SKKN Giáo dục kỹ năng sống cho học Tiểu học là cần thiết - Pdf 44

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG TH

ĐỀ TÀI

HỌ VÀ TÊN :

Năm Học : 2016 – 2017
1


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn sáng kiến:
Từ năm học 2010-2011, Bộ GD-ĐT đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống lồng
ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn.
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện về đạo
đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp và hình thành nhân cách, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một nội dung được đông đảo phụ
huynh và dư luận quan tâm, bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết
đối với học sinh và phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay, nhằm đào tạo con
người với đầy đủ các mặt “đức, trí, thể, mỹ” để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Ở bậc tiểu học là bậc tạo nền tảng cho học sinh phát triển, vì vậy ngoài việc
trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản trong học tập, lao động còn phải giáo
dục học sinh có kỹ năng sống, kỹ năng làm người để học sinh có thêm kinh nghiệm
thích ứng với môi trường, xã hội mới.
Năm học 2015-2016 là năm học tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “Xây
dưng trường học thân thiện, học sinh tịhs cực” việc giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh là một trong những nội dung của phong trào. Chí vì vậy nên các nhà trường
cần chú trọng hơn đến nọi dung “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh giúp học sinh tự giải quyết được một số

I/ Cơ sở lý luận.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh có thể quan niệm là việc tổ chức các hoạt
động giáo dục đa dạng, phong phú nhằm kích thích học sinh tham gia một cách tích
cực chủ động vào các quá trình hoạt động, qua đó hình thành hoặc thay đổi hành vi
của trẻ theo hướng tích cực nhằm góp phần phát triển nhân cách toàn diện; giúp
học sinh có thể sông an toàn, khỏe mạnh và tích cực , chủ động trong cuộc sống
hằng ngày. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là giáo dục cho các em có cách
sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vi
theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học
trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp.
1. Kỹ năng sống là gì?
Có nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về kỹ năng sống. Mỗi định nghĩa
được thể hiện dưới những cách thức tiếp cận khác nhau. Thông thường, kỹ năng
sống được hiểu là những kỹ năng thực hành mà con người cần để có được sự an
toàn, cuộc sống khỏe mạnh với chất lượng cao.
- Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ
năng sống là năng lực cá nhânđể họ thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia
vào cuộc sống hàng ngày, những kỹ năng đó gắn vói 4 trụ cột của giáo dục:
Học để biết: gồm các kỹ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định
vấn đề, nhận thức được hậu quả của việc làm…;
Học để làm: gồm kỹ năng thực hiện công việcvà nhiệm vụ như kỹ năng đặt
mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm..;

4


Học để làm người: gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng,
kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…;
Học để chung sống: gồm các kỹ năng như giao tiếp, thương lượng, khẳng
định hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông;

dân tộc. Kỹ năng sống mang tính cá nhân bởi vì đó là khả năng của mỗi cá nhân.
Mặt khác kỹ năng sống có tính xã hội là vì trong mỗi giai đoạn của sự phát triển xã
hội, mỗi tôn giáo, cá nhân được yêu cầu để có sự phù hợpvới những kỹ năng sống
ấy. Ví dụ: kỹ năng sống của những người sống ở những vùng miền khác nhau có sự
khác nhau…
2. Đặc điểm tâm sinh lý trẻ:
- Đặc điểm về thể chất của trẻ: Cơ thể trẻ em là nền tảng vật chất của trí tuệ và
tâm hồn. Nền tảng có vững thì trí tuệ và tình cảm mới có khả năng phát triển tốt.
“Thân thể khoẻ mạnh thì chứa đựng một tinh thần sáng suốt”, ngược lại “tinh thần
sáng suốt thì cơ thể có điều kiện phát triển”. Trong cuộc sống thực tế cho thấy
những trẻ có thể lực yếu thường hay ỷ lại, phụ thuộc nhiều vào những người thân
trong gia đình những việc làm tự phục vụ mà lẽ ra chính trẻ phải tự làm, tự lập dần:
rửa chân tay, mặc quần áo,...
- Một yếu tố nữa ảnh hưởng đến việc tự lập của HS là hệ thần kinh của trẻ. Hệ
thần kinh của trẻ tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh. Bộ óc của các em
phát triển về khối lượng, trọng lượng và cấu tạo. Đến 9, 10 tuổi hệ thần kinh của trẻ
căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ được giữ lại trong suốt cuộc đời.
6


Khả năng kìm hãm(khả năng ức chế) của hệ thần kinh còn yếu. Trong khi đó bộ óc
và hệ thần kinh của các em đang phát triển đi dần đến hoàn thiện nên các em dễ bị
kích thích. Thầy cô giáo và cha mẹ, người thân của các em cần chú ý đến đặc điểm
này để giúp trẻ hình thành tính tự chủ, lòng kiên trì, sự kìm hãm của bản thân trước
những kích thích của hoàn cảnh xung quanh, biết giữ gìn trật tự nơi công cộng và
trong lớp học. Mặt khác không được mắng, doạ dẫm, đe nạt các em vì làm như thế
không những bị tổn thương đến tình cảm mà còn gây tác hại đến sự phát triển thần
kinh và bộ óc của các em.
- Khi trẻ bắt đầu gia nhập cuộc sống nhà trường - đi học tiểu học, các em được
học thêm những điều chưa hề có trong 6 năm đầu đời; khi gia nhập cuộc sống nhà

hệ người – người. Ở tiểu học, do uy tín của người thầy giáo các quan điểm, niềm
tin, toàn bộ những hành vi cử chỉ của người thầy thường là những mẫu mực cho
hành vi của học sinh nói chung. Nó ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ và cách ứng xử
của các em trong quan hệ với người khác và với xã hội. Các em thường tin tưởng
tuyệt đối ở nơi thầy, cô giáo nên chúng thường bắt chước những cử chỉ tác phong
của thầy, cô giáo mình. ở trường các em còn được tiếp xúc với bạn bè, với tập thể
nhóm bạn, tổ, lớp; những hoạt động tập thể cũng ảnh hưởng không ít đến việc hình
thành, phát triển nhân cách và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Qua nhiều năm theo dõi, chỉ đạo công tác chuyên môn ở trường TH ........, tôi
thấy thực tế của vấn đề này là:
1. Về giáo viên:
8


- Một bộ phận giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở sách giáo khoa nên chưa
chịu khó tìm tòi các hình thức và phương pháp tổ chức cho các hoạt động này nên
làm mất sự hứng thú của học sinh.
2. Về học sinh:
- Học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy cô giáo, ít
sáng tạo, tính tự giác chưa cao, lười hoạt động.
- Học sinh chỉ có học kiến thức, khả năng ứng phó với các tình huống trong
cuộc sống kém, tính tự tin ít, tự ti nhiều, thường nóng nảy, gây gổ lẫn nhau.
- Kỹ năng giao tiếp hạn chế, hay nói tục, chửi bậy.
3. Về Phụ huynh:
Nguyên nhân khiến đa phần học sinh khó tiếp cận được các hoạt động kỹ năng
thực hành xã hội là do phụ huynh không cho phép. Đa số phụ huynh cho rằng con
em mình chỉ cần học giỏi kiến thức.
Phụ huynh học sinh chỉ khuyến khích các con tìm kiến thức mà quên hướng

ghép vào các môn học hàng ngày, hoạt động ngoài giờ lên lớp là một trong những
con đường giáo dục có hiệu quả trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Chính vì thế ngoài việc xây dựng và hoàn thiện các quy tắc ứng xử văn hóa trong
nhà trường, bằng nhiều hình thức khác nhau nhà trường thường xuyên tổ chức
những buổi sinh hoạt ngoại khóa với các cuộc thi như "Giao lưu Tiếng Việt của
chúng em", "Giao lưu học sinh giỏi các môn học", “Hưởng ứng ngày lễ toàn cầu về
giáo dục” trò chơi dân gian, trò chơi vận động,… tham gia các hoạt động dọn vệ
sinh bảo vệ môi trường, tổ chức các hoạt động quyên góp ủng hộ bạn nghèo, bạn bị
bệnh tật hiểm nghèo...Thông qua những hoạt động này, nhà trường muốn rèn luyện
cho các em học sinh tính đoàn kết tập thể, khả năng làm việc theo nhóm. Đồng
thời xây dựng tinh thần chia sẻ, ý thức trách nhiệm cho các em.
10


Chính nhờ việc chú trọng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của nhà trường
đã tạo tinh thần đoàn kết, gắn bó, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, học
sinh nỗ lực tiếp thu bài giảng và tìm tòi những kiến thức liên quan đến bài học để
liên hệ áp dụng vào thực tiễn, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Các em cảm thấy rất vui và biết thêm nhiều kiến thức. Nhờ đó các em biết
tự chăm sóc bản thân như là tự sắp xếp góc học tập thật ngăn nắp, tự giặt quần áo
cho mình, vệ sinh cá nhân và môi trường sống.... Ngoài ra, em còn giúp bố mẹ
nhiều việc nhà. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong việc đổi mới và nâng
cao chất lượng giáo dục xem học sinh là trung tâm, góp phần tạo điều kiện cho việc
hoàn thiện nhân cách học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Từ những thực trạng trên đây, thì việc " Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trong trường Tiểu học" là một việc làm vô cùng cần thiết giúp cho các em say
mê, hứng thú trong học tập, các em thấy mình mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin
hơn trong việc thể hiện những năng lực của bản thân .
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
"Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường Tiểu học".

nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại… Kỹ năng sống đơn giản
là tất cả điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những
thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống.
Vì thế giáo viên cần nắm rõ nắm rõ 5 nguyên tắc về giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh. :
12


+ Tương tác: các kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề … được hình
thành tốt trong quá trình HS tương tác với bạn bè và những người xung quanh. Tạo
điều kiện để các em có dịp thể hiện ý kiến của mình và xem xét ý kiến của người
khác... Do vậy GV cần tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác trong các hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp để giáo dục kỹ năng sống cho các em.
+ Trải nghiệm: Cần phải có thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp cho HS được hoạt động thực, có cơ hội thể hiện ý tưởng, có cơ hội xử lí các
tình huống cũng như phản biện…Kỹ năng sống chỉ được hình thành khi người học
trải nghiệm qua thực tế và nó có kĩ năng khi các em được làm việc đó.
+ Nguyên tắc tiến trình và nguyên tắc thay đổi hành vi: Giáo viên không thể giáo
dục kỹ năng sống trong một lần mà kỹ năng sống là một quá trình từ nhận thứchình thành thái độ- thay đổi hành vi. Thay đổi hành vi của một con người đặc biệt
hành vi tốt là quá trình khó khăn. Do vậy giáo dục kỹ năng sống không thể là ngày
một ngày hai mà phải là cả một quá trình.
+ Thời gian và môi trường giáo dục: Giáo dục giáo dục kỹ năng sống được thực
hiện mọi lúc mọi nơi; giáo dục kỹ năng sống được giáo dục trong mọi môi trường
như gia đình, nhà trường, xã hội; cần phải tạo điều kiện tối đa cho HS tham gia vào
các tình huống thật trong cuốc sống.
Do đó trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
phải đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc của giáo dục.
3. Phát huy vai trò, tác dụng và hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh:
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là hoạt động được tổ chức theo mục tiêu, nội

14


2. Lồng ghép các nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các môn học có ưu thế
và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường.
3. Tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các môn học, vào các hoạt
động giáo dục khác.
4. Thường xuyên tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi tập thể lành mạnh, chơi
các trò chơi dân gian, tổ chức các hoạt động văn nghệ thể thao, qua các hoạt động
rèn cho học sinh kĩ năng ứng xử với bạn bè, xây dựng tinh thần đoàn kết tốt, kỹ
năng lắng nghe, kỹ năng hợp tác, kỹ năng quyết định, biết kiềm chế bản thân trong
khi xử lí các tình huống với bạn bè.
5. Tổ chức hoạt động ngoại khoá chuyên đề “Giáo dục kỹ năng sống cho HS”,
tạo cho HS một sân chơi để HS được thực hành kỹ năng sống, được giao lưu, được
tư vấn về kỹ năng sống để hiệu quả rèn kỹ năng sống cho học sinh được nâng lên
gắn liền với thực tế cuộc sống.
6. Tổ chức các hoạt động lao động vừa sức với học sinh: vệ sinh sân trường,
lớp học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường, ; học sinh được
rèn một số kỹ năng như: cầm chổi quét, hót rác, tưới cây, tỉa lá,...; thông qua đó HS
biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động.
7. Giáo viên không chỉ nhằm hình thành những khái niệm khoa học, cách làm
việc trí óc mà còn hướng dẫn tới sự tạo dựng phát triển các nhân cách của học sinh.
Đặc biệt trẻ tiểu học thường hay bắt chước người lớn và rất tin tưởng ở các thầy
giáo, cô giáo. Vì vậy, mỗi giáo viên cũng phải luôn thường xuyên tự rèn kỹ năng
sống, luôn thể hiện là tấm gương trong sáng, mẫu mực cho học sinh noi theo.
8.

Giáo viên cần thực hiện tốt đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính

tích cực chủ động sáng tạo của học sinh (VD: sử dụng phương pháp thảo luận


Tự mình mặc

Cần người lớn

Tự giác không

Chưa tự giác,

quần áo

giúp mặc quần

cần nhắc nhở

bố mẹ phải nhắc

áo

15

nhở nhiều

SL

%

SL

%


17

Biết cách lắng nghe, hợp tác

Chưa biết cách lắng nghe, hay tách
ra khỏi nhóm

SL

%

SL

%

14

82,4

3

17,6

- Khảo sát lớp 5 năm học 2015-2016: Nội dung khảo sát: ứng xử với bạn khi
chơi các trò chơi dân gian tập thể. Khảo sát qua quan sát thực tế, kết hợp với
GVCN, TPTĐ đánh giá HS:
17



cảm nhận, đánh giá, nhận xét qua các hành vi và từ đó hình thành các kỹ năng; thực
hiện sự phối hợp trong và ngoài nhà trường làm tốt công tác xã hội hoá trong việc
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
2. Giáo dục kỹ năng sống trong trường học góp phần rèn luyện, hình thành cho
học sinh sống có trách nhiệm hơn và biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp, ứng phó
với các sức ép, thách thức trong cuộc sống; thúc đẩy hành vi mang tính xã hội,
giảm bớt tỷ lệ phạm pháp.
3. Giáo dục kỹ năng sống còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy, trò,
sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả

18


giáo dục. Học sinh được giáo dục kỹ năng sống xác định được bổn phận và nghĩa
vụ của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội.
4. Giáo dục kỹ năng sống còn cần đến vốn sống, tình thương và nhân cách của
người thầy. Học sinh học kiến thức ở thầy trước hết là ở tấm gương sống của người
thầy. Vì vậy, để học sinh không thất vọng vì thầy thì trước hết “mỗi thầy cô giáo là
một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” mà ngành Giáo dục đang vận động.
5. Giáo dục kỹ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ sung,
nâng cấp để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống biến động. Người trưởng thành
cũng vẫn cần học kỹ năng sống.
6. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh không phải là công việc “một sớm, một
chiều” mà đòi hỏi phải có quá trình, kiên nhẫn và bằng cả tâm huyết và ở mọi lúc,
mọi nơi, thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Kỹ năng sống rất đa dạng và
mang đặc trưng vùng, miền đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng một cách linh
hoạt, sáng tạo cho phù hợp với nhu cầu, trình độ của học sinh và đặc điểm, hoàn
cảnh của nhà trường, địa phương.
7. Giáo dục kỹ năng sống không phải chỉ là công việc của giáo viên, nhà trường
mà của cả xã hội, cộng đồng, có như vậy mới mong đào tạo ra được những thế hệ


1

II/ Đối tượng nghiên cứu

2

III/ Phạm vi nghiên cứu

2

IV/ Phương pháp nghiên cứu

2

B. PHẦN NỘI DUNG

3

I/ Cơ sở lý luận.

3

1. Kỹ năng sống là gì?

3

2. Đặc điểm tâm sinh lý trẻ

5

11

3. Phát huy vai trò, tác dụng và hiệu quả của hoạt
động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

12

IV/ Một số biện pháp cụ thể

13

C. PHẦN KẾT LUẬN

17
21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status