Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất phương án quy hoạch và một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên ngọc linh, tỉnh kon tum - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Nguyễn Tuấn Anh


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ tại trường Đại học Lâm
Nghiệp Việt Nam và mong muốn góp phần công sức của mình vào sự nghiệp
phát triển của Khu BTTN Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum, tôi đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất phương án quy hoạch
và một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên
Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum”.
Để hoàn thành được đề tài và bản luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng
góp quý báu của các thầy, cô giáo, bạn bè. Nhân dịp này cho tôi bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Huy Dũng người thầy đã tận tình giúp đỡ tôi
trong cả quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, xin cảm ơn các thầy cô
giáo và Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, khoa đào tạo
sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn
thành các nội dung và chương trình mà luận văn đặt ra.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và cán bộ công nhân viên của

1.2. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam ............................ 10
1.3. Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh ....................................................... 16
1.4. Đánh giá ................................................................................................ 19
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI
NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 21
2.1. Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................. 21
2.1.1. Mục tiêu tổng quát .............................................................................. 21
2.1.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................... 21
2.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 21
2.2.1. Nghiên cứu đánh giá cơ sở khoa học và thực tiễn ............................... 21
2.2.2. Đề xuất phương án quy hoạch KBT thiên nhiên Ngọc Linh ................ 22


iv

2.2.3. Đề xuất các giải pháp bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học tại khu
BTTN Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum. .................................................................. 22
2.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 22
2.3.1. Quan điểm và phương pháp luận ........................................................ 22
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 24
2.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................... 31
3.1. Cơ sở thực tiễn xây dựng quy hoạch ...................................................... 31
3.1.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................. 31
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .................................................................... 36
3.1.3. Cơ sở hạ tầng, y tế giáo dục ............................................................... 39
3.1.4. Đánh giá............................................................................................. 41
3.2. Cơ sở khoa học ...................................................................................... 41
3.2.1. Đặc điểm đa dạng sinh học Khu BTTN Ngọc Linh.............................. 41
3.2.2. Sự đa dạng về thành phần loài thực vật trong khu BTTN Ngọc Linh .. 55

STT
1

Tên viết tắt
BQL

Tên đầy đủ
Ban quản lý

2

BTTN

Bảo tồn thiên nhiên

3
4
5
6
7
8

CTNS21VN
DTSQ
DVMTR
ĐDSH
EBA
IUCN

Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam

Ô tiêu chuẩn
Phòng cháy chữa cháy rừng

17
18
19
20
21
22
23
24
25

PRA
QLBVR
UBND
TNĐDSH
TNR
VQG
VCF
RĐD
WWF

Đánh giá nông thôn có sự tham gia
Quản lý bảo vệ rừng
Uỷ ban nhân dân
Tài nguyên đa dạng sinh học học
Tài nguyên rừng
Vườn Quốc gia
Qũy bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam

42

3.3

Đa dạng các bậc Taxon của hệ thực vật khu BTTN Ngọc Linh

56

3.4

Hệ số họ, chi và loài theo diện tích

57

3.5

Các họ đa dạng nhất của hệ thực vật Ngọc Linh

58

3.6

Các chi đa dạng nhất trong hệ thực vật Ngọc Linh

60

3.7

Tổng hợp tài nguyên động vật KBTTN Ngọc Linh



3.14 Hiện trạng các loại rừng và đất đai phân khu hành chính dịch vụ

91

3.15 Tổng hợp nhu cầu kinh phí đầu tư các chương trình

96

3.16 Kế hoạch vốn và tiến độ đầu tư

97

3.17 Xác định nguồn vốn đầu tư

98


viii

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TT

Tên hình

Trang

2.1

Các bước thực hiện đề tài

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài sản có ý nghĩa quan trọng trong đời sống con người. Ngoài
khả năng cung cấp gỗ, củi, dược liệu... Rừng còn có vai trò to lớn trong việc
bảo vệ đất, nước, không khí tạo nên sự cân bằng sinh thái và sự phát triển bền
vững của sự sống trên trái đất.
Rừng chiếm 31% tổng diện tích đất trên thế giới, là lá phổi của Trái đất,
thảm thực vật giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp gỗ, củi; điều
hoà khí hậu; ngăn chặn gió bão; tạo ra Oxy; điều hoà nước; là nơi cư trú của
muôn loài động thực vật và nơi tàng trữ các nguồn tài nguyên quý hiếm…
Đặc biệt, rừng là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững toàn cầu.
Hiện nay vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững đã và đang được cả thế
giới quan tâm. Năm 2011 Liên Hợp Quốc đã quyết định chọn là Năm Quốc tế
về rừng với mục tiêu chính là thúc đẩy việc quản lý, bảo tồn và phát triển bền
vững tất cả các loại rừng; đồng thời tăng cường cam kết chính trị lâu dài giữa
các quốc gia dựa trên “Tuyên bố Rio” (1992), các nguyên tắc trong Chương
trình nghị sự 21 về chống phá rừng.
Khu rừng đặc dụng Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum được thành lập theo
quyết định số 194/TC ngày 09/08/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Thủ tướng Chính phủ). Trong những năm qua Ngọc Linh không chỉ được
biết đến là nơi có giá trị đa dạng sinh học cao mà còn được đánh giá nơi phát
hiện và ghi nhận nhiều loài mới cho khu hệ thực vật Việt Nam như: Kiều
diễm việt nam - Pleione vietnamensis, Cầu diệp ngọc linh - Bulbophyllum
ngoclinhensis, Kiều lam văn duy - Calanthe duyana, Sâm ngọc linh - Panax
vietnamensis, Sồi ba cạnh - Trigonobalanus verticillata,… đối với động vật:
Khướu ngọc linh - Garrulax ngoclinhensis, Khướu đầu đen - Garrulax
yersini, Khướu vằn đầu đen - Actinodura sodangorum, Ếch gai hàm ngọc linh
- Leptobrachium ngoclinhense,…


2



Sử dụng lâu bền các bộ phận hợp thành của nó.



Phân phối công bằng và hợp lý các lợi ích phát sinh từ các nguồn tài

nguyên di truyền.
Nói cách khác, mục tiêu của công ước là phát triển các chiến lược quốc
gia về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. Nó thường được coi là
văn kiện trọng yếu liên quan đến phát triển bền vững. Công ước được đưa ra
ký kết tại Hội nghị thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro vào ngày 5 tháng 6
năm 1992 và có hiệu lực từ ngày 29 tháng 12 năm 1993. Tính đến tháng 5
năm 2009 đã có 191 quốc gia tham gia Công ước này. Việt Nam chính thức
gia nhập vào ngày 16 tháng 11 năm 1994. Đến năm 2000 đã ký kết Nghị định
thư Cartagena, có hiệu lực vào năm 2003, được phê chuẩn vào năm 2010 và
ban hành vào tháng 10 năm 2014.
1.1.1.2.Bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới
Bảo tồn ĐDSH được được đề cập ở đây là nói đến các hoạt động nhằm
gìn giữ được ĐDSH về các mặt cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho
cuộc sống của con người, các giá trị về xã hội, văn hoá và các dịch vụ về sinh
thái. Bảo tồn ĐDSH cũng bao gồm cả các hoạt động liên quan đến bảo tồn
các loài, nguồn gen có trong mỗi loài và các sinh cảnh, các cảnh quan. Thông
qua việc bảo tồn các hệ sinh thái và việc khai thác một cách hợp lý các cây,


4

con và cả các nguồn tài nguyên vi sinh vật để phục vụ cho cuộc sống của con


Năm

Số lượng các khu

Diện tích (triệu km2)

bảo tồn
1

1962

9214

2,4

2

1972

16394

4,1

3

1982

27794


năm 1872. Trong quá trình hình thành và phát triển các khu RĐD, mỗi nước
đều có cách tiếp cận riêng, không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung,
điều này gây trở ngại cho việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về khu
RĐD trong phạm vi khu vực và toàn cầu.
Những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ những thuật ngữ và phân hạng các
khu RĐD được ghi nhận vào năm 1933. Hệ thống phân hạng quốc tế khu bảo
tồn đầu tiên được IUCN xây dựng và công bố năm 1978 - gọi là hệ thống
phân hạng 1978. Hệ thống phân hạng 1978 của IUCN gồm có 10 phân hạng.
Hệ thống này đã được sử dụng tương đối rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới
và trong các hoạt động quốc tế như làm cơ sở cho xây dựng “Danh Mục các
khu RĐD của Liên Hiệp Quốc năm 1993”.


6

Tuy nhiên, ngay sau đó, Hệ thống phân hạng 1978 đã bộc lộ một số
thiếu sót. Năm 1984, IUCN đã tiến hành những bước đầu tiên xem xét lại và
đề xuất cập nhật hệ thống phân hạng này.
Hệ thống phân hạng KBT quốc tế của IUCN hiện hành được công bố
năm 1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng 1978. Hệ thống phân hạng
1994 có tất cả 6 phân hạng. Năm phân hạng đầu tiên chủ yếu dựa trên các
phân hạng (I-V) của hệ thống phân hạng 1978. Phân hạng VI tập hợp các ý
tưởng của các phân hạng VI, VII và VIII của hệ thống phân hạng 1978.
Hệ thống phân hạng năm 1994:
(1)Loại I. Khu bảo tồn thiên nhiên toàn phần/ Khu bảo tồn thiên nhiên
nghiêm ngặt/ Khu bảo tồn tính hoang dã (Strict Nature Reserve/ Wildeness
Area).
- Ia. Khu bảo tồn thiên nhiên toàn phần (Strict Nature Reserve)
Khu bảo tồn được quản lý chủ yếu nhằm mục đích khoa học.
- Ib. Khu bảo tồn tính hoang dã (Wildeness Area)

sống của con người, các giá trị về xã hội, văn hoá và các dịch vụ về sinh thái.
Bảo tồn ĐDSH cũng bao gồm cả các hoạt động liên quan đến bảo tồn các
loài, nguồn gen có trong mỗi loài và các sinh cảnh, các cảnh quan. Thông qua
việc bảo tồn các hệ sinh thái và việc khai thác một cách hợp lý các cây, con và
cả các nguồn tài nguyên vi sinh vật để phục vụ cho cuộc sống của con người,
cho đến việc sản xuất và phân phối các lợi nhuận có được từ các tài nguyên
sinh vật.
Tổ chức WWF(1989) định nghĩa “đa dạng sinh học là sự phồn thịnh
của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là
nguồn gen chứa đựng trong các loài và các hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng
tồn tại trong môi trường”. Còn công ước đa dạng sinh học (1992) đưa ra khái
niệm “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn


8

trong hệ sinh thái trên cạn, biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ
hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh học
trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái” để nói sự đa
dạng sinh học trên trái đất.
Đến nay người ta đã biết trên thế giới có hơn 1,4 triệu loài được mô tả
và còn ít nhất gấp 2 lần con số này chưa được con người biết đến, chủ yếu là
những loài côn trùng sống ở vùng khí hậu nhiệt đới. Theo số liệu do Wilson
cung cấp (1992) có khoảng 1.413.000 loài sinh vật đã được các nhà khoa học
xác định và mô tả, chủ yếu là côn trùng và thực vật. Một số lượng côn trùng,
vi khuẩn và nấm vẫn chưa được mô tả. Con số cuối cùng về các loài được mô
tả có thể lên đến 5 triệu hoặc hơn nữa.
Tuy nhiên cũng còn rất nhiều loài chưa được biết đến, nhiều môi
trường sống chưa được nghiên cứu và điều tra như các vùng biển sâu, vùng
san hô, đất vùng nhiệt đới và vùng savan. Dựa vào số lượng các loài đã có, có

yếu phục vụ nghiên cứu hệ động vật.
- Vanpeneen (1969) trong tài liệu đã mô tả sơ bộ 217 loài và phụ loài
thú có ở miền nam Việt Nam và ghi nhận khái quát về phân bố chung của
chúng.
Nhờ các cuộc khảo sát mà các loài mới đang dần được phát hiện , định
danh, kể cả các loài động vật, thú lớn. Năm 1988 phát hiện ra loài Vượn cáo
mới (Propithecus tattersalli) ở Madagaxca; một loài khỉ có tên là
Cercopitthecus solatus ở Gabon; một loài Hoẵng mới ở vùng núi phía tây
Trung Quốc. Năm 1990 phát hiện ra một loài Linh trưởng mới trên đảo nhỏ ở
Superapui, cách thành phố Sao Paulo (Braxin) 65km. Trong một số năm gần
đây, Việt Nam cũng đã phát hiện ra 03 loài thú lớn đó là Sao La (Pseudoryx
Nghetinhensis) vào năm 1992, Mang lớn (megamuntiacus vuquangensis) vào
năm 1994, Mang Trường Sơn (Canimuntiacus truongsonensis) vào năm 1998.


10

Tại hội nghị các bên tham gia Công ước đa dạng sinh học lần thứ 10
(COP10) tổ chức năm 2010 tại Nagoya - Nhật Bản đã quyết định thông qua
Kế hoạch chiến lược thực hiện công ước ĐDSH giai đoạn 2011 – 2020 nhằm
mục tiêu bảo tồn sự ĐDSH trên phạm vi toàn cầu.
1.2. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam được công nhận là trung tâm đặc hữu về loài, chứa đựng một
phần hoặc toàn bộ trong 05 vùng chim đặc hữu (EBA) do Birdlife
International xác định 03 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu
do WWF xác định và 06 trung tâm đa dạng sinh học về thực vật do IUCN xác
định. Toàn bộ đất nước Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô – Bơ Ma do tổ
chức Bảo tồn quốc tế xác định, là một trong những vùng sinh học bị đe dọa
nhất và giàu có nhất trên thế giới [3].
Ngày 07/7/1962, Chính phủ Việt Nam ra Quyết định thành lập Khu

194/CT xác lập danh mục 73 Khu Rừng cấm trên toàn quốc với tổng diện tích
là 769.512 ha, gồm 2 Vườn quốc gia (65.000 ha), 46 Khu Bảo tồn Thiên
nhiên (629.661 ha) và 25 Khu Văn hoá- Lịch sử và Môi trường (74.851 ha).
Ngày 30/12/1986, Quy chế quản lý ba loại rừng (trong đó có RĐD)
được chính thức ban hành theo Quyết định số 1171/QĐ của Bộ trưởng Bộ
Lâm nghiệp. Theo Quy chế này Rừng cấm được đổi tên là RĐD và được chia
làm 3 phân hạng: Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Khu Văn hoá Lịch sử và Môi trường.
Hệ thống RĐD Việt Nam ở giai đoạn này đã gồm nhiều khu đại diện
cho các đai, đới khí hậu và các đơn vị địa lý sinh học khác nhau phân bố
tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
(3). Giai đoạn từ 1987 đến nay
Trên cơ sở Quy chế quản lý thống nhất, sau năm 1990, một loạt các khu
mới được Chính phủ quyết định thành lập như: Vườn quốc gia Yok Đôn,
VQG Bạch Mã, Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Ca (1991); Bộ trưởng Bộ Lâm
nghiệp và Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Luận chứng Kinh tế kỹ thuật


12

các Khu BTTN: Hữu Liên, Vồ Dơi, Đất Mũi, Bắc đảo Phú Quốc, Xuân Sơn
(1992); Khu Bảo tồn Thiên nhiên U Minh Thượng (1993), Xuân Thuỷ, Xuân
Nha, Tràm Chim, Cù Lao Chàm (1994); Khu BTTN Bà Nà-Núi Chúa, Pù
Mát, Bù Gia Mập, Khe Rỗ, Tiền Hải, Bi doup-Núi Bà (1995), Tà Kou, Kẻ Gỗ
(1996), Thạnh Phú, Rừng khô hạn Núi Chúa (1998), Phong Nha-Kẻ Bàng
(2000), Khu BTTN Pù Huống, Núi Ông, Phong Điền, Tây Côn Lĩnh, Vân
Long (2001), Lung Ngọc Hoàng, Chàng Riệc (2002). Trong các năm 2001
đến 2003, Chính phủ đã có nhiều quyết định chuyển hạng một số khu BTTN
thành Vườn Quốc gia như Pù Mát, Phong Nha-Kẻ Bàng, U Minh Thượng,
Phú Quốc, Xuân Sơn, Hoàng Liên, Lò Gò-Xa Mát, Chư Yang Sin, Vũ Quang,
Chư Mom Ray, Kon Ka Kinh, Bù Gia Mập, Xuân Thuỷ và Mũi Cà Mau,...

Bảo vệ ngoài lâm nghiệp như đất ngập nước chưa có quyết định, các khu bảo
vệ biển mới quy hoạch 16 khu.
Ngay từ cuối năm 1990, để tăng cường công tác bảo tồn thiên nhiên ở Việt
Nam, Chính phủ và Bộ Lâm nghiệp (cũ) nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn đã có chủ trương nâng tổng diện tích các khu RĐD của Việt Nam lên
khoảng 2 triệu ha.
Để thực hiện chủ trương này, trong hai năm 1997 và 1998, Bộ
NN&PTNT đã giao cho Viện Điều tra Quy hoạch Rừng phối hợp với Cục
Kiểm lâm thực hiện kế hoạch "Điều tra đánh giá và quy hoạch mở rộng hệ
thống RĐD của Việt Nam", tiếp đó hợp tác cùng Tổ chức BirdLife Quốc tế
(BirdLife International) thực hiện dự án "Mở rộng hệ thống các khu RĐD của
Việt Nam cho thế kỷ 21" do Liên minh Châu Âu tài trợ. Tiếp sau đó, Cục
Kiểm lâm - Bộ NN&PTNT và WWF đã triển khai thực hiện dự án do Danida
tài trợ có tên Cải thiện Quản lý các khu bảo vệ tại Việt Nam. Một trong các
sản phẩm của dự án này là đã xây dựng được chiến lược cho hệ thống Khu
bảo vệ của Việt Nam.


14

Ngày 17/9/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
192/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quản lý Hệ thống khu Bảo tồn Thiên
nhiên của Việt Nam đến năm 2010 theo đó quy định rõ mục tiêu, cách thức
phát triển, các hoạt động chính và phân công trách nhiệm quản lý hệ thống khu
bảo vệ của Việt Nam. Năm 2003, danh sách các khu RĐD cần được thiết lập
đến năm 2010 đã được Cục Kiểm Lâm - Bộ NN&PTNT xây dựng và đệ trình
Chính phủ (Cục Kiểm lâm 2003). Danh lục này có lồng ghép cả các kiến nghị
từ Hội thảo tại Cúc Phương và các kiến nghị của các dự án do EU và Danida tài
trợ.
(4) Hiện trạng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam

b) Khu bảo tồn loài – sinh cảnh
3) Khu bảo vệ cảnh quan
4) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.
Trong hệ thống rừng đặc dụng hiện nay có thêm một loại rừng mới là
Khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học. Quy chế quản lý rừng mới cũng
đã quy định cụ thể cho từng loại khu bảo tồn về chủ thể quản lý, đầu tư, tổ
chức bộ máy quản lý, các quy định bảo vệ,… tạo cơ sở cho các khu bảo tồn
triển khai thực hiện.
Trách nhiệm quản lý chung đối với hệ thống RĐD của quốc gia thuộc
về Cục Kiểm lâm - Bộ NN&PTNT. Tuy nhiên, nhiều cơ quan khác có liên
quan đến việc quản lý các khu RĐD ở cấp tỉnh, huyện, xã v.v... Công việc
quản lý hàng ngày tại từng khu RĐD do ban quản lý được thành lập để phục
vụ mục đích này. Khi đó 106 khu RĐD đã có Ban quản lý, trong số đó có 68
khu bảo tồn thiên nhiên trong số 95 khu đã được quyết định và toàn bộ 27
Vườn Quốc gia.
Hiện nay, chỉ có 6 Vườn Quốc gia trực thuộc Bộ NN&PTNT. Đó là: Ba
Vì, Cúc Phương, Tam Đảo, Bạch Mã, YokDon và Cát Tiên. Các Vườn quốc
gia khác và toàn bộ các khu Bảo tồn thiên nhiên, các khu Văn hoá, Lịch sử và


16

Môi trường đều trực thuộc Uỷ ban Nhân dân tỉnh và thành phố. Nhân viên của
các ban quản lý chủ yếu được lấy từ các đơn vị kiểm lâm trong tỉnh.
Đến năm 2005 theo quyết định số 62/2005/QĐ-BNN, ngày 12 tháng 10 năm
2005 của Bộ Trưởng bộ Nông nghiệp đã ban hành Bản tiêu chí về phân loại
rừng đặc dụng. Đây là bản tiêu chí đầu tiên về phân loại rừng đặc dụng của
Việt Nam, chi tiết hóa những quy định về rừng đặc dụng đã nêu trong Luật
Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Đối với từng loại hình khu bảo tồn đã
đưa ra khái niệm, vai trò, chức năng và tiêu chí phân loại. Các tiêu chí được

Năm 2006 thực hiện chỉ thị Thủ tướng Chính phủ về rà soát 3 loại rừng,
diện tích Khu BTTN Ngọc Linh bị thu hẹp lại còn 38.109,4ha. Mặc dù vùng
núi Ngọc Linh được liệt kê vào hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam từ rất sớm,
song hoạt động nghiên cứu ĐDSH nói chung và đa dạng thực vật nói riêng tại
Khu BTTN Ngọc Linh còn rất nhiều hạn chế và có thể đưa ra một số công
trình nghiên cứu chính về khu vực này như sau:
- Kết quả hai đợt điều tra thực địa vào các năm 1996 và 1998 của Viện
Điều tra Quy hoạch Rừng và tổ chức BirdLife Internatinal khi xây dựng dự án
đầu tư Khu BTTN Ngọc Linh, đã ghi nhận 878 loài thực vật bậc cao có mạch.
Thời gian này tác giả Lê Văn Chẩm đã ghi nhận loài mới cho hệ thực vật Việt
Nam đó là Sồi ba cạnh - Trigonobalanus verticillata và đây cũng là chi thứ 5
trong họ Dẻ - Fagaceae được biết đến ở Việt Nam.
- Năm 1997, TS. Averyanov, Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự đã tiến
hành điều tra khu hệ Lan nơi đây, thời gian này nhóm nghiên cứu đã phát hiện
một số loài mới cho khoa học và Việt Nam như: Kiều diễm việt nam - Pleione
vietnamensis, Cầu diệp ngọc linh - Bulbophyllum ngoclinhensis và đến năm
2005 TS. Averyanov tiếp tục phát hiện thêm loài mới cho khu hệ này đó là
Kiều lam văn duy - Calanthe duyana.
- Năm 2011, thực hiện chương trình điều tra, đánh giá thực vật rừng
trong dự án đầu tư Khu BTTN Ngọc Linh giai đoạn 2011 - 2020 đã có một số



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status