Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả can thiệp cải thiện khẩu phần ăn cho trẻ em dưới 5 tuổi vùng ven biển tiền hải thái bình - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TÊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y Dược THÁI BÌNH
•A* *2# «ĩ# «ỉ# «1# *2# «2# «2# > «!# «2» »2*
rp #1»

^

#1»

*ĩ> «ĩ«

#Ị^ #f« #Ị» rj> rỊ»

TRẦN QUANG TRUNG

THỤC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG THÁP CÒI
VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CẢI THIỆN KHẤU PHÀN ĂN
CHO TRẺ EM DUỪI5 TUÓI VÙNG VEN BIEN TIỀN HẢI THÁI BÌNH

LUẶN AN TIEN SY Y TE CONG CỌNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y Dược THÁI BÌNH
ki» kV 4% kG tỉ« t!« 4% 4% 4*4 4*4 4*4

rj>» »Ị»

'ĩ' »1» rỊ% rỊ% »y*

4^t 4*4 4*4

1.1.

Tình hình suy dinh dưõ’ng ỏ' trẻ em và các yếu tố Hên quan.

/././. Tinh hình suy dinh duỡng thấp còi ở trẻ em trên thế giới

Từ 576 cuộc diều tra đại diện của các quốc gia và vùng lãnh thổ trong
giai doạn 1990 đến 2010 cho thấy năm 1990 trên thế giới tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị
SDD thể thấp còi chiếm khoảng 40% tương ứng là 253,1 triệu trẻ. Vùng châu
Mỹ La tinh và Caribe là 24,6% (13,7 triệu). Tỷ lệ SDD thấp còi châu Á năm
1990 là 48,4% (188,7 triệu). Các quốc gia đang phát triển là 44,6% (248,4
triệu); các quốc gia phát triển 6,1% (4,7 triệu). Đến năm 2010 trên toàn cầu,
thấp còi ờ trẻ cm đã giảm từ 39,7% xuống còn 26,7%. Xu hướng này dự kiến
sẽ còn 21,8% vào năm 2020. Tuy nhiên, mức độ giảm tỷ lệ SDD thấp còi có sự
khác nhau rõ rệt giừa các khu vực. Ớ châu Phi tỷ lệ thấp còi hầu như ít thay
đối. Sau 20 năm, tỷ lệ SDD thấp còi vẫn dao động trong mức 40%, trong khi
đó cháu Ả có những chuyển biến mạnh mẽ, giám đáng kể tỷ lệ SDD thấp còi từ
49% năm 1990 xuống còn 28% trong năm 2010. Tuy nhiên, ở đa số các nước
đang phát trien, thấp còi vần còn là một vấn đề có V nghĩa sức khòe cộng dồng
trong giai doạn hiện nay [85J,[86J. Khoảng 80% trẻ dưới 5 tuổi thấp còi trên
thế giới nằm ở 14 quốc gia trong đó 4 nước là Đông Timor, Burundi, Niger và
Madagascar có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuôi thấp còi cao nhất (hơn một nửa trẻ em
dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi). Den năm 2012 tỷ lệ thấp còi chung toàn thế giới
khoảng 25,0%, tương dương với 162 triệu trẻ; trong dó 56% ở Châu Á, 36% ớ
châu Phi [147].
Tỷ lệ SDD trên thế giới hiện giảm bình quân khoảng 0,7%/năm. Khu vực châu Mỹ Latinh
và vùng Carribe đạt mức giảm 0,6%/năm và khu vực châu Phi đạt dược mức giảm
0,3%/năm [147]. Diễn biến tỷ lệ SDD thể thấp



dường giai đoạn 2011-2020 cùng sự chung tav của cộng đồng đã yêu cầu giảm tỷ lệ
SDD là một trong những chỉ tiêu đánh giá sir phát triển kinh tế, xâ hội [6]. Trong
những năm gần đây các thế SDD nặng dâ giảm rất nhiều, hiện nay SDD chú yếu là
thế nhẹ và vừa, số trẻ em SDD gầv còm cấp tính đă hạ thấp đáng kể, nhưng tỷ lệ
thấp còi vẫn còn rất cao. SDD thấp còi là hậu quả của thiếu dinh dường kéo dài, ảnh
hưởng đến sự phát triến chiều cao của trẻ em. Trong mấy thập kỷ qua, tỷ lệ SDD trẻ
em dưới 5 tuôi ớ Việt Nam dă có những mức giám mạnh tương dương với xu hướng
giảm tỷ lộ SDD trong khu vực [24],[67].
Tỷ lệ SDD thế thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 59,7% năm 1985
xuống 56,5% năm 1990 và 36,5% năm 2000, đến năm 2005 tỷ lệ SDD thế thấp còi
là 29,6% (theo quần thể tham chiếu NCHS). Tuy nhiên kết quá cho thấy tý lệ SDD
thể thấp còi thay đổi 31,9% năm 2009 và 29,3% năm 2010 [66] (do từ năm 2006 sử
dụng quần thế tham chiếu của WHO [144]). Mặt khác giảm SDD thể thấp còi là một
thách thức, khó hơn rất nhiều so với giảm SDD thế nhẹ cân [23],[27],[40]. Nếu như
năm 1999, tỷ lệ SDD nhẹ cân và thấp còi không có sự khác biệt đáng kế thì sau hơn
1 thập kv, 2 tỷ lộ này có sự chênh lệch rất rõ ràng. Từ năm 1999 đến năm 2010 trong
cả nước tỷ lệ SDD thể nhẹ cân giảm xuống một cách bền vừng từ 36,7% xuống còn
17,5%, đến năm 2012 là 16,2%. Tuy nhiên tỷ lệ SDD thể thấp còi giảm chậm hon từ
38,7% năm 1999 xuống 29,6% năm 2005. Đen năm 2006 và 2007 tỷ lệ
SDD thấp còi tăng lcn 3 ] ,9% và 33,9% là do thay đổi việc áp dụng chuẩn từ quần
thể tham khảo của Mỹ sang áp dụng chuẩn của WHO năm 2006 và tiếp tục giảm
xuống 29,3% năm 2010 và đến năm 2012 là 26,7% [67].
SDD thấp còi theo tuổi.


Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuôi khác nhau theo lứa tuỏi. Các nghiên cứu đã chí ra
rằng tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi là thấp nhất đối với cá 3 thể (thể nhẹ
cân, thế thấp còi, thể gầy còm), sau đó tăng nhanh và thời kỳ tré 6-24 tháng tuổi, là
thời kỳ trẻ có nguy cơ bị SDD cao hơn do đây là thời kỳ trẻ cai sữa, ăn sam có nhiều
ảnh hưởng đến lượng thức ăn hấp thụ được của tré và cũng là thời kỳ trẻ có nhu cầu

cập trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, trình độ dân trí và khoáng cách giàu nghèo ngày
càng lớn giữa khu vực nông thôn, miền núi so với các thành phố lớn và các khu đô
thị [66].
Tinh hình SDD thắp còi tại tinh Thái Bình vù huyện Tiền Hài.
Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy tình trạng SDD trẻ em của tỉnh Thái
Bình còn rất cao, năm 1991 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân (CN/T) là 58,5%, và thấp còi
(CC/T) là 59,9% mặc dù Thái Bình là vựa lúa cùa miền bắc là tỉnh đồng bằng sông
nồng [36]. Năm 2006 kết quả nghiên cứu tại huyện Tiền Hải cho thấy tỷ lệ SDD thể
nhẹ cân là 22,6%, về nhận thức của bà mẹ có con SDD có tới 51% bà mẹ vẫn cho là
con phát trien bình thường [57]. Năm 2010 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân của Thái Bình
giảm xuống còn 17,3%, SDD thâp còi là 26,7% cao hơn so với tỷ lệ chung cúa vùng
đông bằng sông Ilồng là 25,5% [66].
1.1.3. Nguyên nhăn của suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng do tác động của nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với y
tế, lương thực thực phâm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Các nguyên
nhân gồm: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân quan trọng, nguyên nhân cơ bản và
nó ảnh hưởng đến SDD nói chung và SDD thấp còi ở các cấp độ khác nhau.
1.1.3. Ị. Nguyên nhân trực tiếp


Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD ờ trẻ là thiếu ăn về số lượng, không đảm
bảo chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuấn. Trong đó, chất lượng khấu phần ăn
cần xem xét hơn là số lượng khấu phần, trong đó vai trò của protein dộng vật chất
béo, vitamin, vi chất, acid amin và acid béo cần thiết. Ncu khẩu phần ăn cua trẻ
không đám bảo đú nhu cầu protcin trỏ sẽ chậm tăng cân, rồi giảm cân dẫn đến chậm
phát triển chiều cao, trong trường họp thiếu protein kéo dài thi trẻ sẽ bị thấp còi
[39],[40],[146]Quỹ nhi dồng Liên hợp quốc dã coi nuôi con bằng sữa mẹ là một trong bốn
bien pháp bảo vệ sức khòc trẻ cm, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ. Trong thời
gian 4-6 tháng đầu sau sinh, sữa mẹ là nguồn cung cấp đầy đủ các chất dinh dường
cần thiết cho sự phát triển của trẻ, có tỷ lệ các chất dinh dường cân dối và dề hấp

thời từ 2 vi chất dinh dưởng trớ lên chiếm tới 79,4% trẻ [121]. Người ta đă ước tính
có khoảng 600-700 triệu người tren toàn thô gỉớỉ bị thiôu săt [145]. Thiêu máu và
thiêu săt ớ trẻ nhỏ có thể dẫn tới chậm phát triển cả về tinh thần và thế chất và ảnh
hướng xấu tới sức khỏe [83],[131]. ở Việt Nam, một số điều tra về thiếu máu do
thiếu sắt ở trẻ em tại một số vùng nông thôn (Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội) cua tác
giả Lê Thị Hợp và cộng sự [98], nghiên CÍR1 của Berger, Khúc Thị Tuyết Hường,
Trần Thị Lan cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở tré em Việt Nam vẫn còn ở mức rất cao
[32],[41],[72].
Năm 2006, tỷ lệ thiếu máu trung bình ớ tre em chung toàn quốc là 29,2%, tỷ lệ
thiếu máu cao nhất ớ nhóm 6-12 tháng tuổi, tới 56,9%; có xu hướng giảm khi tuổi
của trỏ tăng lên: 45% ớ nhóm 12-24 tháng tuổi, 38% ở nhóm 24-36 tháng tuồi. Khi
chế độ ăn thiếu sất như thiếu sữa mẹ, cho ăn dặm chưa đúng cách làm trẻ bị thiếu


các thức ăn nguồn gốc động vật là những nguồn quan trọng cung cấp sắt dẫn dến
thiếu máu [100J. Trong nhừng trường hợp nhu cầu sắt lớn hơn bình thường khi đó
sữa mẹ thường không đu thỏa mãn nhu cầu sắt của cơ thể trẻ, những trẻ này cần
được bắt đầu bổ sung sắt sớm, tối thiểu là từ 2 tháng tuổi, tốt nhất là trong suốt sáu
tháng đầu đời của trẻ [145].
Ớ Việt Nam, kết quả của một số nghiên cứu đã cho thấy tý lệ thiếu kẽm ớ trẻ
sơ sinh cao tới 30-40% [31]. Các tác giả Berger và cộng sự năm 2004 đã đánh giá tỷ
lệ thiếu kẽm ở trẻ em tại cộng đồng, dựa vào nồng độ kẽm huyết thanh thấp (
em, kiến thức chăm sóc cùa người nuôi trẻ, nước sạch vệ sinh mói trường.
Người ta thấy rằng tình trạng thiếu dịch vụ chăm sóc y tế, vệ sinh môi trường
kém, không có hệ thống nước sạch, dẫn đến bệnh tật phát sinh và không được ngăn
chặn dấy lùi sẽ làm tăng tỷ lệ SDD của trẻ [120J. Một tình trạng tiền lâm sàng có xu
hướng phố biến ớ các nước đang phát triển là bộnh đường ruột do môi trường (EE environmental enteropathy) hav còn gọi là bệnh đường ruột nhiệt đới. Loại bệnh này
không có biểu hiện ra bên ngoài nhưng có thế làm rối loạn hấp thu chất dinh dường
do làm thay dổi cấu trúc và chức năng của ruột non. cỏ giả thiết cho rằng EE gây ra


tình trạng chậm tăng trưởng và có thê làm giảm hiệu quả của các can thiệp dinh
dương. Các nhà nghiên cứu suy đoán rằng việc tiếp xúc liên tục với vi khuẩn gây
bệnh có thế làm cho trẻ mẳc bệnh EE và hạn chế khả năng hấp thu tốt và sử dụng tối
đa các chất dinh dưỡng từ thức ăn dù trẻ cỏ bị tiêu cháy hay không [108].
Sự khác biệt về tỷ lệ SDD nhất là SDD thấp còi tại các vùng có điều kiện
kinh tế xã hội khác nhau đâ phản ánh tinh trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình ảnh
hưởng đến tình trạng SDD của trẻ. Tỷ lệ tré em dưới 5 tuổi năm 2010 bị SDD thấp
còi cùa vùng Đông Nam Bộ là 19,2% trong đỏ thành phố
Hồ Chí Minh chỉ có 7,8%, trong khi vùng Tây Nguyen là 35,2%, vùng trung du
miền núi phía Bẳc là 33,7% [66].
Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của bà mẹ và người chăm sóc trẻ cỏ vai
trò quan trọng trong công tác phòng chống SDD trẻ em [4],[20],[42]. Mặc dù kiến
thức và thực hành nuôi dường trẻ cứa bà mẹ khá tốt, nhưng vẫn tồn tại khoáng cách
giừa kiến thức và thực hành. Các hoạt động cần chú trọng tới việc tác động tới các
niềm tin về kết quả của nuôi dưỡng trẻ nhỏ, niềm tin về khá năng thực hiện thực
hành nuôi dường tre nhó, và nhận thức về chuấn mực xã hội và ủng hộ của gia dinh,
xã hội [57j,[59J.
1.1.3.3. Nguyên nhân cơ bản: Do cơ sớ hạ tầng kinh tế xã hội thắp kém, tình
trạng nghèo đói lạc hậu và mất bình đảng về kinh tế.
Thực tế thống kè của các nước trên thế giới về tình hình SDD cho thấy như tỷ
lệ SDD thấp còi chung của châu Phi là khoáng 40%. SDD là hậu quả của đỏi nghèo,

quần thể dân cư.
Theo FAO/WHO 2004, nhu cầu ăn vào (nutrient intakes) tương đương với
mức nhu cầu trung binh ước tính (Estimated Average Requyrements - EARs)
dế đảm nhu cầu cho 50% cá thế bình thường trong một quần thể dân cư. Trong
khi đó, NCDDKN tương đương với mức nhu cầu trung bình ước tính cộng với
2 độ lệch chuẩn (EARs + 2SD), hay nói cách khác, nhu cầu khuyến nghị là nhu
cầu đảm bảo cho 97,5% các cá thể trong quần thể luôn khỏe mạnh.
Theo Tố chức Y tế Thế giới và FAO/UNU, trên thực tế NCDDKN giao
động trong khoảng nhu cầu trung binh ước tính cộng với 2 độ lệch chuấn (SD)
của chính nó. Đây là giới hạn tiêu thụ vừa an toàn, vừa đáp ứng được nhu cầu
các chất dinh dường của hầu hết (97,5%) các cá thể theo từng nhóm tuối và
giới.
Nhu cầu khuyển nghị được tính theo công thức sau đối với tất cả các chất
NCDDKN = NCTBƯT + 2 SD
dinh dưởng, trừ năng lượng:

Trong đó:
NCTBUT là mức nhu cầu tiêu thụ trung bình ước tính.


SD (Standard Deviation) là độ lệch chuấn của mức tiêu thụ trung bình ước
tính.
Nhu cầu năng lượng chuyến hóa cơ bản dựa vào cân nặng của trẻ được tính
(Kcal/ ngày) ờ nhóm tuổi 0-3 tuổi Nam: 60,9 w - 54; nữ 61 w - 51 ở nhóm 3-10
tuổi nam: 22,7 w + 495; nữ: 22,5 w + 499 (W là cân nặng của cơ thể, tính bằng
kg). Do nhu cầu phát triển nhanh và vận động nhiều nên tré em cần được cung
cấp năng lượng rất cao. Dựa vào cân nặng theo tháng và năm tuổi có thể tính ra
nhu cầu năng lượng cần thiết cho trẻ. Trong diều kiện hiện nay, nhu cầu năng
lượng cho trẻ dưới 10 tuối và trẻ em lứa tuối vị thành niên Việt Nam được điều
chỉnh dựa vào các tham khảo quốc tế và trong khu vực Đông Nam Á. Các mức

chỗ nhàm nâng cao chất lượng khấu phần ăn cho trẻ là một giải pháp quan
trọng [40].
Các chiến lược then chốt để loại trừ thiếu dinh dưỡng gồm: 1. Các chiến
lược dựa vào thực phẩm như đa dạng hoá bữa ăn, làm vườn gia đình, tăng
cường vi chất vào thực phẩm và nuôi trồng; 2. Các chiến lược bổ sung như bổ
sung viên nang vitamin A, viên sắt acid folic cho các đối tượng nguy cơ; 3.
Các chiến lược chăm sóc sức khoe cộng đồng như khống chế các bệnh nhiễm
trùng và kí sinh trùng, tiêm chúng mớ rộng, thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ
[38].
Chiến lược can thiệp dựa veto thực phẩm:
Biện pháp tốt nhất để cải thiện tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng qua
việc dùng các thực phẩm sán có ở địa phương trên nguyên tắc cơ bản là tất cả
những vi chất cần thiết đcu có thể được cải thiện bằng biện pháp giáo dục kiến


thức và "đa dạng hóa bữa ăn". Tuy nhiên, biện pháp này cũng phụ thuộc vào
nhicu yếu tố, mà điều khó khăn nhất là không thể thay đổi về kinh tế và tập
quán ăn uống trong một thời gian ngắn. Hơn thế nữa, các vi yếu tố từ các thực
phẩm rẻ tiền, các loại rau xanh thì việc hấp thu của chúng rất hạn chế.
Ớ Việt Nam có nhiều kinh nghiệm xây đựng hệ sinh thái VAC (vườn ao
chuồng) trực tiếp cải thiện cơ cấu bữa ăn gia đình, nhà trẻ đế phòng chống
SDD cho trẻ em. Việc nghiên cứu sử dụng các loại bột dinh dường có chất
lượng cao được bổ sung vi chất dinh dưỡng tại cộng đồng để phục hồi dinh
dương được nghiên cứu và áp dụng thành công vừa có giá trị dinh dương cao,
cân dối vừa có khá năng tránh dị ứng và nhiễm khuẩn đường tiêu hóa [16],
[411. Một số tác giả cho thấy rằng việc tăng cường hướng dần các kỹ thuật chế
biến tại cộng đồng đâ giúp cho việc cải thiện tình trạng dinh dương tré em
[52],[59].
1.2.


trẻ binh thường. Thiếu máu làm giàm sự tập trung và ảnh hưởng đến sự phát
triển nhận thức của trẻ [ 126],[ 129],[ 133].
1.2.2.

Vai trò của kẽm với sự phát triển trẻ em.
Vai trò của kẽm bắt đầu dược đánh giá và ghi nhận từ năm 1869 trên sinh

vật thực nghiệm nhưng phải 1 thế kỷ sau đó vấn đề thiết yếu của kẽm đối với
con người và nguy cơ thiếu hụt kẽm mới chỉ được công nhận sau một khám
phá của Prasad [125],[130]. Trong 50 năm qua, hàng ngàn công trình nghiên
cứu đã cho thấy sự thiếu hụt kẽm ờ người là khá phổ biến. Thiếu hụt kem có
thc anh hướng đến gần 2 tý người trên thế giới. Nguyên nhân do khẩu phần
nghèo kẽm hoặc hàm lượng phytat cao trong thực phẩm dẫn tới ức chế hấp thu
kẽm [125].
Sự hấp thu kẽm


Trong điều kiện tiêu chuẩn, tỷ lệ hấp thu kẽm khoảng 33%, tỷ lệ hấp thu
tuỳ thuộc nhiều vào các điều kiện như hàm lượng kẽm trong thức ăn, nguồn
gốc thức ăn và sự có mặt của các chất kích thích hay ức chế sự hấp thu kẽm.
Hàm lượng kẽm trong thức ăn càng thấp thì tỷ lệ hấp thu càng cao. Lượng kẽm
dự trữ trong co thế càng thấp thỉ sự bài tiết kẽm nội sinh càng hạn chế. Cơ chế
và vai trò bài tiết kẽm nội sinh chưa được nghiên cứu kỹ nhưng có sự liên quan
giữa sự bài tiết kèm với vai trò của tuy và các tế bào ruột. Người ta thấy răng
hàm lượng kẽm tá tràng cao hơn hàm lượng kẽm trong thức ăn. Điều đó chính
là sự bài tiết kẽm của niêm mạc ruột, sau khi đă bài tiết kẽm ra ngoài lòng ruột,
niêm mạc ruột tái hấp thu lại một phần lượng kẽm đó đê giữ cân bằng. Tại tá
tràng 40-70% lượng kẽm được hấp thu [76].
Một số yếu tố dóng vai trò ức chế và một số khác có vai trò kích thích hấp
thu kem. Phytat được chứng minh nhiều trên thực nghiệm làm giảm mức độ

Kẽm có ánh hướng tốt dến sự phát triển của cơ thể, ảnh hưởng này có
thể giải thích nhiều tác dụng như: tăng hấp thu, tăng tồng hợp protein, tăng
cảm giác ngon miệng và tác động lẻn hormon tăng trưởng (GIl-Grovvth
Hormon); hormon ỈGF-1. Một số nghiên cứu đã chứng tỏ rằng kẽm có tác dụng
kích thích tăng trưởng ở trẻ nhờ tác dụng trung gian làm tăng hormon tăng
trướng giống insulin trong máu (IGF-1). IGF-lvới nhiều nhóm có cấu trúc
polypeptid có liên quan tới quá trình tăng sinh và biệt hỏa tế bào lần đầu tiên
được đề cập tới như nhừng yếu tố kích thích tăng trưởng. Cơ chế hoạt dộng của
IGF-lcũng giống như các vếu tố có cấu trúc polypeptid khác là gắn với nhưng
thụ thề đặc hiệu của tế bào để thúc đẩy quá trình vận chuyển chất qua màng tế
bào [761.


Nhiều nghiên círu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của việc bồ
sung kẽm đến sự tăng trướng của tré em. Việc can thiệp của kẽm thử nghiệm
đầu tiên đă không thành công trong việc cải thiện chiều cao của những nam
sinh đang độ tuổi đến trường. Bởi vì kẽm được bố sung thêm đâ được hấp thu
kém khi hấp thu cùng với tỉ lệ xơ sợi cao, chất phytate cao trong các bữa ăn ờ
Trung Đông, hay do nghiên cứu không đu thời gian [130J. Trong những năm
1970 và 1980 đã có một vài nghiên cứu về ảnh hướng của bố sung kẽm cho trẻ
thấp còi ớ Mỹ và Canada. Nhóm Hambidge đã nghiên cứu tại Denver,
Colorado và đưa ra nhận xét những đứa trẻ ở gia đình cỏ thu nhập thấp và
trung bình có nồng độ kẽm trong tóc thấp, kém cảm nhận hương vị và chán ăn
[96J. Hambidge và cs thấy rằng 35% trẻ 3 đến 5 tuối thuộc trong trường
chương trình trc cỏ thu nhập thấp của thành phố Denver có chiều cao theo tuổi
thấp hơn hoặc dưới 10% giá trị của quần thể tham khảo [97]. Ở Trung Quốc trẻ
em từ 1 đến 6 tuổi tăng trướng chậm được bổ sung kẽm 1-2 mg/ ngàv trong 6
tháng kết quả tăng cân và chiều cao rõ rệt [80J.
Tác giả Brown và cộng sự đã tiến hành phân tích tồng họp 33 nghicn
cứu thử nghiệm lâm sàng kết quả cho thấy bổ sung kẽm có ý nghĩa trong việc

số nghiên cứu khác cũng cho kết quá tương tự [91],[107],[109].
Nghiên cứu tiến hành tại Việt Nam của các tác giá Berger J, Nguyền
Xuân Ninh, Nguyễn Công Khẩn và cộng sự năm 2006 về kết hợp bổ sung sắt
và kcm cho trẻ sơ sinh cũng đã cho thấy hiệu quả lên việc cải thiện tình trạng
vi chất dinh dưỡng và tốc độ phát triển của trẻ [721. Tác già Nguyễn Thanh
Danh đã cho thấy tác dụng của bổ sung kẽm đối với triệu chúng chán ăn kéo
dài ớ trẻ và nó còn có tác dụng cải thiện các rối loạn giấc ngủ ở tré ern [9],[10],


[11J. Chính quá trình cải thiện giấc ngú và tăng cảm giác thèm ăn đà tác động
gián tiếp lên quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ.
Lê Thị Hợp và cộng sự năm 2005 đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm
lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi cỏ nhóm chứng về bổ sung đa vi chất dinh dương
nhằm cải thiện tình trạng thiếu máu và vi chất dinh dưỡng cũng như tốc độ
phát triến của trẻ nhỏ Việt Nam [98]. Kết quả cho thấy trên đối tượng 306 trẻ
từ 6-12 tháng tuổi, chia thành 4 nhóm điều trị: nhóm nhận đa vi chất dinh
dường hàng ngày, nhóm nhận da vi chất dinh dường hàng tuần, nhóm chửng và
nhóm nhận bố sung sắt trong 6 tháng. Kết quá cho thấy sự thay đổi Ferritin cao
hơn có

V

nghĩa thống kê ớ nhóm đa vi chất hàng ngày và nhóm bổ sung sắt,

nhưng hiệu quả cao hơn rõ ở nhóm bổ sung đa vi chất dinh dương hàng ngày
[98].
Nghiên cứu ớ Jamaica dã chứng minh tác dụng của việc cung cấp thực
phẩm bố sung cho tre em SDD nặng cùng với bổ sung kẽm 0,16- lmg/kg/ngày
cho trẻ em được nuôi dưỡng bằng sữa đậu nành hoặc sữa bò công thức giúp
phục hồi SDD protein năng lượng [92]. Bổ sung kẽm giúp tăng khối nạc và

nguy cơ nhiễm khuấn dườnạ hô hấp ớ trẻ em tiêu chảy, giám tỷ lệ tử vong,
giảm mức độ và thời gian điều trị do tiêu cháy gây ra [70],[73].
Như vậy, hầu hết các nghicn cứu đều cho thấy bồ sung kẽm cho trẻ dưới
5 tuổi có tác động tích cực trong phòng bệnh và kích thích tốc độ phát triển của
trẻ. Vì vậy cần triển khai rộng rãi trên những đối tượng nguy cơ ở Việt Nam và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status