Bộ giáo dục và đào tạo
bộ nông nghiệp và ptnt
Tr-ờng đại học lâm nghiệp
Trần ngọc thành
Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ biến tính gỗ Trám
trắng (Canarium album Raeusch) làm ván sàn bằng
ph-ơng pháp nén ép
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Hà Tây 2006
Bộ giáo dục và đào tạo
bộ nông nghiệp và ptnt
Tr-ờng đại học lâm nghiệp
Trần ngọc thành
Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ biến tính gỗ
Trám trắng (Canarium album Raeusch) làm ván sàn
bằng ph-ơng pháp nén ép
Chuyên ngành: Kỹ thuật máy, thiết bị và công nghệ gỗ ,giấy
Mã số: 60.52.24
Lời cảm ơn
Đặt vấn đề
1
Ch-ơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
3
1.1. Lịch sử nghiên cứu
3
1.1.1. Trên thế giới
3
1.1.2. Trong n-ớc
6
1.2. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
7
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
9
1.4. Đối t-ợng nghiên cứu
2.4. Xử lý hoá dẻo gỗ
20
2.4.1. Các ph-ơng pháp hoá dẻo
20
2.4.2. Cơ chế hoá dẻo gỗ
21
2.4.3. Các yếu tố ảnh h-ởng đến chất l-ợng gỗ biến tính
33
2.4.4. ổn định kích th-ớc gỗ sau nén ép
35
2.5. Yêu cầu nguyên liệu sản xuất ván sàn
36
Ch-ơng 3. Nội dung và kết quả nghiên cứu
39
3.1. Quy trình thực nghiệm
46
3.4.2. ảnh h-ởng của nhiệt độ và tỉ suất nén đến độ bền ép dọc
48
3.4.3. ảnh h-ởng của nhiệt độ và tỉ suất nén đến modul đàn hồi uốn 49
tĩnh
3.4.4. ảnh h-ởng của nhiệt độ và tỉ suất nén đến độ cứng xung kích
50
3.4.5. ảnh h-ởng của nhiệt độ và tỉ suất nén đến độ bền ép ngang
52
3.5. Đánh giá tính chất gỗ Trám trắng làm ván sàn
53
3.5.1. Đặc điểm bề mặt gỗ
53
3.5.2. Tính chất của gỗ biến tính
54
3.5.3. Khả năng làm ván sàn của gỗ Trám trắng biến tính
công chế biến, chịu đ-ợc tác động của ngoại lực do đó gỗ đ-ợc sử dụng để sản
xuất ra các sản phẩm dùng trong nội thất, xây dựng, giao thông và một số lĩnh
vực khác. Tuy nhiên nhìn trên góc độ chế biến cơ học thì gỗ có một số nh-ợc
điểm nh-: tính dị h-ớng, khả năng co dãn cao dẫn tới gỗ bị cong vênh. Tính
chất của gỗ phụ thuộc không những vào loài cây, mà còn phụ thuộc vào tuổi
của cây. Do vậy nâng cao chất l-ợng ( tính chất cơ lý ) của gỗ rừng trồng để
nâng cao giá trị sử dụng và có thể thay thế các loại gỗ quý hiếm nhằm đáp
ứng đ-ợc nhu cầu của thực tiễn sản xuất là xu h-ớng chiến l-ợc của công
nghiệp chế biến gỗ ở n-ớc ta. Sản xuất gỗ biến tính bằng ph-ơng pháp nén ép
là một trong những xu h-ớng nâng cao tính chất cơ lý và sử dụng hiệu quả
các loại nguyên liệu gỗ rừng trồng.
Trong những năm qua, một số cây rừng trồng mọc nhanh đã tỏ ra -u thế
của mình về tốc độ sinh tr-ởng nh-ng nó lại có nhiều nh-ợc điểm lớn nhkhối l-ợng thể tích thấp dẫn đến tính chất cơ lý thấp và độ bền tự nhiên không
cao. Chính vì vậy việc nâng cao khối l-ợng thể tích gỗ rừng trồng có khối
l-ợng thể tích thấp có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn.
Trên thế giới, công nghệ biến tính gỗ đã đ-ợc nghiên cứu và ứng dụng
vào sản xuất khá lâu. Công nghệ biến tính gỗ theo nhiều xu h-ớng khác nhau
đã đ-ợc phát triển mạnh mẽ ở nhiều n-ớc trên thế giới và đã tạo ra nhiều loại
2
vật liệu mới có tính chất cơ lý và tính năng công nghệ cao và đ-ợc sử dụng
trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nh- trong sản xuất đồ mộc nội thất,
xây dựng, giao thông, chế tạo máy
Trong những năm gần đây, công nghệ biến tính gỗ các loại gỗ rừng
trồng ở n-ớc ta đã đ-ợc nghiên cứu và thu đ-ợc những kết quả ban đầu rất khả
quan ( trên một số loại gỗ rừng trồng: Keo, Bồ Đề), đặt nền móng cho các
nghiên cứu tiếp theo.
Trám trắng ( Canarium album Raeusch) là một trong những loài cây
Đây là ph-ơng pháp sử dụng đặc tính rỗng xốp của gỗ để dồn nén gỗ
làm cho gỗ có mật độ lớn hơn trong một đơn vị thể tích, tức là làm tăng khối
l-ợng thể tích của gỗ từ đó sẽ tăng đ-ợc độ cứng của vật liệu. Gỗ d-ới tác
dụng của ngoại lực bằng các ph-ơng pháp khác nhau sẽ có sự biến dạng nhất
định khi nén gỗ theo chiều ngang thớ ( theo h-ớng xuyên tâm và tiếp tuyến).
Ng-ời Đức đầu tiên đã sản xuất ra gỗ nén vào những năm 30 của thế kỷ
này. Trên thị tr-ờng đ-ợc tiêu thụ với th-ơng hiệu Lignostone, chủ yếu dùng
4
để sản xuất suốt thoi dệt và cán công cụ[7]. Nguyên lý tạo các sản phẩm gỗ
bằng ph-ơng pháp nén ép là gỗ đ-ợc hoá dẻo bằng xử lý nhiệt ẩm sau đó đ-ợc
nén ép trong khuôn ép kín ở áp lực và nhiệt độ cao.
GS. P. N. Xykhranxki, Tr-ờng Đại học Lâm nghiệp kỹ thuật Varonhez
là ng-ời đi đầu trong lĩnh vực này ở n-ớc Nga. Ông đã xây dựng đ-ợc cơ sở lý
thuyết, các thông số công nghệ và xác định đ-ợc nhiều tính chất của gỗ biến
tính. Tùy theo đặc điểm của các loại gỗ và mục đích sử dụng mà nén với các
tỷ suất nén khác nhau từ 20-62% và khối l-ợng thể tích đạt cao nhất là 1,460
g/cm3( ví dụ đối với gỗ Thông nén với tỷ suất nén 62%). Gỗ nguyên đ-ợc hoá
dẻo bằng hơi n-ớc với áp suất không lớn hơn 1 at, sau đó đ-ợc nén ép ở nhiệt
độ 110-1300C và sấy gỗ ở chế độ nhiệt độ thấp. Quá trình ép và sấy gỗ đ-ợc
tiến hành trong khuôn kín. Sản phẩm gỗ biến tính ph-ơng pháp Khukhrenxki
đ-ợc sản xuất ở nhiều cơ sở sản xuất và đ-ợc sử dụng trong lĩnh vực chế tạo
máy để thay thế các kim loại màu trong một số loại động cơ. Tuy nhiên, một
trong những nh-ợc điểm lớn của ph-ơng pháp này là tỷ suất đàn hồi trở lại là
rất cao, điều này đã hạn chế việc sử dụng sản phẩm chúng trong lĩnh vực các
sản phẩm mộc.[28]
Một số nhà khoa học của Học viện Kỹ thuật Lâm nghiệp Leningrat đã
tiến hành hoá dẻo gỗ ở nhiệt độ 160-1700C sau đó tiến hành nén ép ở áp lực
nhân của sự đàn hồi trở về trạng thái ban đầu và việc ngăn ngừa sự trở về trạng
thái ban đầu là một vấn đề cần đ-ợc nghiên cứu d-ới nhiều ph-ơng diện khác
nhau, nh-ng vấn đề đàn hồi trở về trạng thái ban đầu vẫn không thể khắc phục
hoàn toàn.
+ Biến tính hóa- nhiệt cơ
Gỗ đ-ợc tẩm hoá chất và nén ép trong một chế độ ép nhất định. Sản
phẩm gỗ nén có tỷ trọng t-ơng đối cao và tỷ suất đàn hồi trở lại thấp hơn so
với gỗ nén ép bằng ph-ơng pháp nhiệt cơ.
6
Tr-ờng ĐH công nghiệp rừng Varonhet đã tạo ra ph-ơng pháp biến tính
gỗ loại hoá cơ bằng hoá dẻo gỗ bởi Ure. Gỗ lá rộng có độ ẩm 10-15% tẩm ở
áp suất 0.5 MPa, đ-ợc làm nóng đến 950C, nén ở nhiệt độ cao ở 1700C sau đó
làm nguội đến 18-230C. Ph-ơng pháp này gọi là ph-ơng pháp Daxtam
[9;22;28].
Theo tác giả G. L Angendorf (1982) trong thời gian này đã tạo ra hàng
loạt ph-ơng pháp biến tính gỗ. Ví dụ: dung dịch của U-F có khối l-ợng phân
tử thấp sẽ đ-ợc tẩm vào gỗ d-ới áp lực nhất định. Sau đó nó đ-ợc trùng hợp ở
nhiệt độ từ 106-1100C trong môi tr-ờng dòng điện cao tần. Những loại gỗ biến
tính đó đ-ợc ứng dụng trong công nghệ chế tạo tàu thuyền [24].
Các loại gỗ biến tính theo ph-ơng pháp này có tính ổn định kích th-ớc
cao hơn so với ph-ơng pháp nhiệt cơ. Tuy nhiên, do sử dụng hoá chất để hoá
dẻo gỗ hoặc ngâm tẩm trong quá trình nén ép nên đã ảnh h-ởng không nhỏ
đến môi tr-ờng và sức khoẻ con ng-ời trong quá trình sử dụng và giá thành
sản phẩm cao.
1.1.2. Trong n-ớc
Vào những năm 1980 khi ngành dệt n-ớc ta còn dùng các ngành dệt có
thoi. Do thoi dệt nhập khẩu rất đắt dần dần chúng ta đã nghiên cứu và tạo ra
về biến tính gỗ Trám trắng làm đồ mộc, ván sàn.
1.2. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Ngành chế biến gỗ trong những năm qua đã có những đóng góp rất lớn
cho nền kinh tế quốc dân: đồ gỗ xuất khẩu của n-ớc ta liên tục tăng mạnh.
Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ cả n-ớc là 219 triệu USD, năm 2002,
con số này tăng rất nhanh đạt gần 500 triệu USD, năm 2005, kim ngạch xuất
khẩu sản phẩm gỗ tăng mạnh đạt 1,5 tỷ USD. Theo đánh giá của Bộ Th-ơng
mại, Hiệp hội gỗ và lâm sản, năm 2006 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ có
thể đạt ng-ỡng 2 tỷ USD.
Hiện nay, Việt Nam đ-ợc coi là quốc gia xuất khẩu sản phẩm gỗ đứng thứ
ba thế giới, sau Trung Quốc và Thái Lan. Gỗ Việt Nam đã xây dựng đ-ợc
8
những thị tr-ờng quen thuộc nh-: Châu Âu, Nhật, Mỹ và một số n-ớc Châu á
khác - đó là những khu vực tiêu thụ gỗ mạnh trên thế giới.
Tuy nhiên, cũng phải thấy một thực trạng là nguyên liêu gỗ nhập khẩu
từ các n-ớc trong khu vực, Châu Mỹ, Châu Phi đã chiếm 85 - 85%. Trong khi
đó, nguồn nguyên liệu n-ớc ta đã cạn kiệt hoặc ch-a đáp ứng đ-ợc yêu cầu về
sản xuất đồ mộc. Chính vì vậy, việc cung cấp đủ nguyên liệu cho nhu cầu phát
triển của ngành chế biến gỗ và lâm sản đang là một trong những vấn đề cấp
thiết hiện nay.
Tr-ớc tình hình đó Thủ t-ớng Chính phủ đã ra chỉ thị số 19/2004/ CT- TTg
ngày 01/06/2004 về một số giải pháp phát triển nghành chế biến gỗ và xuất
khẩu sản phẩm gỗ. Nâng cao chất l-ợng gỗ rừng trồng để thay thế nguồn
nguyên liệu từ gỗ tự nhiên cho sản xuất đồ mộc trong n-ớc và xuất khẩu đã
đ-ợc nhà n-ớc ta khẳng định là nhiệm vụ chiến l-ợc của ngành chế biến lâm
sản ở n-ớc ta trong những năm tới.
Để giải quyết vấn đề này có hai h-ớng, đó là: Phát triển nhanh diện tích
- Nghiên cứu ảnh h-ởng của tỷ suất nén, nhiệt độ ép đến tính chất vật lý của
gỗ.
- Nghiên cứu ảnh h-ởng của tỷ suất nén, nhiệt độ ép đến đến tính chất cơ học
chủ yếu của gỗ: độ bền uốn tĩnh, độ bền ép dọc, độ bền ép ngang, độ cứng
xung kích, modul đàn hồi uốn tĩnh.
- Nghiên cứu xác định tính chất của gỗ Trám trắng biến tính cho mục đích sử
dụng làm ván sàn.
1.6. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Ph-ơng pháp kế thừa:
Công nghệ nén ép gỗ là loại hình công nghệ đã phát triển mạnh mẽ ở
nhiều n-ớc trên thế giới, tuy nhiên ở n-ớc ta vấn còn khá mới mẻ nh-ng đã có
những kết quả ban đầu nghiên cứu về lĩnh vực này. Do vậy luận văn đã kế
thừa tài liệu nghiên cứu ở trong và ngoài n-ớc có liên quan đến lĩnh vực
nghiên cứu.
Ph-ơng pháp thực nghiệm
- Ph-ơng pháp nén ép gỗ: Nguyên lý chung để tạo gỗ nén ép là gỗ phải đ-ợc
hoá dẻo và tiến hành nén ép ở điều kiện nhiệt độ, thời gian, áp suất nhất định.
10
Qua tham khảo tài liệu nghiên cứu ở ngoài n-ớc đề tài lựa chọn ph-ơng pháp
nén ép gỗ bằng gia nhiệt trực tiếp gỗ để hoá dẻo và nén ép gỗ theo nhiều cấp.
- Bố trí thực nghiệm
+ Lựa chọn yếu tố công nghệ đầu vào.
Trong công nghệ nén ép gỗ bằng ph-ơng pháp nhiệt cơ có nhiều yếu
tố ảnh h-ởng đến chất l-ợng gỗ nén: loại gỗ, tỷ suất nén, độ ẩm gỗ, nhiệt độ
và thời gian xử lý hoá dẻo, áp lực ép, chiều h-ớng nén ép gỗ.
Với mục đích tạo thử nghiệm gỗ biến tính làm ván sàn bằng ph-ơng
pháp nén ép, trong điều kiện của luận văn tốt nghiệp hạn chế về thời gian và
MPa
MPa
,g/cm3
%
1
140
40
-
1
1
2
2
2
3
3
3
140
140
150
150
150
160
160
160
-
-
-
-
-
-
11
- Yếu tố đầu ra
+ Tính chất vật lý: Khối l-ợng thể tích của gỗ, Độ đàn hồi trở lại
+ Tính chất cơ học: Độ bền ép dọc, độ bền ép ngang, độ bền uốn tĩnh,
Mô đun đàn hồi uốn tĩnh, độ cứng xung kích.
- Yếu tố cố định:
Do điều kiện của đề tài nên các thông số sau đ-ợc cố định: độ ẩm gỗ, thời
gian nén ép, h-ớng ép, chiều dày của gỗ tr-ớc khi nén ép .
- Gỗ sau khi nén ép có xu h-ớng đàn hồi trở lại kích th-ớc và hình dạng
ban đầu, để hạn chế hiện t-ợng này, đề tài lựa chọn giải pháp xử lý gỗ ở nhiệt
độ T=1700C với thời gian là 120 ph.
- Mẫu thực nghiệm.
Đề đánh giá ảnh h-ởng của tỷ xuất nén đến tính chất của gỗ biến tính làm ván
sàn, luận văn đã lựa chọn các mẫu thí nghiệm có kích th-ớc ban đầu:
( Chiều dài x chiều rộng x chiều dày ) 300 x90 x 30 mm
a02 a01
100,%
a01
- Tính chất cơ học:
Độ bền uốn tĩnh, mô đun đàn hồi uốn tĩnh: OCT 9625-61.
Độ bền ép dọc, Độ bền ép ngang: OCT 9625-61.
- Ph-ơng pháp xử lý thống kê: Các số liệu đ-ợc xử lý thống kê bằng các
ph-ơng pháp thống kê trên máy vi tính phần mềm Excel.
1.7. ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể mở ra xu h-ớng mới trong việc sử
dụng và nâng cao chất l-ợng gỗ Trám trắng (canarium album) và các loại gỗ
khác theo xu h-ớng biến tính gỗ bằng ph-ơng pháp nhiệt cơ .
13
Ch-ơng 2
Cơ sở lý luận
2.1. Đặc điểm chung về gỗ
Gỗ là vật liệu rỗng, xốp, mao dẫn đ-ợc cấu tạo từ các tế bào xếp dọc (mạch
gỗ, sợi gỗ, tế bào mô mềm, quản bào, ống dẫn nhựa) và xếp ngang thân cây
(tia gỗ, ống dẫn nhựa). Trong mỗi vòng năm, ở phần gỗ muộn có tế bào vách
dày, ở phần gỗ sớm có các tế bào vách mỏng.
Vách tế bào đ-ợc tạo nên bởi thành phần chính là cellulose và các chất
nền - matrix (lignin và hemicellulose). [13;18]
Hình 2.1. cấu trúc vách tế bào
Vách tế bào đ-ợc cấu tạo bởi 3 chất cơ bản :
0H
CH20H
OH
H
H H
0
0
0
CH20H
0
0
H
0H
H
H
0H
H
H
H
H
0H
15
ở mỗi mắt xích của phân tử cellulose có ba nhóm hydroxyl (- OH) ở vị
trí 2, 3, 6 (trong đó có một nhóm bậc nhất và hai nhóm bậc hai).Trong quá
trình tạo thành các dẫn xuất của cellulose, khả năng phản ứng của các nhóm
chức hydroxyl đóng vai trò quan trọng.
+ Sự tạo thành các hợp chất cộng
Nguyên nhân của các phản ứng tạo thành các hợp chất cộng là: trong
thời gian gỗ tr-ơng nở, các liên kết hydro giữa các phân tử cellulose ở cạnh
nhau bị đứt và tại những liên kết đó, các phân tử của tác nhân bị đẩy, gỗ có
cấu tạo xốp nên các chất tác nhân có thể phân tán tự do và có điều kiện tác
động lên nhóm hydroxyl (- OH) của phân tử cellulose.
Các kiểu hợp chất cộng của cellulose có thể chia thành bốn nhóm cơ bản là
alkali cellulose (cellulose kiềm), cellulose acid, amino cellulose và cellulose
muối.
+ Quá trình tr-ơng nở của cellulose
Cellulose là chất cao phân tử có cực, nh- vậy dung môi gây tr-ơng nở
hay hoà tan cellulose cũng phải là dung môi có cực. Thực chất quá trình
tr-ơng cellulose là quá trình tác nhân gây tr-ơng xâm nhập vào, bứt phá các
liên kết cầu hydro giữa các phân tử cellulose cạnh nhau, khi đó làm cho
khoảng cách các cellulose tăng lên, dẫn đến liên kết của chúng (liên kết
vandecvan) yếu đi, các phân tử cellulose dễ bị xê dịch và trở nên lỏng lẻo hơn,
17
Trong hemicellulose có một tỷ lệ khá lớn acid uronic, đó là acid của các
loại đ-ờng có công thức CHO(CHOH)COOH. Khi thủy phân, các nhóm
cacboxyl của acid bị phân giải thành CO2.
Hemicellulose chứa các nhóm acetyl và metoxyl, các nhóm này cũng bị
phân giải khi thủy phân. Nh- vậy, quá trình thủy phân hemicellulose dẫn tới
sự phân giải các hợp tử của hemicellulose để tạo ra các sản phẩm trung gian
của polysaccharides, các chất này không tan trong n-ớc, làm cho khả năng hút
n-ớc và tr-ơng nở của gỗ giảm đi.
Ta thấy, tất cả các thành phần hoá học này đều có nhóm hydroxyl
(-OH). Nhóm chức này đóng vai trò quan trọng trong việc t-ơng tác giữa gỗ
và n-ớc. Sự co dãn của gỗ là do sự thay đổi ẩm của gỗ mà gây nên, nó phát
sinh ở d-ới điểm bão hoà thớ gỗ mà nguyên nhân của nó là những ion tự do
OH- trong khu vực phi kết tinh của cellulose hấp phụ thành phần n-ớc trong
không khí đồng thời hình thành cầu nối với phân tử n-ớc. Phân tử n-ớc thấm
vào làm cho khoảng cách giữa các phân tử trong thành phần gỗ tăng lên; gỗ
thể hiện trạng thái giãn, nở dẫn đến kích th-ớc không ổn định. Ngoài ra
hemicelulose, lignin và các thành phần khác cũng có thể hút n-ớc.
Hemicellulose hút n-ớc rất mạnh, tiếp đó là lignin, cuối cùng là cellulose.
Độ bền của các thành phần cấu tạo nên gỗ không giống nhau. Vách tế
bào dày có độ bền cao hơn các loại tế bào vách mỏng. Ví dụ độ bền của quản
bào gỗ muộn có thể lớn hơn quản bào gỗ sớm từ 3 - 4 lần, điều này có thể giải
thích bằng sự khác nhau về chiều dày của vách tế bào.
Sự khác nhau về mật độ của các thành phần cấu tạo nên gỗ xác định
bằng sự khác nhau về độ bền của phần gỗ sớm và gỗ muộn. Giữa khối l-ợng
thể tích và độ bền tồn tại mối liên quan chặt chẽ:
= a +b
- Độ bền của gỗ; a, b hệ số không đổi; - KLTT của gỗ
nhanh. [3;6]
19
2.3. Nguyên lý nén ép gỗ
Gỗ là vật liệu dị h-ớng cao có cấu tạo và tính chất không đồng nhất
theo 3 chiều, do vậy tiến hành nén ép gỗ phải tuân thủ một số nguyên lý sau:
1- Vì để nâng cao độ bền và tính chất cơ học của tất cả các loại gỗ, d-ới
tiền đề không làm phá huỷ vách tế bào của gỗ mà có thể dùng ph-ơng pháp
nén ép làm tăng khối l-ợng thể tích của gỗ.
Tính chất vật lý và hoá học chủ yếu của gỗ không hoàn toàn đ-ợc quyết
định bởi loài cây. Ví dụ nh- mật độ của gỗ vào khoảng 1.46 g/cm 3, dù cho
mức độ phức tạp cấu tạo giải phẫu của gỗ nh- thế nào mật độ của gỗ với độ
bền cơ học của nó tồn tại một t-ơng quan nhất định Newlin, Ja và Wilfel đã
chỉ ra quan hệ d-ới đây. [9;28]
a.r n b
Trong đó:
: Giá trị độ bền của gỗ
a, b: Hằng số thí nghiệm
n: Độ nghiêng của đ-ờng cong Parabol bậc n
r: Khối l-ợng thể tích
Do đó khi l-ợng thể tích của gỗ đ-ợc tăng lên thì độ bền của gỗ tăng lên r.n
lần.
2- H-ớng nén ép phải đ-ợc tiến hành vuông góc với chiều thớ gỗ, với
tất cả các loại gỗ lá kim cũng nh- lá rộng đều phải nén ép theo h-ớng xuyên
tâm, duy chỉ với gỗ cây lá rộng mà mạch phân tán thì vừa có thể nén ép theo
trung vào các mục đích sau: tạo hình các sản phẩm mộc; trong việc nén ép gỗ
tạo nên các sản phẩm có độ bền cao, siêu bền, ép thành sản phẩm có hình
dạng nhất định, gỗ dẻo hoá vĩnh cửu; hoá dẻo gỗ tạo nên những vật liệu có
dạng plastic.
2.4.1. Các ph-ơng pháp hoá dẻo
Trong xử lý hoá dẻo gỗ ng-ời ta th-ờng dùng hai ph-ơng pháp cơ bản sau:
+ Ph-ơng pháp vật lý: gia nhiệt bằng cách hơ lửa; luộc, hấp hỗ, gia
nhiệt bằng cao tần, gia nhiệt bằng vi sóng, gia nhiệt bằng ph-ơng pháp tích
nhiệt (tiếp xúc).