗi quốc
gia
Một đặc điểm nổi bật của thế giới vào những năm đầu của thế kỉ XXI là các nước
lớn có tác động rất lớn trong việc phát triển thế giới. Mối quan hệ giữa các nước lớn
cũng ảnh hưởng và chi phối nhiều về vấn đề phát triển của thế giới. Trên thế giới có
trên dƣới 200 quốc gia dân tộc khác nhau, trong đó có một số cƣờng quốc có sự chi
phối mạnh mẽ đối với nền kinh tế, chính trị toàn thế giới, tiêu biểu là Mỹ. Mỹ có ƣu
thế vƣợt trội cả về kinh tế lẫn chính trị từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai. Trong
điều kiện khoa học công nghệ phát triển, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, vấn
đề chạy đua của các nƣớc ngày càng quyết liệt, các trung tâm tài chính và quyền lực
trên thế giới hình thành ngày càng nhiều đã rút ngắn đáng kể sự chênh lệch về thực lực
kinh tế giữa các nƣớc tƣ bản lớn, cũng nhƣ trong khu vực. Từ sau chiến tranh lạnh kết
thúc, hầu hết các nƣớc đều có sự điều chỉnh trong chiến lƣợc đối ngoại của mình để có
thể duy trì hoặc mở rộng ảnh hƣởng, tranh giành lợi ích trên nhiều lĩnh vực. Các nƣớc
lớn cũng tăng cƣờng hợp tác với nhau bằng các mối quan hệ đồng minh, đối tác chiến
lƣợc, đối tác xây dựng, đối thoại chiến lƣợc, đối thủ trực tiếp, đối thoại tiềm tàng [9, tr.
37]. Mức độ của các mối quan hệ cũng không dừng lại ở một cấp độ nào mà luôn có
sự thay đổi, chuyển hóa khó đoán. Các nƣớc lớn giữ mối quan hệ ngoại giao với nhau
theo cách tránh đối đầu trực diện để có thể vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau, ƣu tiên
cho mối quan hệ mang tính thỏa ƣớc hay hợp tác. Một điều đáng chú ý, hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều tránh đồi đầu một cách trực diện với Mỹ, nhƣng không có
nghĩa là không có sự cạnh tranh, chạy đua với Mỹ nhằm xây dựng một thế giới đa cực.
Song song với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học công nghệ là những vấn
đề mang tính toàn cầu mà nhân loại đang phải đối mặt. Những vấn đề cấp thiết mang
tính toàn cầu đe dọa tới sự tồn tại của con ngƣời là sự bành trƣớng của các thế lực
khủng bố và tội phạm quốc tế, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng và trái đất nóng dần lên, sự
bùng nổ dân số thế giới một cách mạnh mẽ, các vấn đề về sức khỏe, bệnh hiểm
14


coi trọng độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, đấu tranh chống sự áp đặt, can thiệp
15


của các nƣớc lớn. Các quốc gia, dân tộc đều điều chỉnh chính sách đối ngoại để có thể
giành vị trí thuận lợi và có thể tận dụng, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ,
vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài và những kinh nghiệm quản lý để xây dựng kinh tế - xã hội.
Đối với các nƣớc đang phát triển, do chƣa đủ điều kiện phát triển cũng nhƣ tiềm lực
kinh tế còn yếu, nên còn phụ thuộc nhiều vào các nƣớc phát triển để tranh thủ các điều
kiện thuận lợi và phát triển đất nƣớc, đây cũng là một thử thách to lớn đối với những
quốc gia này.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu sụp đổ là một tổn thất đối với phe
Xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Tuy nhiên, các Đảng cộng sản và giai cấp công nhân
trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì hòa bình, an ninh thế giới, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ. Dù thế lực tƣ bản chủ nghĩa trên thế giới ngày càng lớn mạnh và có ƣu
thế, nhƣng các Đảng cộng sản và giai cấp công nhân, lực lƣợng tiến bộ trên thế giới
vẫn kiên quyết đấu tranh vì mục tiêu hòa bình, dân chủ. Hệ thống xã hội chủ nghĩa
không chiếm ƣu thế nhƣng vẫn là một lực lƣợng quan trọng, vƣợt qua những thử thách
khắc nghiệt của quy luật lịch sử, dần đƣợc phục hồi và lãnh đạo phong trào của giai
cấp vô sản. Các cấp cầm quyền đã có những điều chỉnh quan trọng trong chiến lƣợc,
tìm kiếm cách thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, đổi mới phƣơng
thức tập hợp lực lƣợng, không ngừng nâng cao vị trí, vai trò của mình. Sự dần phục
hồi và phát triển lại của quốc tế cộng sản đã mở ra cơ hội cho phong trào cộng sản,
công nhân và phong trào cánh tả trên thế giới ở những năm đầu của thế kỷ XXI.
Một xu thế phát triển khác của thế giới chính là sự hợp tác và đấu tranh giữa các
nước khác nhau về thể chế chính trị để cùng tồn tại trong hòa bình, ổn định. Quy luật
tất yếu của quan hệ quốc tế là vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các quốc gia với nhau.
Đó là một nguyên tắc khách quan, là phƣơng pháp để giải quyết các vấn đề trong quan
hệ quốc tế hiện nay. Khi vấn đề hội nhập trở thành một vấn đề cấp thiết đối với các
quốc gia dân tộc thì rất cần một môi trƣờng hòa bình, ổn định và phát triển của mỗi

G.W.Bush đánh giá thấp khu vực rộng lớn và đầy tiềm năng này. Ngân sách quốc gia
ngày một thâm hụt, cán cân thƣơng mại mất cân bằng nghiêm trọng.
Tổng thống Obama phải tái cơ cấu lại tất cả, từ hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội
của một quốc gia từng là siêu cƣờng nhƣng giờ đang trên đà tuột dốc và chịu sự cạnh
tranh mạnh mẽ từ các nƣớc đang phát triển. Barack Obama lên nắm quyền trong điều
kiện hoàn toàn khác so với G.W.Bush, ông phải đôi mặt với nhiều thử thách cùng một

17


lúc, đối mặt với hậu quả của những chính sách tổng thống tiền nhiệm thực hiện trong
tám năm nắm quyền.
Trƣớc tiên là sự khủng hoảng về kinh tế tài chính. Trên tờ báo “The New Yourk
Times”, ra ngày 18/8/2008 đã đƣa tin: “Mỹ đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài
chính nghiêm trọng và bất ngờ, hơn bất cứ cuộc khủng hoảng nào trong đời sống của
thế hệ chúng ta…” [15, tr. 97]. Tháng 8/2008, cuộc khủng hoảng tài chính đã lan ra
toàn hệ thống, trƣớc tình thế cấp bách đó là, Henry M. Paulson đã đƣa ra một chƣơng
trình gọi là “Chƣơng trình cứu cấp các tài sản mất giá” (Troubled Asset Relief
Program – TARP) nhằm mục đích ổn định tài chính và thị trƣờng bất động sản, vực
dậy nền kinh tế đang suy thoái. Tuy nhiên, tất cả điều không mang lại kết quả nhƣ
mong muốn của giới cầm quyền Mỹ lúc bấy giờ.
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này là do sự quản lý tín dụng và rủi ro sai lầm
của toàn hệ thống tài chính. Dụng cụ phức tạp Credit Default Swaps – CDS [15, tr. 99]
(phiếu trao đổi tín dụng thiếu khả năng hoàn trái) đƣợc đƣa vào sử dụng nhằm mục
đích giúp các định chế tính dụng giảm đƣợc mức độ rủi ro khi đầu tƣ vào bất động sản
và không thu lại đƣợc.
Trong thực tiễn thì chính sách CDS không mang lại hiệu quả nhƣ mong muốn, nó
làm giảm sự chú ý của các nhà đầu tƣ đến định lƣợng những rủi ro, bất trắc có thể xảy
ra. Hơn nữa, hành động phân tán rủi ro này làm cho việc định tính của mọi định chế
khác vô cùng khó khăn bởi thiếu đi tính lành mạnh trong đánh giá thực tế.

cƣờng Mỹ. Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính không phải là mối lo duy nhất của
chính quyền Barack Obama. Sự khủng hoảng về chiến lƣợc ngoại giao với cuộc chiến
chống khủng bố toàn cầu mà G.W.Bush đã theo đuổi suốt gần tám năm tại nhiệm cũng
là thách thức đối với chính quyền mới. Cuộc chiến này đã tiêu hao rất nhiều kinh phí,
chịu sự chỉ trích mạnh mẽ của dƣ luận thế giới và hơn hết lúc này nó đã hoàn toàn mất
đi phƣơng hƣớng hoạt động. Cuộc chiến chống khủng bố chỉ là danh nghĩa mà chính
quyền của Tổng thống Bush dựng lên để che đậy tham vọng và âm mƣu của mình. Bởi
lợi ích mà cuộc chiến này mang lại cho các nhà thầu quốc phòng, cho các nhà vận
động hành lang, các viện nghiên cứu chiến lƣợc, các tƣớng lĩnh, sĩ quan có tham vọng
cao là rất lớn.
Sau hơn bảy năm tiến hành chiến tranh toàn cầu chống khủng bố, chính quyền của
G. W. Bush vẫn chƣa tìm đƣợc lấy một điểm dừng chân trong chiến trƣờng rộng lớn.
Cuộc chiến tranh mang tính chiến lƣợc mà G. W. Bush xem trọng và để lại cho ngƣời
19


kế nghiệm là cuộc chiến với Iraq. Đây là khu vực đƣợc xem nhƣ là một mặt trận chính
của chiến lƣợc chống khủng bố toàn cầu. Dù đã sắp rời Nhà Trắng, nhƣng Bush và
những ngƣời thân cận của mình còn rêu rao đợt tăng quân cuối cùng vào cuối năm
2007 đã mang lại thắng lợi cho Mỹ.
Một cuộc chiến khác, đó chính là cuộc chiến với Afghanistan. Cuộc chiến tranh mà
thời gian diễn ra đã tám năm nhƣng vẫn chƣa có dấu hiệu nào cho sự tạm dừng hoặc
chấm dứt. Các viên chức Mỹ đã không còn màn tới chiến trƣờng ở Afghanistan khi
tình hình ở Iraq ngày một lún lầy trầm trọng, chỉ đến khi khu vực này rơi vào tình
trạng báo động cả về chính trị lẫn quân sự, “Al - Qaeda vẫn kiên trì, Taliban ngày một
táo bạo” [15, tr.102] thì các quan chức của chính quyền G.W.
Bush mới quay lại chú ý. NATO lúc này cũng không còn đủ khả năng giúp Mỹ thay
đổi đƣợc tình hình và sự trợ giúp này có xảy ra chăng cũng chỉ trong suy nghĩ của giới
chức chính quyền Bush. Tổng thống Bush từng đƣa ra lập luận sẽ cải biến, bình định
và canh tân lại vùng lãnh thổ Afghanistan nhƣng cuối cùng kết quả chỉ biến vùng đất

nào hiệu quả đối với ngƣời Nga ở Georgia. Thực chất, lúc này tòa Bạch Ốc đã không
còn sức mạnh nhƣ trƣớc đây mà chỉ có thể giới hạn trong những lời chỉ trích hay phiền
trách.
Tình cảnh của những ngƣời lính viễn chinh Mỹ ở Trung Đông cũng không tốt đẹp
gì. Tình trạng mất quân bình ngày một trầm trọng trong khu vực, trong khi đó sức ảnh
hƣởng của Iraq ngày càng vƣợt mức kiểm soát của Mỹ.
Sự suy giảm về kinh tế và quân sự của Mỹ đã kéo theo sự hao mòn trong “quyền
lực mềm” của Mỹ. Tháng 8/2008, chính quyền của Tổng thống Bush đã phải đối mặt
với những làn sóng chỉ trích mạnh mẽ về vai trò của Mỹ trong vai trò định hƣớng cho
nền kinh tế toàn cầu. Sự thất bại rõ ràng, trong một địa hạt ngƣời dân Mỹ thƣờng rất tự
hào, đã bào mòn khả năng thuyết phục và xây đắp đồng minh trong những vùng khác,
nhƣ chống lại nạn tàn sát ở Dafur, tiễu trừ nạn cƣớp biển ở vịnh Aden hay chế ngự
những toan tính của Liên Bang Nga trong những sân sau mà họ thƣờng gọi là “near
abroad” [15, tr. 103].
Ngay từ bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, ngƣời dân của Mƣời ba bang thuộc địa đã
đƣa nhân quyền lên vị trí hàng đầu và nó đƣợc xem là bản tuyên ngôn tiến bộ nhất.
Tuy nhiên, vai trò về đạo đức và và vai trò lãnh đạo về nhân quyền lúc này của Mỹ đã
bị sụp đổ bởi những chính sách tra tấn, bí mật giam giữ và chuyên chở tù binh hệ
thống nhà tù trên khắp thế giới.
21


Một thử thách cũng liên quan đến sự sống còn của Mỹ là vấn đề năng lƣợng. Bởi
trong suốt thời gian cầm quyền chính quyền của Bush, chính sách năng lƣợng mà giới
cầm quyền thực hiện là một chính sách sai lầm hoàn toàn. Ông đã phớt lờ và giao toàn
quyền cho phó tổng thống Chenny về vấn đề năng lƣơng, tiến hành cuộc chiến tranh ở
Iraq để ngăn chặn sự tranh giành ảnh hƣởng của quốc gia này đối với Mỹ ở khu vực
vùng vịnh Ba Tƣ. Đây là một thử thách vô cùng lớn lao, bởi lúc này đây Mỹ đang phải
đƣơng đầu với một cuộc khủng hoảng năng lƣợng ngày một nghiêm trọng
Dân số đông (khoảng hơn 320 triệu ngƣời), nên Mỹ cần đến ¼ tổng số năng lƣợng

tƣợng hiệu ứng nhà kính, bảo vệ môi trƣờng.
Đó là những giá trị của hiện tại, còn theo Cơ Quan Năng Lƣợng Quốc Tế
(Unternational Enery Agency) thì giá dầu hỏa sẽ tăng nhanh vào những năm tới. Có
thể trƣớc năm 2030, giá mỗi thùng dầu hảo sẽ vƣợt ngƣỡng 200USD [15, tr106].
Nguyên nhân của sự tăng giá này là do số quốc gia sử dụng nguồn năng lƣợng dầu hỏa
ngày một tăng, bên cạnh đó là do các nguồn cung cấp dầu hỏa bấp bênh, không ổn
định.
Tình trạng thiếu thốn về nguồn nhiên liệu tất yếu sẽ dẫn tới sự cạnh tranh của những
nƣớc có nhu cầu. Nguy hiểm hơn là sự cạnh tranh đó có thể dẫn tới những cuộc chiến
tranh liên miên, vì năng lƣợng hay đúng hơn là vì trữ lƣợng dầu hỏa còn lại đều tồn tại
trong những khu vực bất ổn, nhiều biến động bất ngờ. Nếu mỗi quốc gia không có
những bƣớc phát triển hay những bƣớc di riêng cho mình thì một cuộc khủng hoảng
năng lƣợng xảy ra lần nữa là một điều khó tránh khỏi. Và lần khủng hoảng này có tính
chất chấn địa rất cao, nó đe dọa đến sự tồn vong của cả thế giới. Đây quả là thử thách
hàng đầu cho chính quyền mới - một chính quyền có - thể - làm (a can - do
administration) - theo lời tổng thống Obama [15, tr.106]
Sự tính toán của các chuyên viên năng lƣợng thì con ngƣời đã sử dụng hơn 50%
nguồn năng lƣợng dầu hỏa có đƣợc và đang dần tiến đến mức sử dụng tối đa. Các
chuyên gia cũng không tính toán đƣợc thời gian nguồn nhiên liệu này sẽ cạn kiệt là
vào khoảng thời gian nào. Có thể là trong khoảng 5 năm hay 7 năm hoặc có thể sẽ
nhanh hơn thế, do dân số thế giới ngày một tăng, nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều. Và
mức sản xuất đó cũng chỉ dừng lại ở mức thấp, từ 90 đến 95 triệu thùng mỗi ngày chứ
không đạt ngƣỡng 115 đến 125 triệu thùng trên ngày nhƣ dự báo của Bộ năng lƣợng
Mỹ [15, tr.106]

23


Sự sụt giảm không chỉ dừng lại ở đó mà còn tăng nhanh vào những năm sau. Bởi
các mỏ dầu hỏa hiện đang sản xuất đã đƣợc đƣa vào khai thác thừ lâu và trữ lƣợng đã

Khu vực

Xuất Khẩu
2000

Châu Phi

1,1

Nhập Khẩu
2010

2000

2010

1,8

3,7

1,8

Châu Á bao gồm Trung Quốc

22,0

23,5

23,5


1.3.2.1. Chiến lược phát triển của Trung Quốc những năm đầu thế kỉ XXI
Ngày 1/10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đƣợc thành lập, trải qua một thời
gian dài hơn 30 năm thực hiện các chính sách mở cửa và hội nhập, đầu thế kỉ XXI,
Trung Quốc trở thành một “siêu cƣờng đang trỗi dậy” [17, tr. 45]. Trung Quốc đã đƣa
ra hàng loạt các chính sách, chiến lƣợc phát triển, trong đó phải nhắc đến chiến lƣợc có
tên gọi “trỗi dậy hòa bình” hay chiến lƣợc “phát triển hòa bình”.
Chiến lƣợc này đƣợc nhắc đến rất nhiều trong các bài phát biểu của Trịnh Tất Kiên
trong năm 2002 với mong muốn xoa diệu những căng thẳng cũng nhƣ những quan
ngại mà các nƣớc phƣơng Tây và Mỹ về Trung Quốc [4, tr. 15]. Chiến lƣợc này của
Trung Quốc lấy toàn cầu hóa làm trọng tâm và nó có thành công hay không phụ thuộc
vào khả năng mở rộng thị trƣờng phát triển kinh tế và xây dựng các mối quan hệ ngoại
giao tốt đẹp với các nƣớc.
Năm 2005, Chủ tịch Trung Quốc - Hồ Cẩm Đào đã công bố chiến lƣợc “Con đƣờng
phát triển hòa bình của Trung Quốc” với năm điểm chính:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status