Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hóa tỉnh quảng trị giai đoạn 2007 2011 - Pdf 44

Bộ giáo dục và đào tạo

Bộ nông nghiệp và PTNT

Trường đại học lâm nghiệp
-------------o0o---------------

Văn Ngọc Thắng

Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động
bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn
thiên nhiên bắc hướng hóa-tỉnh quảng trị
giai đoạn 2007-2011

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà tây, năm 2007


Bộ giáo dục và đào tạo

bộ nông nghiệp và PTNT

Trường đại học lâm nghiệp
---------------o0o----------------

Văn Ngọc Thắng

Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động
bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn
thiên nhiên bắc hướng hóa-tỉnh quảng trị

tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin chân thành cám ơn Uỷ ban nhân dân các xã Hướng Lập, Hướng
Việt, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh cùng các ban ngành cấp huyện
đã giúp tác giả có được những thông tin cần thiết phục vụ cho xây dựng luận
văn. Xin chân thành cám ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về mọi mặt để
hoàn thành luận văn này.

Tác giả: Văn Ngọc Thắng


MỞ ĐẦU
Vùng Bắc Hướng Hoá nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Trị, thuộc
phía Nam của vùng Bắc Trường Sơn có độ cao từ 450 mét đến 1.770 mét.
Đây là vùng chuyển tiếp giữa các vùng khí hậu Bắc- Nam và Đông - Tây của
dãy Trường Sơn. Do vị trí địa lý đặc biệt nên trong vùng đã hình thành nhiều
kiểu rừng như: rừng kín thường xanh nhiệt đới, rừng kín hỗn giao giữa lá
rộng-lá kim á nhiệt đới, rừng tre nứa, rừng trên núi đá vôi. Các hệ sinh thái
rừng ở đây còn ít bị tác động nên còn mang nhiều tính nguyên sinh.
Theo điều tra ban đầu của tổ chức chim Quốc tế (Birdlife
International), của viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thì đây là vùng có tính
đa dạng sinh học cao với : 920 loài thực vật, 42 loài thú, 171 loài Chim, 30
loài lưỡng cư, 31 loài bò sát. Trong đó có 17 loài thực vật, 11 loài thú và 12
loài chim được ghi trong sách đỏ Việt Nam; 23 loài thực vật, 11 loài thú và 9
loài chim được ghi trong sách đỏ thế giới. Đây được xem là quê hương của
các loài chim trĩ đặc hữu ở Đông Dương, là một vùng chim quan trọng theo
các tiêu chí Quốc Tế bởi sự có mặt của các loài chim đặc hữu; các loài thú
lớn và linh trưởng đang bị đe dọa mang tính toàn cầu.
Khu vực này còn là rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu của 4 con sông
là: sông Bến Hải, sông Cam Lộ (sông Hiếu), sông Xê Păng Hiêng (chảy vào
sông Mê Kông bên Lào) và đặc biệt quan trọng là sông Rào Quán (sông

được yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học của khu bảo tồn nhưng đồng thời cũng
đảm bảo được các nhu cầu cho sự phát triển bền vững, tôi đã chọn đề tài
“Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại khu
bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa- Quảng Trị giai đoạn 2007-2011”.
Yêu cầu hoạt động bảo tồn phải phù hợp với tình hình thực tế, gắn kết với các
hoạt động địa phương và phù hợp với các chủ trương chính sách của nhà
nước, đòi hỏi mọi hoạt động dù ngắn hạn hay dài hạn đều nhằm tới mục tiêu
kết hợp bảo tồn với phát triển bền vững. Kế hoạch hoạt động bảo tồn được
xây dựng trên cơ sở đó sẽ góp phần cho Ban quản lý khu bảo tồn và các đối
tác liên quan thực hiện có kết quả kế hoạch quản lý của mình trong thời gian
tới.


Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Bảo tồn đa dạng sinh học
1.1.1. Những khái niệm cơ bản về đa dạng sinh học
Công ước đa dạng sinh học năm 1992, định nghĩa đa dạng sinh học
(ĐDSH) như sau:
" Đa dạng sinh học là sự khác biệt trong mọi cơ thể sống có từ mọi
nguồn, từ các hệ sinh thái ở đất liền, ở biển, và các hệ sinh thái khác ở môi
trường nước, và mọi tổ hợp sinh thái mà các cơ thể sống là thành phần hợp
thành. Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự đa dạng trong loài, giữa các loài, và
các hệ sinh thái. Đa dạng sinh học bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền,
các cơ thể hay các phần của cơ thể , các chủng quần, hay các hợp phần sinh
học khác của hệ sinh thái, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử
dụng cho loài người"[16, tr.11].
Vậy đa dạng sinh học là sự phong phú về sự sống trên trái đất của hàng
triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng với nguồn gen của chúng và các

tác giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội.
1.1.2. Bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới
Ngày nay bảo tồn ĐDSH đã trở thành một chiến lược toàn cầu. Đa
dạng sinh học có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội, trong đời sống vật chất và tinh thần của con người, trong việc duy trì
các chu trình tuần hoàn tự nhiên và sự cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự
sống còn, sự thịnh vượng và bền vững của loài người cũng như của trái đất
nói chung. Thế nhưng do dân số và yêu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên
của con người ngày càng tăng nên cũng chính con người đã và đang khai thác
nguồn tài nguyên này một cách quá mức, đặc biệt ở vùng nhiệt đới, dẫn tới sự
suy thoái các hệ sinh thái, làm nghèo kiệt nguồn ĐDSH, thậm chí hủy diệt
nguồn tài nguyên quý giá đó để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của


mình. Đến nay đã có hơn 40% diện tích rừng nhiệt đới nguyên thuỷ bị phá
huỷ, trung bình hàng năm có khoảng 6-7 triệu hecta đất trồng trọt bị mất khả
năng sản xuất do xói mòn. Ước tính 5-10% số loài trên thế giới sẽ biến mất
vào khoảng giữa những năm 1990 đến 2020, và số loài bị tiêu diệt sẽ tăng lên
đến 25% vào khoảng năm 2050 (IUCN, UNEP, WWF, 1996). Đứng trước
tình hình đó nhiều tổ chức quốc tế như IUCN, Chương trình môi trường Liên
hợp quốc (UNEP), WWF, Viện tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI) v.v đã
hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển ĐDSH trên
toàn phạm vi toàn thế giới. Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của loài người phụ
thuộc vào các nguồn tài nguyên của trái đất, nhất là tài nguyên ĐDSH, nếu
những tài nguyên đó bị giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu mai
sau sẽ bị đe doạ. Con người đã quá lạm dụng trong việc khai thác các nguồn
tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến tương lai, có thể nói đây là một
thảm hoạ. Nhận thức được tầm quan trọng của ĐDSH đối với sự tồn tại của
xã hội loài người và đứng trước sự suy giảm với tốc độ ngày càng nhanh của
ĐDSH, con người đã bắt đầu những hoạt động có hiệu quả để bảo tồn nguồn

4. Khu BTTN / Khu BTTN có quản lý / Khu bảo tồn động vật (Nature
Conservation Reserve / Managed Nature Reserve / Wildlife Sanctuary);
5. Khu bảo vệ cảnh quan trên đất liền và trên biển (Protected Landscape
or Seascape);
6. Khu bảo tồn tài nguyên (Resource Reserve);
7. Khu bảo tồn sinh học tự nhiên/Khu bảo tồn nhân chủng học (Nature
biotic Area/Anthropological Reserve);
8. Khu quản lý đa tác dụng/Khu quản lý tài nguyên (Multiple Use
Management Area / Managed Resource Area);
9. Khu bảo tồn sinh quyển (Biosphere Reserve);
10.Khu Di sản thiên nhiên thế giới (World Natural Heritage Site)
Năm 1994 sau hội nghị của hội đồng khu bảo tồn thiên nhiên và vườn
quốc gia tại Caracas, thủ đô của Venezuela, IUCN đã đưa ra hệ thống mới bao
gồm các loại hình để quản lý và tùy theo từng loại hình mà mức độ quản lý có


khác nhau, bao gồm:
1. Loại I: Khu BTTN nghiêm ngặt / Khu bảo tồn tính hoang dã (Strict
nature Reserve/Wildeness Area).
Ia. Khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt ( Strict Nature Reserve)
Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu nhằm mục đích khoa học
Ib. Khu bảo tồn tính hoang dã (Wildeness Area)
Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ tính hoang dã của tự nhiên.
2. Loại II: Vườn quốc gia (National Park)
Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ hệ sinh thái và vui chơi,
giải trí.
3. Loại III: Thắng cảnh tự nhiên (Natural Monument)
Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ các cảnh quan thiên nhiên
đặc biệt.
4. Loại IV: Khu bảo vệ loài / sinh cảnh (Habitat/Species Management

khu Bạch Mã .
Trong thời kỳ chiến tranh diễn ra rất ác liệt, Chính phủ Việt Nam đã
quyết định thành lập khu rừng cấm đầu tiên là rừng cấm Cúc Phương vào
ngày 17 tháng 7 năm 1962 .
Sau Cúc Phương, 10 khu rừng cấm khác trong phạm vi toàn quốc được
công nhận, theo quyết định 41/TTg ngày 24/1/1977 của Thủ Tướng Chính
Phủ. Tiếp theo đó, nhiều khu rừng có giá trị BTTN, bảo tồn ĐDSH được phát
hiện, tiếp tục trình Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập như Khu
BTTN Nam bãi Cát Tiên (1978); Khu BTTN Mom Ray-Ngọc Vin (1982);
Khu rừng cấm Côn Đảo (1986).
Ngày 9/8/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có quyết định số 194/CT
công nhận tiếp 73 khu rừng đặc dụng , trong đó gồm 2 VQG, 46 khu dự trữ
thiên nhiên, 25 khu di tích lịch sử văn hoá .
Cho tới tháng 8 năm 1986 một hệ thống các khu rừng cấm, thực chất
là những khu Bảo tồn thiên nhiên do ngành Nông - Lâm nghiệp quản lý đã
được hình thành bao gồm 87 khu với tổng diện tích trên 900.000ha và được
chia làm 3 loại hình:
1. Vườn Quốc Gia (National Park): 7 khu
2. Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên (Nature Reserve): 49 khu


3.Khu Văn hoá, Lịch sử, Môi trường (Cultural, Historical and
Environmental Site ) : 31 khu
Ngày 19/12/1986, Bộ Lâm nghiệp (cũ) ra quyết định 1171-QĐ ban hành
Qui Chế quản lý 3 loại rừng: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
Lần đầu tiên thuật ngữ “rừng đặc dụng”(RĐD) được sử dụng thay cho thuật
ngữ “rừng cấm” một cách chính thức và cũng lần đầu tiên rừng đặc dụng và 3
loại hình (Categories) của nó được định nghĩa và phân cấp quản lý.
Rừng đặc dụng (Special use forest) là một thành phần của vốn rừng
Quốc gia, được xây dựng nhằm các mục tiêu sau đây:

đã ban hành quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý rừng
thay cho Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg, ngày 11 tháng 1 năm 2001 trước
đây. Rừng đặc dụng được chia thành 4 loại :
1.Vườn quốc gia.
2.Khu Bảo tồn thiên nhiên
2a. Khu dự trữ thiên nhiên
2b. Khu bảo tồn loài hay sinh cảnh
3. Khu bảo vệ cảnh quan
4. Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Bảng 1.1: Hệ thống khu rừng đặc dụng ở Việt Nam
Phân hạng
I.

Vườn Quốc gia

Số lượng (khu)

Diện tích (ha)

30

1.041.956

II. Khu bảo tồn thiên nhiên

60

1.184.372

- IIa. Khu BTTN dữ trữ thiên nhiên

Như vậy, công tác bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam đã hình
thành, phát triển trong hơn 40 năm qua. Trong quá trình phát triển chúng ta đã
từng bước bổ sung, mở rộng, hình thành được một hệ thống khu bảo tồn rừng
và đất ngập nước ven biển. Chúng ta cũng đã xây dựng, bổ sung, các quy định
của pháp luật, các văn bản có liên quan đến việc quản lý tài nguyên rừng và
đa dạng sinh học. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các hoạt động
bảo tồn.
Nếu so hệ thống phân hạng rừng đặc dụng của Việt Nam với hệ thống
phân hạng của IUCN, 1994 thì còn có những điểm chưa tương thích. Hệ
thống phân hạng của IUCN,1994 được sắp xếp theo mục tiêu bảo tồn giảm
dần ( khu bảo tồn thiên nhiên đứng đầu, vườn quốc gia đứng thứ 2...) và các
mục tiêu phát triển (sử dụng hợp lý) tăng dần (từ khu quản lý tài nguyên thiên
nhiên, đến khu bảo tồn cảnh quan...). Theo hệ thống phân hạng của Việt Nam
thì khu bảo tồn loài và sinh cảnh là một phân loại (Sub- category) của khu bảo
tồn trong khi theo hệ thống phân hạng của IUCN thì nó là một loại riêng vì có
mục tiêu quản lý khác nhau.
Như vậy hệ thống phân hạng các khu bảo tồn Việt Nam chưa có sự
thống nhất với cách phân hạng quốc tế. Trong quản lý hiện nay vẫn chủ yếu là
bảo vệ nghiêm ngặt, chưa gắn kết được các quan điểm hiện đại về bảo tồn là
vừa bảo tồn vừa phát triển.
Về quản lý, hiện nay việc quản lý hệ thống các khu bảo tồn đang phân
chia theo các ngành chức năng nên chưa thống nhất được (Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn đang quản lý các khu bảo tồn liên quan đến môi trường
rừng trên đất liền và ven biển, Bộ Thủy Sản quản lý các khu bảo tồn biển, Bộ
tài nguyên và môi trường quản lý các khu đất ngập nước). Do chưa phân chia
các cấp quản lý cụ thể nên hệ thống quản lý và nguồn đầu tư cho các khu bảo
tồn hiện nay chủ yếu dựa vào nhà nước, chưa huy động được sự tham gia của


các thành phần trong xã hội khác tham gia vào lĩnh vực bảo tồn.


cách khôn khéo các chủng quần động, thực vật hoang dã, các sinh cảnh, đất
và giám sát các tác động của con người nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể
mà ta gọi là mục tiêu quản lý. Mục tiêu quản lý của vườn quốc gia hay khu
bảo tồn có thể xem như kim chỉ nam cho những người có trách nhiệm thực thi
các biện pháp quản lý. Kế hoạch quản lý một vườn quốc gia hay khu bảo tồn
phải thể hiện được mục tiêu mà bản kế hoạch tổng thể (thường là luận chứng
kinh tế kỹ thuật) đề ra , một kế hoạch quản lý tốt phải thể hiện được ý kiến
của cộng đồng địa phương nhằm hạn chế mâu thuẫn và đảm bảo sự hài hòa về
mục tiêu quản lý và lợi ích của cộng đồng, trên cơ sở quan điểm bảo tồn và
phát triển bền vững. Bảo tồn (Conservation) là việc bảo vệ các hệ sinh thái và
tài nguyên thiên nhiên thông qua sử dụng bền vững. Nó khác sự bảo tồn
(Preservation) mà ngụ ý là sự bảo vệ nghiêm ngặt mà không sử dụng.[35]
Đa dạng sinh học nói riêng và thiên nhiên của nước ta nói chung đã bị
xuống cấp đến mức độ báo động do nhiều lý do khác nhau, trong đó khâu
quản lý có tầm quan trọng đặc biệt. Tuy nhiên, việc quản lý đến nay hầu như
vẫn chưa có được những tiến bộ mang tính đột phá là do chưa có sự tham gia
“tích cực” của nhân dân nói chung và các cộng đồng địa phương nói riêng.
Hay nói một cách khác là cần có một sự thay đổi trong toàn bộ xã hội về quản
lý bảo vệ đa dạng sinh học và thiên nhiên. Isobel W. Heathcote (1998) cho
rằng quản lý thiên nhiên nói chung là một tiến trình nhằm thiết lập một
chương trình về thay đổi xã hội. Tác giả cho rằng “Thay đổi xã hội không thể
có nếu những cộng đồng bị tác động không cho thay đổi là cần thiết”. Do đó,
công việc lập kế hoạch bảo tồn không chỉ phải quan tâm đến sản phẩm cuối
cùng mà còn phải đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân, đặc biệt là
những cộng đồng bị tác động. Bởi vậy việc tham gia vào quá trình lập kế
hoạch bảo tồn của các cộng đồng có liên quan (stakeholders) là khâu then
chốt. Đó cũng chính là vai trò của cộng đồng có liên quan trong việc bảo đa
dạng sinh học, hay nói một cách khác là Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng
(Community-based conservation management).

giao đất giao rừng cho cộng đồng. Sau khi có Luật bảo vệ và phát triển rừng
Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm


tạo khuôn khổ pháp lý và thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên cộng đồng chưa được xem là đối tượng điều
chỉnh của các văn bản trên. Bộ Luật dân sự năm 1995 cộng đồng dân cư cũng
không đủ điều kiện để được xem là pháp nhân, là tổ chức, là chủ thể trong
giao dịch dân sự v.v.
Trong quá trình thực thi pháp luật và nghiên cứu các vấn đề đang đặt ra
trong thực tiễn, vai trò của cộng đồng đã từng bước được xác nhận. Nghị định
số 17/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng bộ trưởng về thi hành Luật bảo vệ
và phát triển rừng đã công nhận "rừng làng, rừng bản thuộc quyền sử dụng
công cộng của làng, bản theo quy định của pháp luật. Khi làng, bản đó chuyển
đi nơi khác thì Nhà nước thu hồi và bồi hoàn thoả đáng... Những làng, bản
hiện còn rừng làng, rừng bản trước ngày ban hành Luật bảo vệ và phát triển
rừng và luật đất đai thì được xét công nhận là chủ rừng hợp pháp đối với
những diện tích rừng, đất trồng rừng đang quản lý, sử dụng".
Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn và tổ dân phố ban hành theo
Quyết định số 04/2000/QĐ-BNV ngày 6/12/2002 của Bộ trưởng bộ Nội vụ,
gọi thôn (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phun, sóc...) và tổ dân phố "không phải là
một cấp hành chính mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư, nơi thực
hiện dân chủ một cách trực tiếp, rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động
tự quản và tổ chức nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước...".
Trong nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7 tháng 7 năm 2003 của chính
phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã đã có Chương IV nói về xây
dựng cộng đồng dân cư thôn: Thôn là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư
(Điều 15); Hội nghị nhân dân thôn được tổ chức 6 tháng một lần (Điều 16);
Thôn xây dựng hương ước và quy ước (Điều 18) v.v

thống quản lý và thực thi pháp luật hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng. Giao
rừng cho cộng đồng là một thực tế khách quan phù hợp với phong tục của
nhiều dân tộc ít người tại các vùng rừng núi trong cả nước.
Năm 2004, Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được sửa đổi và đã công


nhận cộng đồng có quyền được giao rừng. Cộng đồng dân cư thôn là chủ thể
đặc biệt trong giao rừng, có một số quyền và nghĩa vụ như những chủ rừng
khác. Đây là một sự thay đổi lớn của Luật bảo vệ và phát triển rừng, là cơ sở
để các cộng đồng quản lý những diện tích rừng đã và sẽ có để phục vụ lợi ích
của cộng đồng cũng như của toàn xã hội. Luật bảo vệ và phát triển rừng ra đời
phù hợp với phong tục tập quán tốt đẹp của nhiều dân tộc, đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn cuộc sống và nguyện vọng của đông đảo đồng bào các dân
tộc vùng nông thôn miền núi.
Để cụ thể hoá và thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi năm
2004, chính phủ đã có quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ngày 14 tháng 8
năm 2006 về việc Ban hành quy chế quản lý rừng. Tại Điều 15 có quy định
"Tổ chức, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng đặc dụng mà cấp
Bộ hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh không thành lập ban quản lý khu rừng, có
trách nhiệm tổ chức việc quản lý khu rừng được giao". Như vậy đây là cơ sở
pháp lý quan trọng để cộng đồng có thể tham gia vào việc quản lý các khu
bảo tồn trong thời gian tới.
Hiện nay, đã có các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý rừng của
cộng đồng, tuy nhiên nhìn tổng quát của vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, bao
gồm cả các vấn đề đất ngập nước, rừng và biển thì vẫn thiếu các văn bản pháp
luật điều chỉnh. Luật đa dạng sinh học sẽ đáp ứng vấn đề này, tuy nhiên hiện
nay chúng ta vẫn còn thiếu. Đây là yêu cầu khách quan của quá trình phát
triển công tác bảo tồn, nó đòi hỏi sự nỗ lực đóng góp của các Bộ, các ngành
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Luật đa dạng sinh học.
1.3. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học tại Quảng Trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status