www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
MỞ ĐẦU
Công nghiệp phát triển, đời sống con người được nâng cao nhưng mặt
trái của nó là thảm họa môi trường. Dẫn đến, con người gặp phải các chứng
bệnh nan y như ung thư, HIV/AIDS, bệnh tim mạch hay là những dịch bệnh
phức tạp, nguy hiểm mới xuất hiện gần đây: viêm đường hô hấp cấp SARS,
cúm gia cầm H5N1, cúm lợn H1N 1, v.v.... đồng thời một số loài động, thực vật
bị đưa vào sách đỏ và tuyệt chủng. Thực tế đó đã thúc đẩy các nhà khoa học
phải tìm ra các thuốc chữa bệnh mới có tác dụng chọn lọc, hiệu quả cao và
giá thành rẻ hơn để điều trị các bệnh hiểm nghèo cũng như tìm cách bảo vệ,
bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm.
Một trong những con đường hữu hiệu để phát hiện ra các chất có hoạt
tính tiềm năng, có thể phát triển thành thuốc chữa bệnh cho con người, gia
súc và cây trồng là đi từ các hợp chất thiên nhiên. Trải qua hàng triệu năm
tiến hóa các hợp chất thiên nhiên có khả năng tương thích với nhau dễ dàng,
tương đối phù hợp với cơ thể sống, ít độc hơn và đặc biệt là thân thiện với
môi trường.
Từ thiên nhiên người ta đã phân lập được rất nhiều hợp chất có hoạt
tính quý để làm thuốc chữa bệnh phục vụ cho đời sống xã hội. Các hợp chất
thiên nhiên có hoạt tính được sử dụng trực tiếp để làm thuốc, ngoài ra chúng
còn được dùng làm "Mô hình" cho các nghiên cứu tổng hợp và bán tổng hợp
các loại thuốc mới.
"Mô phỏng tự nhiên" là một trong những con đường đặc biệt hiệu quả
và kinh tế để tìm ra các loại thuốc mới nhằm chữa bệnh cho người, gia súc và
cây trồng... chính vì vậy để tạo ra các loại biệt dược, thực phẩm bổ dưỡng
phục vụ đời sống con người thì "Nghiên cứu sàng lọc về mặt hóa học nguồn
1
1.1. Chi Cọ (Livistona. R. Br. )
Trên thế giới, chi Cọ (Livistona R.Br.) thuộc họ Cau (Arecaceae) có
khoảng 36 loài, phân bố ở Nam và Đông Nam châu Á, Oxtrâylia, Châu Phi
và rải rác một số khu vực trên thế giới [2]. Ở Việt Nam, cọ là những cây mọc
hoang phổ biến ở những vùng đồi núi, trung du. Chúng còn được trồng làm
cây cảnh ở nhiều nơi, và gồm có bốn loài như sau :
- Cọ hạ long (Livistona halongensis T.H. Nguyen & Kiew).
- Cọ [Livistona saribus (Lour.) Merrie. ex A. Chev.], còn có tên kè đỏ.
- Cọ xẻ [Livistona chinensis (Jacq.) R.Br.], còn gọi là kè tàu.
- Kè bắc bộ (Livistona tonkinensis Magalon).
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt một số loài của chi cọ:
1.1.1. Đặc điểm thực vật và ứng dụng của chi Cọ
1.1.1.1. Cây cọ xẻ (Livistona chinensis):
Cây cọ xẻ được giới thiệu tại hình 1.1
Hình 1.1. Cây cọ xẻ
4
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
Cây cọ xẻ còn gọi là kè tàu có nguồn gốc ở Nam Trung Quốc, Ấn Độ,
Nam Nhật Bản, Đài Loan và Việt Nam, được trồng rộng rãi ở nhiều vùng á
nhiệt đới, nhiệt đới và ở nhiều đảo biển. Ở Việt Nam, cây phân bố tại Yên
Bái, Tuyên Quang (Chạm Chu), Bắc Kạn, (Chợ Đồn), Thái Nguyên (Thần
Sa, Đại Từ), Quảng Ninh (Ba Mùn), Hà Nội, Ninh Bình ), Kon Tum (Đắc
Glei) .... Tên gọi Livistona chinensis do nhà khoa học người Áo Nicolaus
Joseph von Jacquin phát hiện lần đầu tiên ở Trung Quốc và công bố dưới tên
khoa học Latania chinensis Jacq. (1801). Về sau nhà khoa học người Anh
Robert Brown cùng nhà khoa học người Đức Karl Friedrich Philipp von
về nguồn gốc, vào giữa thế kỉ 19 người ta cho rằng nó là loài được phát hiện
đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1836, nhà khoa học người Hà Lan Karl Ludwig
von Blume đã công bố tên khoa học là Saribus cochinchinensis. Đến năm
1837, nhà khoa học người Đức Karl Friedrich Philipp von Martius công bố
lại dưới tên khoa học là Livistona cochinchinensis. Năm 1919, nhà khoa học
người Hoa Kỳ Elmer Drew Merril cùng nhà khoa học người Pháp Auguste
Jean Baptiste Chevalier đã công bố lại tên khoa học là Livistona saribus [5].
Ở nước ta, cây mọc hoang vùng đồi trung du miền Bắc và miền Trung, là cây
đặc sắc của rừng ven suối, đất ẩm vùng núi tới 1500m. Cây Phân bố rải rác
trong rừng nhiệt đới ở Hà Giang (Bắc Quang), Bắc Kạn (Na Rì), Yên Bái,
Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Phòng (Cát Bà), Thái Nguyên,
6
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
Hà Tây (Ba Vì: Thủ Pháp), Hà Nội, Quảng Trị, Lâm Đồng (Langbiang),
Đồng Nai (Biên Hoà), TP Hồ Chí Minh (Thủ Đức). . . . Cây có dáng đẹp
trồng trang trí trong các khu du lịch, resort, công viên hoặc làm cây cảnh nhỏ
trồng ở chậu dùng trang trí nội thất...Cây ra hoa vào tháng 12-2, ra quả vào
tháng 5-7 hàng năm [4].
1.1.1.3. Cây cọ bắc bộ (Livistona tonkinensis):
Là cây đặc hữu của Việt Nam. Thân thẳng, cao 25 – 30 m, đường kính
khoảng 25 cm. Khi non có nhiều cuống lá còn tồn tại, sau nhẵn, có sẹo do lá
để lại. Lá xẻ thuỳ hình chân vịt cách gốc 80 – 90 cm thành 50 – 60 thuỳ. Bẹ
lá có sợi. Mép cuống có gai dài 2,5 cm, lưỡi gốc phiến hình bán nguyệt có
chóp, cỡ 2 x 2 cm. Thuỳ hình đường, thuỳ to nhất cỡ 130 – 150 x 4 cm, đỉnh
thuỳ xẻ đôi sâu khoảng 2 cm, thuỳ thẳng đứng. Cụm hoa dài 60 – 70 cm; lá
bắc cỡ 18 x 3 cm, 2 sống, xẻ một bên, có lông rải rác. Nhánh con dài khoảng
20 cm, mảnh, hoa mọc trên những mẫu lồi. Quả bầu dục, cỡ 2 – 3 x 1 – 1,5
Các loại cọ xẻ (Livistona chinensis) và kè nam (Livistona saribus; L.
cochinchinensis Mart.) có hình dáng đẹp nên ở nước ta và một số nước trồng
chủ yếu để làm đai xanh, tôn tạo cảnh quan cho nhiều không gian xanh đô
thị, thường gặp nhất là ở các công viên, khu văn hóa, các biệt thự.... Ở một
vài vùng cây cọ xẻ, kè nam mọc tự nhiên, người dân còn lấy lá non chầm
nón, kết áo đi mưa (tơi); lá già có thể dùng để lợp nhà, đan túi xách, đan mũ,
dệt chiếu, làm quạt. Thân già được dùng làm cột, làm máng nước. Gốc chồi
8
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
lá có thể dùng làm rau ăn. Quả cọ có thể nấu chín để ăn hoặc ép lấy dầu, và là
một món đặc sản của miền tây Nghệ An [10].
Rễ cây kè nam dùng chữa bạch đới, khí hư, thường phối hợp với những
vị khác như rễ cau, rễ tre, rễ cây móc với lượng bằng nhau, sắc đặc uống làm
2 lần trong ngày. Liều dùng hàng ngày 6 - 12 g [11].
Theo đông y, cây cọ xẻ (Livistona chinensis) có vị ngọt và chát, tính
bình, hạt làm tiêu ung thư, khối u, rễ có tác dụng giảm đau [11, 12]. Y học
dân gian Trung Quốc dùng hạt cọ xẻ chữa ung thư mũi, họng, thực quản, ung
thư rau, bệnh bạch cầu. Rễ cây này được dùng để trị hen suyễn, giảm đau do
tiêm. Liều dùng 15-30 g, dạng thuốc sắc. Lá để trị chảy máu tử cung 1, 11].
Đơn thuốc chứa cọ xẻ ở Trung Quốc:
- Chữa ác tính: Dùng hạt cọ xẻ 30 g, nấu với thịt lợn nạc 30 g trong 2
giờ.
- Chảy máu tử cung: Dùng cuống lá cọ xẻ đốt thành tro, hoà vào nước
uống, hoặc sao lên và nấu nước uống.
- Trong vị thuốc dân gian, hạt cây cọ xẻ L. chinensis R.Br. có tên “Quỳ
thụ tử”.
2
7
OCH3
6'
10 4
6
5
OH
3
O
1. Tricin
HO
HO
O
O
OH
HO
HO
5'
4'
O
3
4
H
7
5
6
O
HO
HO
16
H
1
6'
HO
5
4
HO
O
1
OH
2
3
HO
1'
O
5'
HO
O
CH 2OH
3'
4'
HO
2'
4. Saccharose
4
3
H
O
5
HO
8
2
4
HO
4'
3'
5. Depsidon 1
3
2
4
5'
6'
9
HO
7'
HO
1
1'
OH
2'
9
CH 3
O
5
5'
6'
R2
OCH3
8. (E) R1=R 2=R3=R5=OH R4=OCH3
9. (Z) R1=R 2=R3=R5=OH R4=OCH3
10. (E) R1=R 2=OCH3 R4= OH R 5=R3=H
7. Benzofuran
12
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
Từ quả cọ xẻ, Xiaobin Zeng, và cộng sự đã tách được 11 hợp chất
flavonoid với 3 chất mới (19, 20, 21) và 8 chất đã biết là: tricin (1), quercetin
3-O-β-D-glucopyranosid (22), isorhamnetin 3-O-β-D-glucopranosid (23),
rhamnazin 3-O-β-D-glucopyranosid (24), (-)-epiafzelechin (25), (+)–catechin
(26), 2R,3R-3,5,7,3’,5’ pentahydroxyflavan (27), (–)-catechin (28) [17].
OH
OH
OH
HO
OH
21. 2R,3R-3,5,6,7,8,3',5'-heptahydroxyf lavan
Đặc biệt, từ cây cọ úc (Livistona australis), năm 2009, Samy K ElDesouky (Ai cập) và cộng sự đã phân lập từ lá 1 chất mới là dẫn xuất
pyranon: 3-hydroxy-2-(4-hydroxyphenyl)-6-metyl-4H-pyran-4-on (29) [18].
Năm 2011, Mona E.S. Kassem tại trung tâm nghiên cứu quốc gia (Ai cập)
cùng các cộng sự đã phân lập ra 1 hợp chất muối mới : flavon glycosid
13
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
sunphat (30) cùng 14 hợp chất flavonoid đã biết, gồm: genkwanin-6-C-βglucopyranosid (31), genkwanin-8-C-β-D-glucopyranosid (32), isovitexin
(33), isoorientin (34), orientin (35), tricin 7-O-β- D-glucopyranosid (36)
tricin 4'-O-β-glucopyranosid (37) luteolin
7-O-β-glucopyranosid (38),
quercetin 3-O- -glucopyranosid (22) quercetin 3-O-β-galactopyranosid (39),
tricin (1), quercetin (40), apigenin (41) và luteolin (42) [19].
OCH3
OH
H
OH
O
32. Genkwanin-8-C--D-glucopyranosid
14
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
41. Apigenin
42. Luteolin
1.1.2.2. Hoạt tính sinh học
Tại Việt Nam, Giang Thị Kim Liên và cộng sự đã báo cáo kết quả thăm
dò hoạt tính sinh học các dịch chiết từ quả cọ xẻ như sau: các dịch chiết nhexan và MeOH có hoạt tính ức chế sinh trưởng đối với vi khuẩn Gram (+)
Staphylococcus aureus với nồng độ IC50 lần lượt là 46,77 và 209,71 μg/ml. Ở
hoạt tính chống oxi hoá, dịch chiết MeOH quả cọ xẻ có hoạt tính ức chế hoạt
động của enzym peroxydaza với IC50 là 61,22 μg/ml. Dịch chiết MeOH quả
cọ xẻ có hoạt tính gây độc tế bào đối với 3 dòng tế bào ung thư thử nghiệm
là: KB (ung thư biểu mô), MCF – 7 (ung thư vú) và Hep-G2 (ung thư gan)
với các giá trị IC50 lần lượt là 68,04; 88,30 và 101,25 μg/ml [13].
15
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
Singh, R.P. và Kaur G. (Ấn Độ) thông báo hoạt tính chống tạo mạch
(antiangiogenic) và hoạt tính chống tăng sinh tế bào (antiproliferative) in
vitro của dịch chiết quả và hạt cọ xẻ. Phân đoạn chứa các hợp chất phenol
của cây này có hoạt tính phá màu (hemolytic) [20]. Nhóm tác giả trên cũng
ứng bảo vệ hồng cầu. (-) Epicatechin cũng chống lại sự peroxy hóa lipid và
ức chế sự tạo khối của các tiểu cầu. (-) Epicatechin có tác dụng trong việc hỗ
trợ kiểm soát các biến chứng thứ cấp của bệnh tiểu đường. Các polyphenol
nói chung cũng được chứng minh là hữu ích trong việc bảo tồn đảo tụy chuột
in vitro [25].
Catechin (26), là một hợp chất phenol chống oxy hóa tự nhiên. Trong
nghiên cứu của Nakayma và cộng sự [26], catechin thể hiện hoạt tính ngăn
chặn độc tính tế bào của O2- và H2O2 trên tế bào chuột đồng Trung Quốc
V79.
*.) Hoạt tính đối với hệ tim mạch:
Lavollay, Neumann, Porrot, đã chứng minh: Catechin (26) có tác dụng
mạnh hơn vitamin C trong việc giữ bền thành mạch, chủ yếu là do khả năng
điều hòa, làm giảm sức thấm vào mao mạch, ngăn cản không cho protit của
máu thẩm dịch qua các mô khác, có tác dụng dự phòng vỡ mao mạch, gây
xuất huyết , gây phù thũng [27, 28].
Epicatechin (25), có thể cải thiện lưu thông máu và có lợi ích tiềm năng
cho sức khỏe tim [25].
*.) Hoạt tính gây độc tế bào, chống ung thư
Chất mới phân lập từ quả cọ xẻ: 2S,3S–3,5,7,3′,5′–pentahydroxyflavan
(19) có tác dụng ức chế đáng kể đối với dòng tế bào HL–60 với IC50 là 0,2 ±
0,01 và CNE–1 với IC50 là 1,0 ± 0,1 μM áp đảo so với các hợp chất tham
khảo trong các thử nghiệm [16, 17].
Hợp chất muối mới flavon glycosid sunphat (30), từ cây cọ úc (Livistona
australis) được Mona E.S. Kassem (Ai cập) cùng các cộng sự phân lập ra, có
hoạt tính chống oxi hoá tốt, đã được đánh giá bằng cách xác định mức
glutathion (GSH) của máu [19].
17
18
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
ở những nơi ẩm ướt tại các tỉnh Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Bắc Thái, Khánh Hoà,
Lâm Ðồng, Kontum, Ninh Thuận.
Hình 1.4. Cây rau má lá to
Theo Đông y rau má lá to có vị cay, hơi đắng, nó có tác dụng chỉ huyết,
chỉ thống tán ứ thanh nhiệt, thanh phế chỉ khái. Ở một số nước như Ấn Ðộ,
Sri Lanca, Malaixia, Trung Quốc cây này được dùng trị chứng thổ huyết, ho,
đau bụng, gãy xương, lở ngứa, chó cắn, làm thuốc sát trùng. Ðồng bào Dao
dùng toàn cây, giã ra, rắc xuống nước để duốc cá.
1.2.1.2. Rau má nhỏ, rau má mỡ
Tên
khoa
học:
Hydrocotyle
sibthorpioides
Lam.
(H.
Trong số các loài rau má thì cây rau má thường [Centella asiatica
(Linn.) Urban], là loài rau má đã được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm
nghiên cứu.
Cây rau má thường có tên khoa học là Centella asiatica (Linn.) Urban,
thuộc họ hoa tán [Apiaceae]. Ngoài ra còn có các tên gọi khác như là Tích
huyết thảo, Liên tiền thảo. Ở nước ta cây này thường được gọi một cách đơn
giản là rau má... Rau má là loài cây thân thảo mọc bò, rễ mọc từ các mấu của
thân, cây phân nhánh nhiều trên mặt đất. Lá rau má có cuống dài mọc ra từ
gốc hoặc từ các mấu. Lá hình hơi tròn, có mép khía tai bèo, trông giống như
những đồng tiền nhỏ xếp nối tiếp nhau. Hoa ra ở nách lá, tạo thành cụm từ
1đến 5 bông, hình tán đơn, cuống hoa màu trắng hoặc phớt đỏ. Quả dạng dẹt,
có sống khá rõ ràng.
Hình 1.6. Cây rau má thường
Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, có tác dụng
dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Nó thường dùng để làm
thức ăn bổ dưỡng, thuốc sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới,
mụn nhọt, rôm sẩy, trị chứng cảm mạo phong nhiệt, thuỷ đậu sởi, sốt da vàng
21
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
mặt, viêm họng, sưng amidan, viêm khí quản, ho, viêm đường tiết niệu, đái
dắt, buốt...
1.2.1.5. Cây rau má trong một số bài thuốc dân gian [31]
Trong dân gian ngoài việc sử dụng rất rộng rãi để làm rau ăn, làm nước
12 g, Rễ cỏ xước 12 g, Rau má 16 g, Lá dâu 12 g, sắc uống, hoặc làm trà
uống thay nước.
- Sốt xuất huyết: Rau má 20 g, Cỏ mực 16 g, Rau sam 16 g, Đậu đen 16
g. Sắc uống.
- Chảy máu chân răng, chảy máu cam và các chứng chảy máu: Rau má
30 g, Cỏ nhọ nồi và Trắc bá diệp mỗi vị 15 g sao, sắc nước uống.
- Khí hư bạch đới: Rau má phơi khô làm thành bột dùng 2 thìa cà phê
uống mỗi sáng .
- Thống kinh, đau lưng, đau bụng, ăn kém uể oải: Rau má 30 g, ích mẫu
8 g, Hương nhu 12 g, Hậu phác 16 g. Ðổ 600 ml nước, sắc còn 200 ml chia 2
lần uống trong ngày.
- Viêm hạnh nhân: Rau má tươi giã lấy nước cốt, hoà ít giấm nuốt từ từ.
Ho, đái buốt, đái dắt: Rau má tươi giã lấy nước cốt uống hoặc sắc uống.
- Viêm tấy, mẩn ngứa: Rau má trộn dầu giấm ăn, hoặc giã nát vắt lấy
nước, thêm đường uống.
- Thuốc lợi sữa: Rau má ăn tươi hay luộc ăn cả cái và nước.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về chi rau má
1.2.2.1.Thành phần hóa học
Từ những năm 1940, cây rau má đã được các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu công bố về thành
phần hóa học của các loài cây rau má cũng như hoạt tính sinh học của chúng.
Cây rau má lá sen (Hydrocotyle vulgaris)
Năm 2007, từ dịch chiết ethyl acetat của cây rau má lá sen (Hydrocotyle
vulgaris), nhóm tác giả Tôn Nữ Liên Hương (Trường Đại Học Cần Thơ) đã
phân lập được 16 hợp chất là hexenal, (2E)-hexenal, hexen-1-ol, santalen, βcarnesen, β-cubeben ... và quercetin 3-O-galactopyranosid (43) [32].
23
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
các chất chính trong tinh dầu cây này [35].
+ Triterpenoid :
Triterpenoid là thành phần quan trọng nhất của cây rau má. Chất lượng
của cây rau má được đánh giá bởi hàm lượng của triterpenoid có trong cây.
Các triterpen thu được từ cây rau má thường là các axit pentacyclic
triterpen và glycosid, chứa khung ursan hoặc khung oleanan như: axit asiatic,
asiaticosid, axit madecassic, madecassosid, brahmosid, axit brahmic,
brahminosid, thankunisid, isothankunisid, centellosid, axit madasiatic, axit
centic, axit cenellic, axit betulinic, axit indocentic, ....
24
www.DaiHocThuDauMot.edu.vn
+ Flavonoid:
Kết quả nghiên cứu của Zainol M. K., Abd-Hamid A., Yusof S., cho
thấy quercetin và kaempferol, catechin, rutin và naringin là các hợp chất
phenolic chính của cây rau má [36].
+ Các hợp chất khác
Các hợp chất dạng polysaccharid, polyin, alken, acid amin, acid béo,
sesquiterpen, alkaloid, sterol, carotenoid, tanin, chlorophyl, pectin, các muối
vô cơ, .... cũng đã được tìm thấy ở cây rau má.
Từ cây rau má Centella asiatica (Linn.) Urban, sinh trưởng ở Srilanka,
nhóm tác giả người Nhật (Hisashi Matsuda - Trường đại học Dược, KyotoNhật Bản) đã phân lập được 8 tritecpen glycosid là: centellasaponin A (44),
centellasaponin B (45), centellasaponin C (46), centellasaponin D (47),
madecassosid (48), asiaticosid (49), asiaticosid B (50) và sceffoleosid (51)
[37].
45: Centellasaponin B