ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ TRƯỢT LỞ ĐẤT HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG - Pdf 44

Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐÁNH GIÁ
NGUY CƠ TRƯỢT LỞ ĐẤT HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Các công trình nghiên cứu đánh giá nguy cơ trượt lở đất trên thế giới
Từ thủa xa xưa trải qua các thời kì khác nhau, trong đời sống sinh hoạt
của con người trên trái đất luôn luôn phải đối mặt với các tai họa do các quá
trình dịch chuyển đất đá trên sườn dốc gây ra. Nguy cơ TLĐ đã và đang là mối
nguy hiểm hàng đầu trong tất cả các loại tai biến địa chất xảy ra hàng năm trên
thế giới cả về diện phân bố, số lượng, quy mô và mức độ ảnh hưởng.Tuy nhiên,
công tác nghiên cứu hiện tượng dịch chuyển trọng lực đất đá thực sự chỉ được
triển khai trong các thếkỷ XV - XVIII, bắt đầu phát triển sâu và rộng hơn vào thế
kỷ XIX và đạt tới đỉnh cao trong thế kỷ XX cho đến nay. Tuy chưa có thống kê
đầy đủ nhưng các công trình nghiên cứu về hiện tượng dịch chuyển trọng lực đất
đã được công bố khắp nơi trên thếgiới.
Đầu tiên,TLĐđược nghiên cứu bắt đầu với sự mô tả của Endlich (1876) về
vụ trượt lở ở Slumgullion, một trong những vụ trượt lở nổi tiếng nhất nước Mĩ.
Theo đó, trượt lở đất ở Slumgullion khá phức tạp bao gồm khối trượt hoạt động
hiện tại di chuyển trên vết trượt cổ. Tiếp theo Endlich, đã có nhiều nhà khoa học
Mĩ, Anh, Italia, Pháp... quan tâm đến trượt lở đất đá. Những nghiên cứu mang
tính định hướng, có ảnh hưởng lớn, phát triển từ nửa sau thế kỉ XX.
Từ thập niên 90 của thế kỉ XX, tai biến TLĐ đã xảy ra nhiều nơi trên thế
giới với tần suất và mức độ ngày càng lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng kể cả người
và tài sản. Vì thế năm 1989, Liên Hợp Quốc công bố thập niên 1990 – 2000 là
thập niên quốc tế giảm thiểu tai biến thiên nhiên. Thực tế đòi hỏi công tác nghiên
cứu điều tra về TLĐ được tiến hành thường xuyên hơn, rộng khắp hơn với sự
1

1


2

2


nghiên cứu về tai biến TLĐ ở các nước trên đã đạt được những thành tựu to lớn,
thực sự đã làm giảm nhẹ và phòng tránh tai biến có hiệu quả. Các công trình
không những nghiên cứu và đánh giá một cách tổng quan mà còn phục vụ cho
từng đối tượng cụ thể: như các điểm tập trung dân cư, các khu công trình công
nghiệp, các tuyến đường giao thông, các hồ đập thủy điện, hoặc các khu kinh tế.
Việc nghiên cứu đánh giá tai biến TLĐ đối với các nước trên thế giới không chỉ
dừng lại ở khía cạnh cụ thể của một đối tượng mà họ đã tiến tới việc nghiên cứu
tổng hợp và thực hiện các các giải pháp đồng bộ, thực sự đã giảm thiểu đáng kể
các sự cố do tai biến TLĐ gây ra. Đứng đầu trong những nghiên cứu này là các
nước như: Mỹ, Nga, Nhật Bản và Trung Quốc.
Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới, trong đó có Nga, Mỹ, Nhật Bản,
Nepan đã đi sâu đánh giá đối tượng chịu thiệt hại do TLĐ gây ra. Đó chính là
đánh giá nguy cơ về mức độ thiệt hại KT-XH cho những khu vực có nguy cơ chịu
tai biến địa chất. Đó chính là đánh giá mức độ nguy hại, độ rủi ro (Risk) do tai
biến địa chất gây nên . Cơ sở của đánh giá rủi ro là tính toán từ các vùng nguy cơ
tai biến TLĐ với mức độ thiệt hại về KT-XH (có thể tính bằng tiền) tại vùng đó.
Trên cơ sở đó, các nhà quản lý quy hoạch mới hoạch định chính sách phát triển
kinh tế cho vùng, cho địa phương mình để tránh được những rủi ro không đáng có,
phát triển bền vững KT-XH và bảo vệ môi trường.
1.1.2. Nghiên cứu nguy cơ trượt lở đất ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu TLĐ đã được tiến hành từ những năm 70, 80 của
thế kỷ trước. Trung bìnhhàng năm, nước ta phải gánh chịu nhiều thiệt hại do tai
biến TLĐ gây ra. Bước vào Thế kỷ XXI chắc chắn những thiệt hại đó sẽ tiếp
diễn, gây hậu quả xấu đến đời sống KT-XH ở nước ta, nếu chúng ta không có
những đầu tư nghiên cứu phòng tránh giảm nhẹ thiên tai. Chính vì vậy, trong

đáng kể, đã thành lập các bản đồ phân bố và phân loại TLĐ với quy mô và khía
cạnh khác nhau ở một số vùng lãnh thổ trên phạm vi cả nước. Một số công trình
đã đánh giá cụ thể tác động của TLĐ đến các trình xây dựng, giao thông vận tải,
các cụm dân cư, khu kinh tế. Thành tựu khoa học đáng lưu tâm, đó là các công
trình đã khoanh được những vùng có nguy cơ tiềm ẩn xảy ra tai biến ở tỷ lệ trung
bình và nhỏ; đồng thời đưa ra những giải pháp phòng chống trước mắt phục vụ sự
4

4


phát triển bền vững KT-XH ở nước ta dưới góc độ vùng kinh tế. Phần lớn các
công trình còn dừng lại ở mức độ khái quát, những khía cạnh khác nhau trong
phạm vi và quy mô nhỏ đến trung bình. Do vậy, những kết quả đó mới chỉ mang
tính định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo phục vụ cho quy hoạch sử dung tài
nguyên lãnh thổ. Do vậy, việc nghiên cứu khoanh vùng và đưa ra các phương án
phòng chống có hiệu quả cho các khu vực cụ thể ở từng địa phương còn rất hạn
chế. Trong khi đó, do yêu cầu của thực tiễn hiện nay, trên quan điểm của địa chất
học hiện đại, tai biến TLĐ phải được nghiên cứu một cách toàn diện hơn, tổng
hợp hơn và đề xuất những giải pháp cụ thể hơn để phòng, chống TLĐ có hiệu quả
hơn.
1.1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà
Giang.
Tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang các nghiên cứu về TBTN và ảnh
hưởng của chúng đến quá trình phát triển KT- XH hầu như chưa được thực hiện.
Tuy nhiên, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến hướng này đối với
cấp không gian bao trùm như cấp tỉnh Hà Giang, công viên địa chất toàn cầu cao
nguyên đá Đồng Văn, ví dụ như:
-Đề tài KC.08.01 “Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân vùng tai biến môi trường tự
nhiên lãnh thổ Việt Nam “ (2006) do GS.TS. Nguyễn Trọng Yêm là chủ nhiệm là

hại trong mùa mưa bão hàng năm. Công tác đánh giá và phân vùng nguy cơ
TLĐ, xác định cụ thể các khu vực có nguy cơ cao đến rất cao sẽ được thực hiện ở
các bước sau trên cơ sở kết quả điều tra hiện trạng. Từ đó mới có thể có các kết
luận cụ thể hơn về công tác di rời, sắp xếp dân cư.
- Báo cáo tổng hợp: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tai biến tự nhiên điển
hình đến phát triển KT-XH trên công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng
Văn, Hà Giang” do PGS. TS Mai Trọng Thông làm chủ nhiệm đề tài với mục tiêu
tổng quát đánh giá được ảnh hưởng của tai biến tự nhiên đến phát triển KT-XH
vùng công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang. Không
gian nghiên cứu gồm 4 huyện thuộc vùng lõi: Đồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc,
Yên Minh và một phần thuộc vùng đệm của 2 huyện Bắc Mê và Vị Xuyên. Các
nội dung nghiên cứu chính là đánh giá hiện trạng chung các tai biến thiên nhiên
trong đó có TLĐ trên địa bàn nghiên cứu, ảnh hưởng của các tai biến đến phát
6

6


triển KT-XH nói chung và một số ngành, lĩnh vực KT- XH chủ đạo trên công viên
địa chất cao nguyên đá Đồng Văn, đề xuất các giải pháp ứng phó với tai biến
thiên nhiên nhằm đảm bảo phát triển bền vững của KT-XH và tạo lập sinh kế bền
vững cho người dân trên khu vực nghiên cứu.
Những nghiên cứu về huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về những lĩnh vực
khác có thể kể đến;
+ Về công tác quản lý đất đai có đề tài: “ Đánh giá công tác bồi thường giải
phóng mặt bằng của một số dự án trên địa bàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”
của tác giả Lâm Thành Dân – Luận văn Thạc sĩ của trường Đại học Nông Lâm,
Thái Nguyên. Đề tài với mục tiêu tổng quát đánh giá công tác bồi thường giải
phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên
địa bàn huyện Đồng Văn, Hà Giang, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá

ngữ này được sử dụng để chỉ sự chuyển động của đất, đá trên mặt hay gần mặt
xuống phía dưới sườn dốc.Bề mặt trượt có thể là các bề mặt khe nứt hoặc các lớp
đất đá có tính chất cơ lý yếu như đất sét thấm nước.Hiện tượng TLĐ thường xuất
hiện một cách tự nhiên trong các vùng núi vào thời kì mưa nhiều năm.Các hoạt
động như mở đường, khai thác khoáng sản đang làm xuất hiện tác nhân trượt lở
nhân tạo.TLĐ có thể xảy ra với quy mô lớn và gây thiệt hại nặng.
Trong các công trình nghiên cứu của các tác giả có nhiều quan điểm khác
nhau về tai biến trượt lở đất.TLĐ trong văn liệu địa chất môi trường, hiểu theo
nghĩa hẹp là một dạng chuyển động nhanh theo sườn dốc của đất hoặc đá ít nhiều
có kết dính. Ngoài ra nó cũng thường được sử dụng như một chuyên từ tổng hợp
cho bất kỳ một dạng chuyển động nào dọc theo sườn dốc của vật liệu đất đá
(Edward A.Keller, 1992).
Trong văn liệu tiếng Nga, không có một chuyên từ chung để chỉ các quá trình
sườn và các hiện tượng địa chất liên quan như chuyên từ “Landslide” trong tiếng Anh
và “Trượt lở” trong tiếng Việt. Những quá trình này được phân định một cách rạch
ròi: đổ lở, sập lở, trượt lở, trượt dòng và lở tuyết (E.M.Xergeev, 1978).
Về bản chất, trượt lở được coi như một quá trình di chuyển xuôi dốc của
vật liệu đất đá. Quá trình này được bắt đầu khi thế cân bằng động của sườn dốc,
địa hình bị phá vỡ. Tiếp theo xảy ra các quá trình chuyển động đất đá với việc
8

8


hình thành các khối trượt có những dạng hình thái và cấu trúc đặc trưng. Khi
nguyên nhân phá vỡ thế cân bằng của sườn dốc và địa hình được loại bỏ hoàn
toàn, khối trượt qua giai đoạn phát triển sẽ bước vào giai đoạn ổn định mới. Nguy
cơ trượt lở sẽ lại xảy ra đối với chính khối trượt hoặc trong bản thân khối trượt
khi thế cân bằng của sườn dốc và khối trượt lại bị phá vỡ. Rõ ràng quá trình trượt
lở cần được xem xét toàn diện từ dạng chuyển động (cơ chế), cấu trúc mặt trượt,

Trên thế giới, các nghiên cứu đã chỉ ra những nguyên nhân chính và trực
tiếp gây TLĐ là: Mưa (69,9%), tiếp đó là xói mòn đất (13,9%), hoạt động nhân
sinh (7,3%), ảnh hưởng của động đất (3%), hoạt động của nước ngầm (1,7%)và
các nguyên nhân khác là (4%). Ở Việt Nam chưa có các nghiên cứu định lượng về
vấn đề này nhưng đánh giá định tính cũng cho thấy nguyên nhân chính gây TLĐ
là mưa lớn (cường độ mưa/ ngày), động đất, sự dịch chuyển dọc các đới đứt và
hoạt động nhân sinh (tăng góc dốc sườn, cắt chân dốc sườn, chất tải lên bề mặt
sườn, chặt phá rừng...) tiếp đó là sự thuận lợi của địa hình (độ dốc và mức độ chia
cắt địa hình lớn) cũng như các thành tạo địa chất (vỏ phong hoá dày ngấm nước,
sự trương nở của sét khi ngấm nước, các đá phân lớp như: đá phiến, đá sét...)
Khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá nguyên nhân gây TLĐ, các nhà nghiên
cứu thường gộp các yếu tố gây trượt lở thành từng nhóm theo nguồn gốc phát
sinh của chúng. Trong điều kiện Việt Nam, các yếu tố gây trượt lở có thể phân
thành 4 nhóm chính sau đây:
- Nhóm các yếu tố địa lý- địa mạo: độ cao, hình dạng địa hình và độ phân
cắt địa hình; độ dốc sườn, các dạng sườn và quá trình sườn; độ che phủ rừng.
- Nhóm các yếu tố địa chất: thành phần và mức độ phong hoá đá gốc; thành
phần và độ dày của vỏ phong hoá; thế nằm của đá, tính chất cơ lý của lớp đất phủ;
các yếu tố kiến tạo khu vực nghiên cứu...
- Nhóm các yếu tố khí tượng- thuỷ văn: chế độ mưa hàng năm, sự phân bố
lượng mưa theo diện tích, cường độ mưa; chế độ thuỷ văn khu vực...
- Yếu tố con người thể hiện qua các hoạt động nhiều mặt của con người:
xây dựng dân dụng, cầu cống, đường xá, các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi lớn,
hoạt động khai khoáng, chế độ canh tác, trình độ sử dụng đất, nạn phá rừng, v.v..
Thực tế nghiên cứu cho thấy, không phải bất kỳ một sự cố trượt lở nào cũng
đều do đầy đủ các nguyên nhân nêu trên gây nên. Phần lớn các các vụ trượt lở xảy ra
chỉ do một số nguyên nhân trong đó có các nguyên nhân đóng vai trò chủ yếu, có
các nguyên nhân mang vai trò thứ yếu. Việc phân định chính xác các nguyên nhân
10


chất theo mức độ phong hoá và nguy cơ lở đá, bản đồ đứt gãy kiến tạo và vùng
ảnh hưởng của đới đứt gãy, bản đồ địa mạo, bản đồ lượng mưa trung bình năm,
bản đồ mật độ sông suối và bản đồ độ che phủ rừng. Hoạt động của con người là
yếu tố có thể kiểm soát trong những chừng mực nhất định mang tính động và có
11

11


độ linh động cao, ở bản đồ tỷ lệ nhỏ chưa thể đưa lên như một dạng bản đồ thành
phần.
1.2.2.2. Đặc điểm của quá trình trượt lở đất
Trượt lở đất xảy ra khi sự ổn định của độ dốc thay đổi từ trạng thái ổn định
sang trạng thái không ổn định. Sự thay đổi độ ổn định của độ dốc gây ra bởi nhiều
nguyên nhân khác nhau như: hoạt động của nước ngầm; sự suy giảm hoặc mất
cấu trúc thẳng đứng của thực vật, thành phần dinh dưỡng của đất, cấu trúc đất; sự
xói mòn vào chân dốc của sông hoặc sóng biển; các trận động đất tác động lên sự
ổn định của sườn dốc; sự suy yếu của độ dốc do sự bão hoà nước của tuyết tan,
các dòng sông băng hoặc do những trận mưa lớn; hoạt động phun trào của núi
lửa,… và các nguyên nhân nhân sinh như việc phá rừng, trồng trọt và xây dựng
các công trình, làm mất sự ổn định vốn đã mong manh của sườn dốc .Khi lực gây
trượt lớn hơn lực kháng trượt. Lực gây trượt là lực được gây ra bởi các yếu tố tác
động đến quá trình TLĐ, nó làm phá vỡ lực liên kết giữa các khối đất đá, làm suy
yếu lực kháng trượt trong bản thân các khối này cùng với các vùng đất đá liền kề.
Khi lực gây trượt càng được gia tăng thì đến một lúc nào đó nó thắng lực kháng
trượt và gây ra hiện tượng TLĐ.
Quá trình TLĐ xảy ra một cách đột ngột, khó nhận biết, thường có sự kết
hợp với các yếu tố khác như động đất, núi lửa, mưa bão,…
Về phân loại kiểu trượt có 2 hướng chính:
- Về phân loại theo dạng chuyển động: trượt lở đất được chia thành các

đá
Ít khối tảng

Đá sụp

Sụp mảnh vụn

Quay

Trượt

Sụp đất

Nhiều khối
Tịnh

tảng

Trượt khối
đá

Trượt đá

Dòng
chảy
Hỗn
hợp

vụn



-Theo cơ chế trượt và hình thái mặt trượt, có thể phân ra thành 5 kiểu trượt lở
chính -(Bảng 1.2) (Theo tác giả Trần Tân Văn).

13

13


Bảng 1.2. Phân loại các kiểu trượt lở theo cơ chế và hình thái mặt trượt
TT

Kiểu trượt

Đặc điểm trượt
Chủ yếu xảy ra nơi có vỏ phong hoá dày, mức độ phong
hoá mạnh, tính chất cơ lý tương đối yếu và đồng nhất.

1

Đặc trưng bở vách trượt chính và mặt trượt hình cung,

Trượt xoay

không định trước mà chỉ định hình tại thời điểm trượt
dưới tác động của một tập hợp nhất định các nhân tố gây
trượt.
Xảy ra trong môi trường đá cứng có các bề mặt, hay các

2


Về quy mô TLĐ: dựa vào số liệu quan trắc, đo đạc ở Việt Nam, các tác giả
Trần Trọng Huệ và nnk đã phân loại TLĐ theo quy mô như sau (Bảng 1.2).
Bảng 1.3. Phân loại trượt lở đất theo quy mô (Theo tác giả Trần Trọng Huệ)

TT

Thể tích (m3)

Quy mô trượt lở

1

Nhỏ

< 200

2

Vừa

201 - 1.000

3

Lớn

1.001 - 100.000

4

khu vực nghiên cứu, nơi dữ liệu đã được tạo ra sẵn để ước lượng tầm quan trọng
tương đối của mỗi bằng chứng bằng phương pháp thống kê” (Hongmei Wang,
Guoray Cai, Qiuming Cheng, 2002). Mô hình này cung cấp một phương pháp
định lượng cho việc tổng hợp nhiều nguồn chứng cứ, tránh sự lựa chọn chủ quan
của chứng cứ và sự phán đoán chủ quan của trọng số bằng chứng.
Trong nghiên cứu tai biến trượt lở đất, mô hình trọng số bằng chứng được
sử dụng khá phổ biến. Theo John Mathew (John Mathew, V. K. Jha và G. S.
Rawat, 2007) trong nghiên cứu tai biến trượt lở đất, phương pháp trọng số bằng
chứng về cơ bản là cách tiếp cận xác suất có điều kiện (công thức Bayes) trong
một hình thức logragit tuyến tính. Phương pháp này thể hiện ở việc sử dụng xác
suất tiền nghiệm (Prior Probabilities) của một sự kiện trượt lở đất xảy ra trước đó
để tìm ra xác suất hậu nghiệm (Posterior Probabilities) dựa trên sự đóng góp
tương đối của các chủ đề bằng chứng, những thứ tác động trong việc tạo ra sự
mất ổn định của sườn dốc. Các yếu tố được sử dụng để làm trọng số trong nghiên
15

15


cứu trượt lở đất như địa chất, cấu trúc địa hình, độ dốc, hướng dốc, sử dụng đất,
độ che phủ đất, khả năng thoát nước và khoảng cách đến đường giao thông.
Trước hết cần phải tính xác suất tiền nghiệm, theo tác giả, xác xuất tiền
nghiệm được tính bằng cách lấy số lượng các pixel ở khu vực trượt lở chia cho
tổng số các pixel có trên bản đồ. Cách tính này được thể hiện bằng công thức sau:

Trong đó
PPrior = P{S}: Xác suất tiền nghiệm của một trượt lở đất S
Npix(Slide): Số pixel của một khu vực trượt lở trên bản đồ
Npix (Total): Tổng số pixel trên bản đồ
Tính xác suất hậu nghiệm: Xác suất hậu nghiệm là mối quan hệ giữa một

trong xảy ra trượt lở đất.Khi W i- là dương thì yếu tố vắng mặt là thuận lợi cho
việc xảy ra trượt lở đất và ngược lại là không thuận lợi. Trọng số với những giá trị
mở rộng chỉ ra yếu tố thuận lợi cho việc thành lập bản đồ nhạy cảm trượt lở đất,
khi những yếu tố khác với những trọng số bằng 0 thì không có giá trị quan hệ với
việc xảy ra trượt lở đất.
Ngoài ra, việc xác định giá trị tương phản Cw để phản ánh sự kết hợp không
gian giữa các yếu tố bằng chứng và sự xuất hiện của một sự cố trượt cũng được
tính toán trong mô hình này và đó là một giá trị không thể thiếu để thành lập bản
đồ.Nếu giá trị tương phản mang giá trị dương thì sự kết hợp không gian đó có tác
động tích cực, còn ngược lại nó sẽ mang giá trị tiêu cực. Giá trị tương phản được
tính theo công thức sau:
C w = W + - W-

(1.5)

Bên cạnh đó, yếu tố về độ lệch chuẩn S(Cw) của giá trị tương phản cũng
được tính toán để xác định độ tin cậy của phân phối xác suất của trượt lở đất. Độ
tương phản sẽ khác 0 với độ tin cậy là 95% nếu như |C w/S(Cw)| lớn hơn 1,96. Nếu
giá trị |Cw/S(Cw)| càng cao thì độ tin cậy của việc đánh giá mối quan hệ giữa các
lớp tham số với sự cố trượt sẽ càng cao. Độ lệch chuẩn S(C w) và các thành phần
của nó được tính theo các công thức sau:
17

17


(1.6)
Trong đó:
S(Cw): độ lệch chuẩn của giá trị tương phản
S(W+): Độ lệch chuẩn của giá trị trọng số dương

Trong đó sự lựa chọn các điểm giới hạn (breakpoints) 1.5, 1.25, 1.0, 0.5, 0.0 là
chủ quan, đòi hỏi sự đánh giá và giải thích các giới hạn của các định nghĩa lớp.
Bảng 1.4. Cách xác định chỉ số lớp ổn định
Điều kiện

Lớp

Trạng thái dự báo

SI > 1.5

1

Khu vực ổn định

1.5> SI > 1.25

2

Khu vực ổn định tương đối

1.25> SI > 1.0

3

Khu vực có nguy cơ trượt lở thấp

1.0 > SI > 0.5

4


Hệ số dẫn nước

r

= 0,5

R/T

Được xác định bằng giới hạn của bề mặt bão hòa nước

Tham số a và θ đo đạc từ địa hình. Tham số C và R/T cho phép giá trị
khoảng của thông qua xác định ngưỡng trên và dưới. Nghĩa là R/T = x và tanφ =
t, được phân phối đồng bộ với ngưỡng trên và dưới như sau:
C~U(C1,C2)

x ~U(x1,x2)

t ~U(t1,t2)

(1.10)

Giá trị nhỏ nhất của C và t, (ví dụ C 1 và t1) cùng với giá trị lớn nhất của x
(ví dụ x2) chỉ ra kịch bản xấu nhất của các thông số. Các khu vực trong trường
hợp trên có giá trị FS của mô hình này lớn hơn 1, chỉ số độ ổn định SI được xác
định theo công thức:
19

19


khoảng 85%
Trên thực tế có nhiều phương pháp khác nhau song tất cả đều hướng tới
một mô hình quan niệm với những yêu cầu :
- Lập bản đồ các điểm TLĐ
- Thành lập bản đồ các nhân tố tác động đến TLĐ: địa mạo, địa chất...
- Đáng giá mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới TLĐ
20

20


- Phân loại mức độ tai biến
Ngoài ra, việc sử dụng công nghệ viễn thám và GIS trong nghiên cứu tai
biến trượt lở đất cũng khác nhau. Có nhiều tác giả sử dụng ảnh viễn thám để xác
định vị trí của khu vực trượt lở, các hình ảnh trước và sau của trượt lở kết hợp với
chỉ số thực vật (NDVI) và với mô hình trọng số của công nghệ GIS để xác định
khu vực trượt lở. Hay kết hợp các yếu tố trên với quan điểm của các nhà địa chất
và công tác khảo sát thực địa để xác định cơ chế hình thành của TLĐ
Sử dụng tư liệu viễn thám đa thời gian và sự kết hợp các ảnh viễn thám
khác nhau bằng các công cụ chuyên dụng cũng là một hướng nghiên cứu đánh giá
nguy cơ trượt lở đất có hiệu quả. Tư liệu viễn thám đa thời gian cung cấp cho các
nhà nghiên cứu các dữ liệu để xây dựng các giai đoạn trong nghiên cứu trượt lở
đất. Bằng cách này các nhà nghiên cứu đã đưa ra ba giai đoạn trong việc xác định
nguy cơ TLĐ, đó là (1) giai đoạn phát hiện và nhận dạng đối tượng (2) giai đoạn
giám sát và phân tích không gian (3) giai đoạn dự báo tai biến TLĐ
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về TLĐ bằng công nghệ viễn
thám và GIS đã được công bố (cơ quan USGS của Hoa Kỳ). Các công trình này
sử dụng các ảnh vệ tinh cũng như các công nghệ khác nhau để thành lập bản đồ
dự báo nguy cơ trượt lở đất như việc sử dụng ảnh vệ tinh LIDAR Imagery trong
nghiên cứu trượt lở ở vùng Kitsap - Washington, vùng Seattle - Washington, mô

hiện được sự tác động tổng hợp của các nhân tố tới quá trình trượt đất. Trần
Thanh Hà (2009) sử dụng phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn (Multi Criteria
Evaluation - MCE) để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. Phương pháp
này tương đối phức tạp, mất nhiều thời gian và cần nhiều kiến thức chuyên gia.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu dựa trên việc khảo sát
thực địa và đánh giá mối quan hệ giữa cấu trúc địa chất – địa hình liên quan đến
quá trình TLĐ. Việc ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS kết hợp với mô hình
lý thuyết trong nghiên cứu tai biến TLĐ ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang còn rất
hạn chế. Trong khi đó, trên thế giới, việc ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS
kết hợp với các mô hình lý thuyết trong nghiên cứu tai biến trượt lở đất là rất phổ
biến. Do vậy, việc thực hiện đề tài này cũng phần đóng góp cho việc ứng dụng
các công nghệ hiện đại vào nghiên cứu tai biến thiên nhiên nói chung và tai biến
trượt lở đất ở địa bàn các huyện nói riêng.
Chương 2
22

22


TRƯỢT LỞ ĐẤT HUYỆN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ GIANG
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
2.1.1. Vị trí địa lý
Đồng Văn là một huyện vùng cao biên giới của tỉnh Hà Giang, và là điểm
cực Bắc của Tổ quốc, trung tâm huyện cách thành phố Hà Giang - trung tâm của
tỉnh khoảng 150 km về phía Bắc. Vị trí địa lý của huyện nằm trong tọa độ từ
22055' đến 22023' vĩ độ Bắc và từ 105 013' đến 105042' kinh độ Đông, với các vị trí
tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc và Tây Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa;
- Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Mèo Vạc;
- Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Yên Minh;

magma, trầm tích, trầm tích, cho đến biến chất yếu với tuổi thành tạo dao động từ
cổ đến trẻ.Các đá trầm tích carbonat có tuổi là cổ nhất (300 – 500 triệu năm), tiếp
đến là các đá magma xâm nhập và cuối cùng là các thành tạo trầm tích không gắn
kết có tuổi 10 – 5 triệu năm.[18]
Từ lâu, các nhà địa chất người Pháp đã đến khu vực huyệnĐồng Văn
nghiên cứu về cổ sinh, địa tầng và cấutrúc địa chất. G.Zenin (1907) là người
đầu tiên phát hiện ra các cấu trúc địa chất vòng cung Đông Bắc Bắc Bộ, tiếp theo
là J.Deparat (1916) với các công trình địa chất về vùng thượng du Bắc Bộ và Hà
Giang. Trong thời kỳ 1941-1952, J. Fomaget và E. Saurin đã xây dựng bản đồ
địa chất Đông Dương. Một số yếu tố cấu trúc địa chất của lãnh thổ được xác lập,
trong đó Hà Giang thuộc yếutố thượng Bắc Bộ. Sau năm 1954, các nhà địa chất
Việt Nam dưới sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô E.A. Dovjikov (1959-1965)
đã điều tra, khảo sát xây dựng bản đồ địa chất miền bắc Việt Nam và xếp khu
vực huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang vào đới cấu tạo sông Hiến thuộc miền
chuẩn uốn nếp Đông Việt Nam. Đới sông Hiến là miền võng sâu với các lớp trầm
tích có bề dày. Có thể gặp ở đây các đá trầm tích tuổi Cambri muộn, Devon
trung, Cacbon - Pecmi, Triat và các trầm tích Đệ tứ. Ngoài sự có mặt cácđá có
tuổi từ cổ đến trẻ, trong vùng còn gặp các hệ thống uốn nếp, đứt gãy làm cho cấu
trúc địa chất ở đây vốn đã đa dạng càng trở lên phức tạp. Các đứt gãy, uốn nếp
này làm cho các đá bị vò nhàu, đảo lộn và bị chia cắt mạnhmẽ. Về địa tầng, có
thể liệt kê như sau:
25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status