Bộ GIáO DụC Và ĐàO Tạo
bộ nông nghiệp và PTNT
TRƯờNG ĐạI HọC LÂM NGHIệP
Nguyễn quang chung
nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp
quản lý rừng bền vững tại trại thực nghiệm
trường trung cấp nghề cơ điện và kỹ thuật
nông lâm đông bắc
luận văn Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà nội, năm 2008
Bộ GIáO DụC Và ĐàO Tạo
bộ nông nghiệp và PTNT
TRƯờNG ĐạI HọC LÂM NGHIệP
Nguyễn quang chung
nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp
quản lý rừng bền vững tại trại thực nghiệm
trường trung cấp nghề cơ điện và kỹ thuật
nông lâm đông bắc
hành tinh.
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên phần lục địa là 33,12 triệu ha, trong đó
diện tích có rừng là 12,28 triệu ha tương ứng với độ che phủ của rừng 36,7% và có
khoảng 5,07 triệu ha đất chưa sử dụng, trong đó có khoảng 4,31 triệu ha đất trống
đồi núi trọc là đối tượng của sản xuất lâm nông nghiệp. Năm 1943, Việt nam có
14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che
phủ rừng 27,2%; thời kỳ 1980-1990, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng đã
bị mất [1]. Hiện nay, mất rừng đã trở thành vấn đề quan trọng ở Việt Nam, nó không
chỉ thể hiện ở sự thu hẹp về diện tích hàng trăm nghìn héc ta mỗi năm, mà còn thể
hiện ở sự suy giảm về trữ lượng và chất lượng của rừng, nhiều loài động, thực vật có
nguy cơ tuyệt chủng đe doạ sự cân bằng sinh thái.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm số lượng và chất lượng rừng là do
công tác quản lý, sử dụng vốn rừng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp thời cũng
2
như phù hợp với nhu cầu và tốc độ phát triển của xã hội. Việc lập kế hoạch, xác định
các giải pháp quản lý sử dụng rừng thường mới chỉ dựa trên hiện trạng tài nguyên
rừng và định hướng chủ quan của yêu cầu quản lý mà ít khi xem xét đến những tiềm
năng, định hướng lâu dài và khả năng đáp ứng của tài nguyên rừng đối với nhu cầu
phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh môi trường. Việc lập quy hoạch quản
lý, phát triển rừng thường không được xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng dân cư
hoặc không đảm bảo lợi ích lâu dài về đất đai của người dân bản địa. Do vậy, khi tổ
chức triển khai thường gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả không cao, không đảm bảo
tính ổn định, bền vững. Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra trong quản lý, sử dụng rừng hiện
nay là phải đảm bảo tính ổn định, bền vững và quan tâm đến vai trò cũng như lợi ích
của cộng đồng dân cư sống bằng nghề rừng.
Trường Trung cấp nghề Cơ điện và Kỹ thuật Nông lâm Đông Bắc (Trường
TCN Đông Bắc) được Nhà nước giao quản lý, sử dụng 499,95 ha rừng và đất rừng.
Thuật ngữ sử dụng bền vững tài nguyên rừng được dùng để chỉ các cách thức
khai thác, sử dụng, quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng một cách hợp lý
theo quan điểm phát triển bền vững. Tuy nhiên, để tránh sự hiểu biết không đầy đủ
về bản chất của thuật ngữ và nhấn mạnh hơn về tính tổng hợp của vấn đề, không chỉ
giới hạn ở sử dụng theo nghĩa hẹp, một thuật ngữ khác thường được sử dụng và được
xem như đồng nghĩa là Quản lý rừng bền vững (QLRBV).
Trong những năm gần đây, QLRBV đã trở thành một nguyên tắc đối với quản
lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng
phải đạt tới. Hiện tại có hai định nghĩa đang được sử dụng ở Việt Nam:
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) định nghĩa: "Quản lý rừng bền vững là
quá trình quản lý các khu rừng cố định nhằm đạt một hoặc nhiều hơn các mục tiêu
quản lý đã được đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản
phẩm và dịch vụ của rừng mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và
năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối
với môi trường và xã hội".
Tiến trình Helsinki định nghĩa: "Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và
đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng
suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong hiện
tại và tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế, xã hội của chúng ở cấp địa
phương, quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái
khác". [21].
4
Theo các khái niệm và định nghĩa trên, có thể hiểu một cách đơn giản
QLRBV hay sử dụng bền vững tài nguyên rừng là cách quản lý đảm bảo đạt được
các mục tiêu: Bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội, chúng phải được xem xét
một cách bình đẳng và đồng thời. Tính bền vững thể hiện ở hai cấp độ: Mức độ có
thể đạt được trong thực tế luôn nhỏ hơn mức độ bền vững tối ưu về mặt lý thuyết.
khả thi về mặt kỹ thuật, đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả về mặt kinh tế và môi
trường sinh thái [27].
Tại Hội nghị các Bộ trưởng Lâm nghiệp lần thứ 2 họp ở Helsinki năm 1993,
một Hướng dẫn chung về quản lý rừng bền vững ở Châu Âu đã được thống nhất với
6 tiêu chí:
- Duy trì và phát triển hợp lý tài nguyên rừng và sự đóng góp của nó cho chu
trình cacbon.
- Duy trì và nâng cao sức sống các hệ sinh thái rừng một cách khoẻ mạnh và
bền vững.
- Duy trì và nâng cao chức năng sản xuất của rừng (gỗ và lâm sản ngoài gỗ).
- Duy trì và nâng cao tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng.
- Duy trì và tăng cường chức năng phòng hộ của rừng (bảo vệ đất và nước).
- Duy trì và nâng cao các chức năng kinh tế, xã hội cũng như cải thiện các
điều kiện khác của rừng.
Sáu tiêu chí trên là các nguyên tắc chung khi áp dụng cho các điều kiện cụ
thể sẽ được xây dựng thành các chỉ tiêu định lượng, trong đó phải xem xét các yếu
tố về tự nhiên và các yếu tố về kinh tế xã hội, quan trọng nhất là đặc điểm của từng
loại rừng.
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo
vệ môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái, đa dạng sinh học và các đặc điểm về mặt xã
hội và nhân văn.
Để có thể sử dụng tài nguyên rừng bền vững, trong sản xuất lâm nghiệp cần
tuân thủ một số vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc như duy trì và cải thiện độ phì của
đất, bảo đảm tái sinh, ổn định năng suất, nâng cao sức chống chịu của lâm phần, bảo
tồn đa dạng sinh học và đáp ứng các yêu cầu về kinh tế - xã hội. Có thể hiểu nội
dung cơ bản của vấn đề sử dụng bền vững tài nguyên rừng như sau:
1.1.1. Sử dụng tài nguyên rừng bền vững về mặt kinh tế
Một hệ thống sử dụng tài nguyên rừng bền vững về kinh tế phải đáp ứng được
4 yêu cầu cơ bản sau:
thực vật và cho từng vùng địa lý khác nhau.
7
Độ phì của đất tăng dần là đòi hỏi bắt buộc đối với sử dụng đất bền vững
trong bất kỳ hệ canh tác nào, trong đó tuần hoàn các chất hữu cơ được cải thiện có
vai trò quan trọng hàng đầu.
Độ che phủ mặt đất phải đạt tối thiểu trên mức an toàn sinh thái, thông
thường là 35%. Tuy nhiên khi xét từng đơn vị nhỏ thì tỷ lệ che phủ có thể khác
nhau, song xét tổng thể toàn hệ thống thì tỷ lệ này phải đạt hoặc vượt ngưỡng tối
thiểu. Ngoài ra đặc điểm che phủ theo thời gian trong năm hay tính liên tục của nó
cũng cần được xem xét đến.
Khả năng bảo vệ nguồn nước bao gồm 2 mặt: số lượng và chất lượng. Về số
lượng hay khả năng sinh thuỷ của rừng có thể xác định được qua nghiên cứu toàn
lưu vực hay thông qua các quan trắc định tính còn chất lượng nước có thể nhận biết
không khó khăn bằng một loạt các chỉ tiêu định lượng. ở nước ta, ước tính khoảng
50% dao động về sản lượng lúa ở Việt Nam là do tác động của nạn mất rừng, thậm
chí có thể có những dao động lớn hơn nếu không duy trì được thảm rừng tự nhiên
trên lưu vực các sông, nhất là ở miền Bắc và miền Trung.
1.1.3. Sử dụng tài nguyên rừng bền vững về hệ sinh thái và đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học bao gồm 3 thành phần chính: Đa dạng về gen, đa dạng về
loài và đa dạng về hệ sinh thái. Mỗi thành phần của đa dạng sinh học có những giá
trị riêng về khoa học, kinh tế và môi trường và giữa chúng với nhau có những mối
quan hệ hữu cơ ràng buộc. Đa dạng về gen là cơ sở khoa học cho việc tuyển chọn lai
tạo ra các giống mới hay loài mới. Đa dạng về loài thường là đối tượng cho khai
thác với mục đích kinh tế; còn đa dạng về hệ sinh thái có chức năng bảo vệ môi
trường sống, các hệ sinh thái được duy trì nhờ sự tồn tại của các quần thể loài sống
trong đó.
Bảo tồn đa dạng sinh học phải chú ý bảo tồn cả 3 thành phần của nó, trong đó
bao gồm:
- Khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của người dân.
- Sự phù hợp với năng lực thực tế của người thực hiện.
- Không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
- Phù hợp với pháp luật hiện hành.
- Khả năng thu hút và tạo thêm nhiều lao động, việc làm.
- Sự chấp nhận của cộng đồng.
9
Điều quan trọng là thu nhập phải thường xuyên, thời gian sản xuất ngắn và
vốn đầu tư thấp, người sản xuất ít vốn không thể chờ đợi thu thập lâm sản chính ở
cuối chu kỳ, nếu trong chu kỳ cây lâm nghiệp họ không có thu nhập đủ bảo đảm
cuộc sống. Đối với rừng phòng hộ vấn đề sản phẩm ngoài gỗ càng có ý nghĩa quan
trọng vì không được phép khai thác gỗ.
Nội dung đáp ứng nhu cầu của các hộ sản xuất tối thiểu là:
- Đủ lương thực bằng cách tự túc hay tạo ra nguồn tiền để mua.
- Đủ thực phẩm bảo đảm cân đối năng lượng và hợp khẩu vị.
- Có sản phẩm bán được để có tiền mặt và thu nhập đều đặn.
- Đủ củi đun và gỗ phục vụ sinh hoạt.
Hệ thống bền vững phải phù hợp với năng lực của người sản xuất để bảo đảm
tính khả thi của giải pháp khi triển khai nhân rộng. Về vốn đầu tư cần có nguồn vốn
vay ổn định có lãi suất thấp và thời hạn phù hợp chu kỳ kinh doanh.
Về kỹ thuật, cần phát huy kiến thức và kinh nghiệm bản địa, tập quán canh
tác của người dân địa phương, kết hợp với kỹ thuật tiến bộ nhưng đơn giản, người
dân có thể tiếp thu và tự làm được nếu có tập huấn.
Hệ thống sử dụng tài nguyên rừng bền vững còn có tác dụng không ngừng
nâng cao năng lực của người sản xuất, điều đó thể hiện ở sự tham gia triệt để của họ
trong toàn bộ quá trình sản xuất từ khâu quy hoạch, xây dựng phương án, kế hoạch,
được xem như là yếu tố trung tâm của quá trình phát triển tài nguyên rừng.
Trong những năm gần đây, tại một số quốc gia: Inđônêxia, Philippin, Nepan,
Bangladesh, Zimbabwe, Panama, Canađa.... thường xuyên xảy ra các cuộc biểu tình
của cộng đồng dân cư và các tổ chức môi trường đòi Chính phủ cũng như các ngành
công nghiệp khác phải chấm dứt khai thác nguồn tài nguyên rừng của họ. Bảo vệ,
phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng chính là đảm bảo an toàn và duy trì cuộc
sống lâu dài, ổn định cho cộng đồng dân cư trên toàn thế giới.
Trên thế giới, lịch sử quản lý rừng được bắt đầu tại các quốc gia ở Châu âu.
Đầu thế kỷ 18, các nhà lâm học Đức G.L. Hartig [31], Heyer [30] đã đề xuất nguyên
tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi. Cũng vào thời điểm đó các
nhà lâm nghiệp Pháp (Gournad, 1922) và Thụy Sĩ (H. Boiolley) [29] cũng đã đề ra
phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng đối với rừng khác tuổi khai thác chọn.
Trong thời kỳ này, hệ thống quản lý rừng phần lớn vẫn dựa trên các mô hình quản lý
quốc gia từ trung ương (rừng được quản lý chủ yếu bởi các doanh nghiệp của nhà
11
nước), quản lý mang tính chất tập trung. Diện tích đất rừng do nhà nước quản lý
chiếm từ 25-75% tổng diện tích đất đai của nhiều quốc gia.
Giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, hệ thống quản lý rừng thường
mang tính tập trung cao ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.
Trong thời kỳ này, vai trò sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng không được
chú ý. Mặc dù trong các quy định pháp luật thì rừng là tài sản của toàn dân. Song,
trên thực tế người dân không hề được hưởng lợi từ rừng và vì vậy người dân cũng
không hề quan tâm đến vấn đề xây dựng và bảo vệ vốn rừng. Họ chỉ biết khai thác
rừng để lấy lâm sản và lấy đất canh tác phục vụ cho nhu cầu sống của chính họ. Bên
cạnh đó, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng
tăng lên nên tình trạng khai thác qúa mức đối với tài nguyên rừng trong giai đoạn
này cũng trở thành nguyên nhân quan trọng của tình trạng suy thoái tài nguyên
1985) của Tổ chức nông lương FAO, Hội nghị Quốc tế về môi trường và phát triển
(UNCED tại Rio de janeiro năm 1992, Công ước về buôn bán các loài động thực vật
quý hiếm (CITES), Công ước về đa dạng sinh học (CBD,1992), Công ước về thay
đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước về chống sa mạc hóa (CCD, 1996),
Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) [7]. Những năm gần đây nhiều hội
nghị, hội thảo quốc tế và quốc gia về quản lý rừng bền vững đã liên tục được tổ
chức. Tại Hội nghị thượng đỉnh về môi trường năm 2007 họp ở đảo Bali (Inđônêxia),
một lần nữa đã khẳng định bảo vệ môi trường và đặc biệt là bảo vệ, duy trì nguồn tài
nguyên rừng là trách nhiệm chung của mọi quốc gia trên thế giới.
Tổ chức gỗ Quốc tế ITTO là tổ chức đầu tiên đáp ứng vấn đề quản lý bền
vững rừng nhiệt đới, tổ chức này đã biên soạn "Hướng dẫn quản lý rừng tự nhiên
nhiệt đới" (ITTO, 1990), "Tiêu chí đánh giá quản lý bền vững rừng tự nhiên nhiệt
đới"(ITTO, 1992), "Hướng dẫn thiết lập hệ thống quản lý bền vững các khu rừng
trồng trong rừng nhiệt đới"(ITTO, 1993) và "Hướng dẫn bảo tồn đa dạng sinh học
của rừng sản xuất trong vùng nhiệt đới"(ITTO, 1993). Tổ chức này đã xây dựng
chiến lược quản lý bền vững rừng nhiệt đới buôn bán lâm sản nhiệt đới cho năm
2000. Hai động lực thúc đẩy sự hình thành hệ thống quản lý rừng bền vững là xuất
phát từ các nước sản xuất sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn tái lập một lâm phận
sản xuất ổn định và khách hàng tiêu thụ sản phẩm gỗ nhiệt đới, mong muốn điều tiết
việc khai thác rừng để đáp ứng các chức năng sinh thái toàn cầu. Vấn đề đặt ra là
phải xây dựng những tổ chức đánh giá QLRBV. Trên quy mô quốc tế, hội đồng
quản trị rừng đẫ được thành lập để xét công nhận các tổ chức chứng chỉ rừng, nhằm
13
đảm bảo giá trị của các chứng chỉ. Với sự phát triển của quản lý rừng bền vững,
Canađa đã đề nghị đặt vấn đề quản lý rừng bền vững trong hệ thống quản lý môi
trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 [22].
Hiện nay, trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia
phục vụ một số ngành công nghiệp nhỏ: làm nhà cửa, xây dựng, chất đốt, làm tà vẹt,
đóng tàu....Vì vậy, mức độ tác động của con người vào tài nguyên rừng thấp nên tài
nguyên rừng còn phong phú và đa dạng.
1.3.2. Thời kỳ từ năm 1945 - 1975
Đây là thời kỳ Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hình thành, tuy
nhiên đây cũng chính là thời kỳ 30 năm chiến tranh gian khổ của nhân dân Việt
Nam. Công tác quản lý, sử dụng rừng trong giai đoạn này bước đầu đã được chú
trọng và đạt được một số thành quả nhất định:
15
- Về tổ chức quản lý: Cấp quản lý Nhà nước trung ương có tổng cục lâm
nghiệp sau này là Bộ Lâm nghiệp là cơ quan chuyên ngành của Chính phủ. Đến năm
1973 có thêm Cục Kiểm lâm là cơ quan thực thi luật pháp bảo vệ rừng. ở cấp tỉnh
có các Ty Lâm nghiệp là tiền thân của các Sở Lâm nghiệp sau này, là cơ quản lý lâm
nghiệp của tỉnh kiêm cả việc quản lý các doanh nghiệp lâm nghiệp. ở cấp huyện có
các Hạt Lâm nghiệp trực thuộc UBND huyện, đồng thời là cơ quan ngành dọc của
các Sở Lâm nghiệp. Phần lớn diện tích rừng và đất rừng ở Miền Bắc được giao cho
các Lâm trường quốc doanh quản lý.
- Về tổ chức sử dụng rừng: Rừng được chia thành 3 chức năng để quản lý sử
dụng đó là rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. ở mỗi tỉnh rừng và đất
rừng được chia thành các tiểu khu có diện tích trung bình là 1.000 ha và đánh số từ 1
đến số cuối cùng trong phạm vi của tỉnh.
Trong giai đoạn (1945 - 1960): Công tác quản lý rừng tập trung giải quyết
nhiệm vụ chính trị quan trọng lúc đó là khai thác rừng phục vụ công cuộc toàn quốc
kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) và phục vụ chiến lược phục hồi
kinh tế sau kháng chiến (1955 - 1960). Nội dung chủ yếu trong công tác quản lý
rừng giai đoạn này là tập trung phát triển sản xuất lương thực, hướng dẫn nông dân
miền núi định canh, định cư, sản xuất nương rẫy, khôi phục kinh tế sau chiến tranh.
tiên trong lịch sử (sửa đổi bổ sung năm 2004) [3] là cái mốc đánh dấu sự phát triển
cũng như ghi nhận tầm quan trọng của ngành lâm nghiệp đối với nền kinh tế quốc
dân. Đây cũng đồng thời là căn cứ pháp lý quan trọng để hoạch định các chính sách,
định hướng phát triển nguồn tài nguyên rừng của nước ta.
Trong giai đoạn này, công tác giao đất giao rừng gắn với định canh, định cư
được đẩy mạnh. Sản xuất lâm nghiệp có những bước chuyển biến mạnh mẽ từ cơ chế
quản lý rừng tập trung của Nhà nước sang hình thức lâm nghiệp xã hội có sự tham
tích cực của người dân gắn với định hướng phát triển theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Hệ thống và tính chất quản lý ngành cũng có sự thay đổi cho
phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên rừng theo hướng tổng hợp, đa ngành và đa
mục tiêu.
Năm 1995 Bộ Lâm nghiệp được sát nhập với Bộ Nông nghiệp và Bộ Thuỷ lợi
thành lập Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Cơ cấu tổ chức quản lý ngành
lâm nghiệp như sau:
- ở cấp trung ương: Bộ NN& PTNT, dưới Bộ có Cục Lâm nghiệp và Cục
Kiểm lâm.
17
- ở cấp tỉnh, thành phố: Có Chi cục Lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm.
- ở cấp huyện: Có các Hạt kiểm lâm trực thuộc Chi cục Kiểm lâm và chịu sự
lãnh đạo của UBND huyện.
- ở cấp xã: Đối với những xã có diện tích rừng lớn có Ban lâm nghiệp (hoặc
cán bộ phụ trách lâm nghiệp) và có các kiểm lâm viên phụ trách, quản lý trên địa
bàn.
- ở cấp thôn, bản: Có các quy ước, hương ước thôn bản về quản lý và bảo vệ
rừng.
Tháng 6 năm 1997 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thay
mặt chính phủ ký cam kết bảo tồn ít nhất 10% diện tích rừng gồm các hệ sinh thái
chuẩn rừng được cộng đồng Quốc tế công nhận trước khi các sản phẩm rừng Việt
Nam được chế biến thương mại. Mục tiêu của QLRBV ở Việt Nam là đến năm 2020
sẽ có khoảng 30% diện tích rừng quốc gia nhận chứng chỉ rừng FSC của Hội đồng
quản trị rừng thế giới [23].
Bên cạnh việc ban hành luật Bảo vệ và Phát triển rừng là hàng loạt các văn
bản pháp qui, các Nghị định, Chỉ thị của Thủ tướng, của Bộ Lâm nghiệp (sau này là
Bộ NN và PTNT), các Chương trình, Dự án phát triển lâm nghiệp ra đời góp phần
mạnh mẽ vào việc khôi phục, phát triển nguồn tài nguyên rừng, làm cho luật pháp về
rừng đi vào cuộc sống, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành Lâm nghiệp
nói chung và vấn đề quản lý tài nguyên rừng bền vững nói riêng. Một số Chính sách,
Chương trình, Dự án lâm nghiệp tiêu biểu trong giai đoạn này:
- Năm 1992, Chính phủ phê duyệt Chương trình 327 nhằm phủ xanh đất
chống, đồi núi trọc.
- Quyết định 264, năm 1992 của Chính phủ về tín dụng vay vốn ưu đãi để
trồng rừng sản xuất.
- Nghi định 02/CP, ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ về việc giao đất
lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp.
- Quyết định số 202/TTg, ngày 2 tháng 5 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ
ban hành văn bản quy định về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và
trồng rừng.
- Nghi định 01/CP, năm 1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sử dụng
vào mục đích sản xuất Nông Lâm Ngư nghiệp trong các doanh nghiệp Nhà nước.
19
- Quyết định 245/1998/QĐ-TTg, ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ
về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất rừng [5].
- Quyết định 661/QĐ-TTg, ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục
1996, công trình đã đưa ra các mô hình về sử dụng đất bền vững, mô hình về khoanh
nuôi, phục hồi rừng hiệu quả ở Việt Nam.
- Công trình Đánh giá hiện trạng quản lý rừng và đất rừng làm cơ sở đề xuất
sử dụng tài nguyên rừng bền vững ở Đăk Lăk của T.S Bảo Huy, trên cơ sở phân tích
hiện trạng, đánh giá tiềm năng, giá trị tài nguyên rừng, tác giả đã đề xuất giải pháp
quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, đất rừng theo hướng bền vững.
- Một số đề tài nghiên cứu đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể áp dụng
cho một số vùng như quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê
San của Phạm Đức Lân và Lê huy Cường [15]; quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Súp
- Đăc Lắc của Hồ Viết Sắc [19]; du canh với vấn đề quản lý rừng bền vững ở Việt
Nam của Đỗ Đình Sâm [20].
- Đề tài Nghiên cứu các giải pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi ở một số
tỉnh trung du, miền núi phía bắc Việt nam của GS.TS. Vũ Tiến Hinh và cộng sự đã
đưa ra các giải pháp phục hồi, phát triển tài nguyên rừng một cách hiệu quả, bền
vững bằng con đường tự nhiên [14].
- Theo Nguyễn Xuân Quát, Phạm Ngọc Thường, Đặng Văn Thuyết (2004),
quản lý rừng cộng đồng là một trong những phương pháp quản lý rừng mang tính
chất tổng hợp và toàn diện trên cả phương diện bảo vệ gây trồng và chế biến, tiêu
thụ các sản phẩm của rừng. Quan điểm này cũng chính là một giải pháp để quản lý
rừng bền vững.
- Một số công trình khác của các tác giả: Phạm Xuân Hoàn (2002), Trần Hữu
Viên (2004), Phùng Ngọc Lan (2004), Lê Thị Diên (2002, 2003)cũng đã đưa ra
rất nhiều các giải pháp phục hồi rừng và quản lý rừng dựa trên quan điểm quản lý
rừng bền vững.
- Một số đề tài Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp của Trường Đại học Lâm
nghiệp trong những năm qua cũng dựa trên việc phân tích, đánh giá thực trạng công
tác quản lý rừng, các điều kiện, nguồn lực sẵn có của địa phương để từ đó đề xuất
21
triển và sử dụng bền vững tài nguyên rừng khu vực Trại thực nghiệm nhằm đáp ứng
các nhu cầu về đào tạo, kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái góp phần phát
triển bền vững HSTR ở Việt Nam.
* Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá được thực trạng tài nguyên rừng và ảnh hưởng của:
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và một số chính sách của Nhà nước đến việc quản
lý rừng bền vững tại Trại thực nghiệm.
- Đề xuất được một số giải pháp về mặt tổ chức, khoa học công nghệ và kinh
tế xã hội chủ yếu phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên rừng theo hướng tổng hợp
và bền vững tại Trại thực nghiệm Trường TCN Đông Bắc.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tiến hành nghiên cứu một
số nội dung cơ bản sau:
2.2.1. Nghiên cứu thực trạng tài nguyên rừng và ảnh hưởng của điều kiện tự
nhiên đến QLRBV
- Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu: Ví trí địa lý, ranh giới, địa hình,
địa chất, thổ nhưỡng, khí hậu, đất đai liên quan đến quản lý rừng. Trong khuôn
khổ giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích, đánh giá ảnh hưởng của điều
kiện tự nhiên đến nguồn tài nguyên thực vật rừng để thấy được những thuận lợi và
khó khăn trong thực tế sản xuất. Trên cơ sở đó đề xuất được các giải pháp QLRBV.
- Đặc điểm và hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng: Diện tích, đăc điểm,
trữ lượng theo trạng thái các loại rừng.
23
- Hiện trạng về môi trường: Độ che phủ, tài nguyên đất, nước (nước bề mặt và
nước ngầm) và những ảnh hưởng của xói mòn, lũ lụt
2.2.2. Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý, sử dụng tài nguyên rừng và đất
rừng của Trại thực nghiệm