BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
CHU THỊ THU
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TÀI NGUYÊN
VÀ NHỮNG CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI
NGÀNH CÔNG NGHIỆP THAN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN QUANG HÀ
Hà Nội, 2011
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên và môi trường có vai trò thiết yếu đối với con người là nền tảng
tồn tại và phát triển của xã hội, đóng góp quan trọng cho ngân sách Nhà nước và
tăng trưởng của mọi nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tài nguyên trở thành
nguồn lực khan hiếm, là đối tượng tranh chấp quyết liệt giữa các nước, môi trường
bị ô nhiễm, suy thoái nhanh, trở thành vấn đề toàn cầu và mối lo chung của toàn
Theo EIA sản lượng Than Việt nam năm 2007 là 49,14 triệu tấn, với sản lượng này
Việt nam đứng thứ 6 trong các nước Châu Á, thứ 17 trên thế giới chiếm khoảng
0,69% sản lượng than trên thế giới .Mặt khác Than còn là đầu vào cho rất nhiều các
ngành sản xuất công nghiệp trọng yếu của đất nước như: ngành Điện lực, ngành
Phân bón, ngành công nghiệp xi măng và công nghiệp Giấy... Trong đó, than chiếm
tới 6% chi phí giá thành của xi măng lò quay, 12% của xi măng lò đứng, 44% đạm
urê của Nhà máy đạm Hà Bắc. Với ngành điện, tiêu chuẩn áp dụng cho nhiệt điện là
390g cho 1 kWh điện. (Theo Bộ Tài Chính, năm 2007).
Tuy nhiên, công nghiệp khai thác Than gây tác động bất lợi lớn đến vấn đề
bảo vệ môi trường thiên nhiên cũng như môi trường sống của con người. Chẳng hạn
khai thác Than sẽ gây ra vấn đề bụi mỏ, nước thải mỏ, bụi mỏ trong quá trình vận
chuyển than, vấn đề đất đá thải…Than còn là nguồn năng lượng gây nhiều tác hại
cho môi trường, là thủ phạm chính tạo ra hiệu ứng nhà kính (than thải ra lượng khí
CO2, cao gấp hai lần so với gas)
Xuất phát từ xu hướng phát triển chung của nền kinh tế và vai trò chủ đạo
của ngành công nghiệp khai thác Than Việt nam hiện nay đặt ra cho Chính phủ phải
có những can thiệp cần thiết nhằm hướng việc sử dụng tài nguyên Than hiệu quả,
tiết kiệm, bền vững và đảm bảo các vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay. Trên cơ sở
những lý do trên tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Bước đầu đánh giá tác động của Thuế tài nguyên và những can thiệp của
Chính phủ đối với ngành công nghiệp Than ở Việt Nam”
Để đạt được những nội dung cơ bản, mục tiêu tổng quát của luận văn:
Nghiên cứu tác động của Thuế tài nguyên và các can thiệp của Chính phủ đối với
3
sản lượng và cơ chế xác định giá bán sản phẩm của ngành công nghiệp Than ở Việt
nam trong thời gian qua. Từ đó nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý và
sử dụng tài nguyên than đá ở Việt Nam hiệu quả và bền vững
khác, khối lượng thuế phải nộp của những người khác nhau là không giống nhau.
Mọi người đều sử dụng chung một hệ thống an sinh xã hội, một con đường …
nhưng người giàu hơn lại phải nộp thuế nhiều hơn. Điều này tạo nên sự khác biệt
giữa thuế và giá cả. Trong khi việc nộp thuế được xem như một nghĩa vụ không thể
thoái thác và khối lượng các lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ nhà nước
không liên quan gì đến khối lượng thuế đã chi trả, thì việc trả tiền để nhận được một
món hàng hoặc dịch vụ (qua giá) hoàn toàn mang tính chất tự nguyện và thường có
5
sự tương xứng về mặt giá trị. Kết quả là thuế thường được xem như là nặng nề hơn
là giá cho dù người nộp thuế có tán thành các chi tiêu của nhà nước, anh ta có thể
không nhận thức được mối quan hệ trực tiếp nào giữa khối lượng thuế đã nộp và lợi
ích cá nhân nhận được từ các hoạt động chung của nhà nước. Mặt khác, người tiêu
dùng tuy có phàn nàn về giá cả tăng cao nhưng lại nhận thức được một cái gì đó
mình mong muốn.
1.1.2. Chức năng của thuế
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản,
đặc thù nhất thông qua chức năng này, các quỹ bằng tiền của nhà nước được hình
thành. Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất đảm bảo cho sự hoạt động và tồn t ại
của nhà nước. Mặc dù nhà nước có nhiều phương pháp mở rộng hay thu hẹp quy
mô ngân sách nhưng việc sử dụng công cụ thuế tỏ ra là có ưu thế hơn cả. Điều đó
được phản ánh bằng tỷ trọng thu từ thuế trong tổng thu ngân sách của các nước luôn
ở mức cao nhất, ở hầu hết các nước, con số này lên đến 90%.
Bảng 1.1. Tỉ trọng thuế trong tổng thu ngân sách Nhà nước một số các
quốc gia trên thế giới
TT
92,79
4
Ý
90,53
93,16
5
Thụy Điển
86
88,36
6
Nga
-
94,05
7
Trung Quốc
Singapore
68,65
95,86
12
Việt Nam
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới, World Development 1998-1999)
6
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là sự huy động một bộ phân
thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào NSNN. Phần lớn thuế là đánh trên
hàng hóa và thu nhập. Người có thu nhập cao và có tiền chi tiêu cho nhiều hàng hóa
hơn là người nộp thuế nhiều hơn; nói cách khác là những người giàu có là những
người phải chịu nhiều thuế (tính về số tuyệt đối) hơn. Số tiền này sau đó lại được
nhà nước chi tiêu vào hàng hóa công cộng, trợ cấp hưu trí, bệnh tật, … tạo ra tính
công bằng tương đối cho xã hội. Đây chính là chức năng phân phối và phân phối lại
của thuế. Cũng theo các suy luận trên, trong một chừng mực đáng kể, chức năng
phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức
năng điều tiết kinh tế của thuế.
Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng tăng. Điều này
được giải thích bởi sự mở rộng các chức năng của nhà nước và việc thực hiện nhiều
chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của nhà nước vào các quá trình
kinh tế.
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế có nghĩa là phải xem thuế như là một
định chi phí biên (MC) bằng doanh thu cận biên (MR) (hình)
P, MC,
MR
MC+t
MC
PT
Thay đổi giá
P
Thuế
D
Q
QT
QĐQ
MR
Hình 1.1. Đồ thị ảnh hưởng của thuế đối với sản lượng và giá
của nhà độc quyền
Thuế sẽ làm giảm sản lượng của nhà độc quyền sản xuất ra và làm tăng giá
8
1.1.3.2. Thuế giá trị và thuế sản lượng trong thị trường độc quyền
Đối với các nhà độc quyền, ảnh hưởng của thuế giá trị ( quy định bằng tỉ lệ
phần trăm của giá trị) và ảnh hưởng của thuế cụ thể (một khoản cố định trên một
bằng thuế. Nhưng chúng ta đã biết các nhà độc quyền định sản lượng bán ra tối đa
hóa lợi nhuận bằng doanh thu cận biên (MR).
9
P
D0
Doanh thu
thuế
MRT
MC
MR0
QT
DT
Q0
Q
Hình 1.3. Đồ thị thuế hàng hóa theo sản lượng bán ra
Khi áp dụng thuế giá trị, nếu người mua hàng trả giá P cho một loại hàng hóa
nào đó thì người sản xuất sẽ nhận được P(100-t). Trong đó, t là tỉ lệ phần trăm thuế.
Vì vậy thuế là một hàm của giá. Tác động của thuế lúc này làm cong đường cầu và
đường doanh thu biên (MR) (hình 2), chứ không làm dịch chuyển đường cầu và
1.1.4. Thuế tài nguyên[14]
1.1.4.1. Định nghĩa
Thuế tài nguyên thường được định nghĩa là “thuế đánh theo tỉ lệ % giá trị của
các nguồn tài nguyên đã khai thác” .
Phân loại thuế tài nguyên:
- Thuế trên đơn vị: Thường được tính theo tỉ lệ cố định cho một đơn vị tài
nguyên khai thác
- Thuế theo doanh thu: Thường được tính theo tỉ lệ phần trăm của giá trị
hàng hóa tài nguyên khai thác
- Thuế theo lợi nhuận: Thường được tính theo tỉ lệ phần trăm của lợi nhuận
đã được kiểm toán
Thuế tài nguyên theo đơn vị thường được tính sau khi quặng được khai thác
(Ví dụ số quặng vận chuyển từ nơi khai thác).
Thuế tài nguyên theo doanh thu thường được tính sau khi tài nguyên đã được
tiêu thụ (Ví dụ trên doanh thu các sản phẩm đã qua tinh luyện hoặc chế biến theo
giá thị trường Kim loại Luân Đôn – LME công bố). NSR được tính theo giá sản
11
phẩm vì vậy sẽ dao động. Một tỉ lệ cố định dựa trên đơn vị hoặc tỉ lệ % NSR quá
cao buộc nhà sản xuất phải chịu chi phí quá lớn trong điều kiện thị trường không
thuận lợi
Thuế tài nguyên theo lợi nhuận thường được tính theo lợi nhuận đã được
kiểm toán (Doanh thu bán hàng trừ chi phí sản xuất) theo định kỳ 6 tháng hoặc một
năm một lần. Điều này có nghĩa là thuế tài nguyên nộp cho Chính phủ sẽ tăng khi
các nhân tố thị trường thuận lợi (giá hàng hóa cao) và giảm khi thị trường không
thuận lợi, như giá hàng hóa thấp hoặc chi phs sản xuất như giá nhiên liệu hoặc năng
lượng tăng cao. Vì vậy thuế tài nguyên tính theo lợi nhuận sẽ tạo điều kiện tốt hơn
cho các công ty duy trì hoạt động và nhân lực trong các giai đoạn khó khăn
nguyên hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời
gian tới, Pháp lệnh thuế tài nguyên cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được bổ sung
và sửa đổi cho phù hợp, cụ thể như sau:
* Những kết quả đạt được của Pháp lệnh Thuế tài nguyên 1998
Tài nguyên là tài sản quan trọng của quốc gia và hầu hết là tài nguyên không
tái tạo được cần được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có
hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển
kinh tế bền vững trong mối quan hệ hài hoà với giải quyết vấn đề xã hội và môi
trường trước mắt cũng như lâu dài.
- Về mục tiêu sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên: Thể hiện
ở mức thuế suất thuế tài nguyên được phân biệt theo từng nhóm, loại tài nguyên;
mức thuế suất từ 0% (đối với nước thiên nhiên phục vụ các ngành nông, lâm, ngư,
diêm nghiệp và sinh hoạt) đến 20%, 30%, 40% (đối với tài nguyên, khoáng sản quý
hiếm) đã góp phần thúc đẩy hoạt động khai thác tài nguyên theo hướng khai thác,
sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên nhất là đối với các tài nguyên quý
hiếm, tài nguyên không tái tạo (dầu khí, than, đá,…).
- Thuế tài nguyên là một công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà
nước tăng cường công tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài
nguyên theo quy định của pháp luật, được sử dụng đồng thời với các công cụ quản
lý khác như cấp giấy phép thăm dò, khai thác, chế biến tài nguyên.
- Với mục tiêu góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế
tài nguyên đã đạt được những kết quả nhất định. Số thu thuế tài nguyên các năm từ
13
2005-2008 bình quân mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu
ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh trong nước (trong đó, thuế tài nguyên từ
dầu khí khoảng 22.160 tỷ đồng, chiếm 95,5% tổng số thu thuế tài nguyên; thuế tài
nguyên của các tài nguyên khác khoảng 1.040 tỷ đồng, chiếm 4,5% tổng số thu thuế
tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất.
Căn cứ tính thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên và khí than (sau
đây gọi là dầu, khí) được thực hiện theo các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn
Luật Dầu khí. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm
2008 chỉ quy định viện dẫn: Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải
nộp các khoản thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Do đó, để đảm bảo có đủ
cơ sở pháp lý, cần bổ sung quy định về thuế tài nguyên đối với dầu, khí tại văn bản
quy phạm pháp luật về thuế tài nguyên.
- Về sản lượng tính thuế:
Theo Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành, sản lượng tính thuế tài nguyên là
sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác. Sản lượng tài nguyên thương
phẩm là sản lượng tài nguyên được bán ra. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều loại tài
nguyên khai thác, chưa bán ra ngay mà đưa vào để tiếp tục sản xuất ra sản phẩm
khác. Khi đó, sản lượng tài nguyên tính thuế được căn cứ vào sản lượng sản phẩm
sản xuất trong kỳ và định mức tiêu hao tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm.
Như vậy, sản lượng tài nguyên tính thuế trong trường hợp này không phải là sản
lượng tài nguyên thương phẩm, mà là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác.
- Về giá tính thuế:
Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành quy định: Giá tính thuế tài nguyên là giá
bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác. Trường hợp tài nguyên khai thác
chưa có giá bán thì Chính phủ quy định giá tính thuế tài nguyên.
Trên thực tế, do chất lượng, hàm lượng tài nguyên khai thác được là khác
nhau, lượng tạp chất khai thác được cùng với tài nguyên nhiều nên việc xác định giá
tính thuế tài nguyên trong trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán cũng rất
khác nhau và hiện nay mỗi địa phương áp dụng một cách dẫn đến sự không thống
nhất về giá tính thuế. Vì vậy, cần có quy định về nguyên tắc xác định giá tính thuế
của các loại tài nguyên để các địa phương có cơ sở áp dụng thống nhất.
15
16
• Về đối tượng nộp thuế: Quy định cụ thể và chi tiết thêm về người nộp thuế
trong một số trường hợp.
• Về đối tượng chịu thuế: Ngoài 6 loại đối tượng chịu thuế tài nguyên quy
định trước đây là: Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; sản phẩm rừng
tự nhiên; thuỷ sản tự nhiên (cần lưu ý quy định mới đối tượng chịu thuế không bao
gồm thuỷ sản nước ngọt khai thác từ ao, hồ, đầm, sông, suối...); nước tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên khác. Chính sách thuế tài nguyên lần này còn quy định thêm
một số đối tượng sau: Dầu thô; khí thiên nhiên; khí than; các loại sản phẩm khác
của rừng tự nhiên, trừ động vật (do cấm đánh bắt) và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do
người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ; hải
sản tự nhiên, gồm động vật và thực vật biển; nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt
và nước dưới đất; yến sào thiên nhiên;
Các tài nguyên thiên nhiên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ,
ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét,
quyết định.
• Về căn cứ tính thuế: Theo quy định mới về thuế tài nguyên thì căn cứ tính
thuế là sản lượng tài nguyên tính thuế (thay cho sản lượng tài nguyên thương phẩm
thực tế khai thác trong kỳ), giá tính thuế đơn vị tài nguyên, thuế suất thuế tài
nguyên, trong đó giá tính thuế đơn vị tài nguyên được áp dụng tương ứng với loại
tài nguyên chịu thuế của kỳ tính thuế.
+ Sản lượng tài nguyên tính thuế tài nguyên được xác định cụ thể cho từng
trường hợp như sau:
- Sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng
của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế.
- Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng
hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản
lượng tài nguyên được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của
chưa bao gồm thuế GTGT (không phân biệt địa bàn tiêu thụ) và được áp dụng làm
giá tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng có cùng phẩm
cấp, chất lượng, không phân biệt một phần vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ hoặc
đưa vào sản xuất, chế biến, sàng tuyển, phân loại; Giá bán của một đơn vị tài
18
nguyên được tính bằng tổng doanh thu (chưa có thuế GTGT) của loại tài nguyên
bán ra chia cho tổng sản lượng loại tài nguyên tương ứng bán ra trong tháng.
- Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán tài nguyên khai thác thì
giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn cứ sau:
+ Giá bán thực tế trên thị trường khu vực (trước đây quy định là giá bán bình
quân trên thị trường) của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại, có giá trị tương
đương, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
+ Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính
thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong
tài nguyên khai thác, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh quy định (trước đây quy định là giá bán đơn vị sản phẩm nguyên chất và hàm
lượng chất này trong tài nguyên khai thác).
• Về thuế suất thuế tài nguyên: Thuế suất thuế tài nguyên được quy định tại
Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số
928/2010/UBTVQH12 ngày 19 tháng 4 năm 2010 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Luật quy định khung thuế suất và giao Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định
mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên. Luật quy định phân nhóm lại khung
thuế suất từ 1 - 35% đối với từng nhóm, loại tài nguyên chi tiết hơn; thu hẹp biên độ
khung thuế suất, nâng mức thuế suất sàn của các loại tài nguyên thuộc nhóm khoáng
sản kim loại và một số loại tài nguyên quý hiếm khác. Không có thuế suất 0% vì đây là
tài nguyên quốc gia, bất kỳ ai sử dụng cũng phải có nghĩa vụ đóng góp.
- Về thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế: Được thực
Reform)
Các công cụ khác
1. Tiêu chuẩn MT
1. Thuế
1. Giao đất giao rừng
1. Giáo dục MT
2. Giấy phép ô nhiễm
không thể chuyển
nhượng
2. Phí xả thải
2. Tăng cường quản
lý cộng đồng
2. Hoàn thiện luật
pháp
3. Trợ cấp
4. Giấy phép phát
thải có thể chuyển
nhượng
3. Truyền thông môi
không đề cập đến cách thức thực hiện, phạm vi ra quyết định và cách thức ứng xử
rất rộng.
- Tiêu chuẩn thải : Là lượng thải tối đa cho phép từ nguồn.
Đối với tiêu chuẩn thải, mức độ khắt khe, linh hoạt trong quá trình ra quyết
định với chủ thể gây ô nhiễm cao hơn. Như vậy, tiêu chuẩn thải là quy định giới hạn
mang tính pháp lý về lượng chất thải tối đa mà một doanh nghiệp được phép thải
vào môi trường. Nếu doanh nghiệp nào thải quá giới hạn cho phép sẽ bị phạt hành
chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tuỳ theo mức độ vi phạm. Tiêu chuẩn thải
chỉ quy định mức thải đối với tất cả các chủ thể gây ô nhiễm nhưng không quy định
công nghệ được xử dụng để đạt được mức chuẩn đó.
- Tiêu chuẩn công nghệ : Là quy định về công nghệ, kỹ thuật hoặc hoạt
động mà chủ thể gây ô nhiễm phải áp dụng.
1.2.2. Thuế thải/phí thải
- Thuế/phí thải là loại phí đánh vào lượng chất thải thực tế của người sản
xuất. Để xác định mức phí tính trên mỗi đơn vị chất thải người ta phải căn cứ vào
chi phí cần thiết để giảm đơn vị ô nhiễm đó tức là MAC. Khi áp dụng phí thải,
người gây ô nhiễm sẽ có phản ứng phù hợp nhằm tối thiểu hoá chi phí của mình.
21
$
MAC
MDC
F*
W*
WM
22
- Mức thuế hiệu quả xã hội: Trong tình trạng có cạnh tranh, mức thuế càng
cao thì phát thải giảm càng nhiều nhưng cụ thể là cần phải định ra một mức thuế là
bao nhiêu? Nếu chúng ta biết hàm thiệt hại biên và hàm giảm ô nhiễm biên câu trả
lời sẽ là định mức thuế sao cho có được mức phát thải hiệu quả, như có thể thấy ở
hình 2.19.
+ Chi phí thực thi thuế bao gồm hai phần: chi phí tư nhân và chi phí xã hội.
Trong đó chi phí thực thi tư nhân gồm tổng chi phí giảm ô nhiễm cộng với thuế.
Chính là diện tích d cộng với diện tích (a + b). Nhưng chi phí thực thi tư nhân
không đại diện cho chi phí nguồn lực xã hội phải gánh chịu khi áp dụng chính sách
thuế. Chi phí thực thi xã hội chỉ bao gồm những nguồn lực cần thiết để đạt mục tiêu
môi trường nghĩa là không bao gồm tiền thuế. Thuế thực sự là khoản thanh toán
chuyển giao, là khoản thanh toán các tác nhân gây ô nhiễm trả cho khu vực công
cộng và cuối cùng là cho xã hội, những người thụ hưởng lợi ích từ chi tiêu công,
trong đó người gây ô nhiễm cũng có thể là người thụ hưởng những lợi ích này. Như
vậy chi phí thực thi xã hội là diện tích c, là tổng chi phí giảm ô nhiễm của người
gây ô nhiễm.
+ Xã hội cũng quan tâm đến lợi ích xã hội ròng của chính sách thuế, được
định nghĩa là tổng thiệt hại giảm được trừ đi chi phí thực thi xã hội.
Tổng thiệt hại giảm được chính là diện tích dưới đường MDC giới hạn bởi
mức phát thải ban đầu và mức phát thải hiệu quả xã hội E* = Diện tích (c + d)
Tổng chi phí giảm ô nhiễm TAC = Diện tích (c)
Lợi ích ròng xã hội = Tổng thiệt hại giảm được - Tổng chi phí giảm ô nhiễm
= Diện tích (c + d) - diện tích (c) = Diện tích (d)
điều chỉnh sản lượng theo mức thuế để tối đa hoá lợi ích. Các nhà quản lý đưa ra
một mức thuế nào đó, qua một thời gian sẽ biết được hiệu quả của thuế vì vậy có
thể điều chỉnh tăng hay giảm.
1.2.3. Trợ cấp
- Trợ cấp thường được sử dụng trong những trường hợp và khu vực khó khăn
về kinh tế. Trợ cấp của nhà nước có thể áp dụng cho các hoạt động tạo ra ngoại ứng
tích cực như trồng rừng, xử lý ô nhiễm…Nguyên nhân dẫn đến trợ cấp là do trong
các hoạt động này lợi ích cá nhân thường nhỏ hơn lợi ích xã hội, do đó chi phí mà
các cá nhân chấp nhận bỏ ra để tiến hành các hoạt động trên không đạt mức cần
thiết đối với xã hội.
24
- Nhà nước có thể điều chỉnh mức độ hoạt động cá nhân về mức hiệu quả xã
hội thông qua mức trợ cấp được xác định đúng bằng chênh lệch giữa lợi ích cận
biên xã hội và lợi ích cận biên cá nhân (tức bằng lợi ích ngoại ứng cận biên).
- Nhà nước trả cho chủ thể gây ô nhiễm một khoản tiền cho mỗi đơn vị giảm
thải. Tiền trợ cấp giảm thải trong trường hợp này trở thành chi phí cơ hội của việc
giảm thải và có tác dụng khuyến khích tương tự như thuế thải.
- Một số vấn đề cần chú ý khi thực hiện trợ cấp giảm thải:
+ Cần có nguồn tài chính để thực hiện
+ Có thể làm tăng lượng thải vì nó khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất
mới
+ Cần quan trắc nghiêm ngặt để biết được lượng giảm thải của mỗi nguồn.
Đây chính là khó khăn rất lớn.
1.2.4. Giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng (Tradable Discharge
Permit- TDP)