ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN THĂNG BÌNH
Số:
/BC-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Thăng Bình, ngày
tháng năm 2013
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện chương trình cải cách hành chính từ năm 2010
đến 10 tháng đầu năm 2013; nhiệm vụ, giải pháp
thực hiện đến năm 2015
Thực hiện Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính
phủ về thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 2010; Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ về Chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, Kế hoạch cải cách hành
chính hàng năm của UBND tỉnh Quảng Nam và UBND huyện; Ủy ban nhân dân huyện
báo cáo kết quả thực hiện công tác CCHC từ năm 2010 đến 10 tháng đầu năm 2013 và đề
ra các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục thực hiện đến năm 2015 như sau:
I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH
1. Ban hành văn bản và tổ chức chỉ đạo thực hiện
- Năm 2010 là năm cuối thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2001 – 2010 theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của
Thủ tướng Chính phủ, trong 10 năm thực hiện chương trình cải cách hành chính, trên cơ
sở các văn bản chỉ đạo của cấp trên, Uỷ ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định
thành lập Ban Chỉ đạo cải cách hành chính huyện do đồng chí Chủ tịch UBND huyện làm
Trưởng ban và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị làm thành viên. Sau khi thành lập, Ban chỉ
đạo đã kịp thời ban hành kế hoạch và quy chế hoạt động, tham mưu UBND huyện ban
định về việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính của tổ chức, cá nhân theo cơ
chế “một cửa” tại UBND các huyện, thành phố.
- Triển khai thực hiện Chỉ thị số 22/CT-UBND ngày 12/10/2012 của Chủ tịch
UBND tỉnh về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, nâng cao hiệu quả sử dụng thời
gian làm việc trong các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, UBND huyện đã ban hành các Chỉ thị
như: Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 28/4/2011 về nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán
bộ, công chức, viên chức trong thực hiện Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; tăng
cường kỷ cương, kỷ luật hành chính và Chỉ thị số 05/2011/CT-UBND ngày 24/10/2011 về
việc cấm hút thuốc lá nơi làm việc và nơi công cộng trong nhà.
- Thực hiện việc niêm yết công khai các quy định về thủ tục hành chính theo quy
định tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá
nhân.
3. Về kiểm tra cải cách hành chính
Bên cạnh việc chỉ đạo triển khai đồng bộ công tác cải cách hành chính, việc kiểm
tra, giám sát cũng được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc. Trong năm 2012 và năm 2013, Uỷ
ban nhân dân huyện đã ban hành quyết định thành lập các đoàn kiểm tra công tác cải cách
hành chính tại các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc huyện.
Đến tháng 10/2013, đã tiến hành kiểm tra tại 10 xã, thị trấn và các cơ quan thuộc
huyện. Các địa phương được kiểm tra đều có kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được giao,
hướng dẫn thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và công dân đến liên hệ
giải quyết công việc; công tác tự kiểm tra được quan tâm hơn nên số hồ sơ giải quyết
đúng hạn và trước hạn tăng. Đoàn kiểm tra đã phát hiện và yêu cầu khắc phục tình trạng
chậm cập nhật, giải quyết thủ tục hành chính theo quy định mới đã có hiệu lực, tiếp nhận
và giải quyết thủ tục chưa đúng thẩm quyền, giải quyết hồ sơ trễ hẹn...
Trong năm 2013, thực hiện Chỉ thị số 22/CT-UBND ngày 22/10/2012 của Chủ tịch
UBND tỉnh Quảng Nam về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, UBND huyện đã
ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND ngày 25/3/2013 về thành lập Tổ kiểm tra, giám
sát việc thực hiện Chỉ thị 22/CT-UBND và tiến hành tổ chức kiểm tra đột xuất tại các cơ
quan, đơn vị địa phương thuộc huyện về chấp hành kỷ cương, kỷ luật hành chính trong
thực thi công vụ.
vực đăng ký quyền sử dụng đất, tư pháp – hộ tịch, cấp phép xây dựng.. làm cơ sở thực
hiện cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính và hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý
thuộc thẩm quyền của địa phương.
2.2. Kiểm soát thủ tục hành chính
- UBND huyện thực hiện tốt công tác kiểm soát việc ban hành mới văn bản đảm bảo
thủ tục hành chính của cấp có thẩm quyền. Văn phòng HĐND & UBND huyện, Phòng Tư
pháp đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị trong việc tham gia ý kiến đối với các
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền
ban hành của UBND huyện.
- Triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính, kế hoạch
thực hiện rà soát thủ tục hành chính trọng tâm theo quy định của UBND tỉnh.
UBND huyện đã yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
các xã, thị trấn tiếp tục tập trung chỉ đạo, quán triệt nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính
tại cơ quan, đơn vị, địa phương, đơn giản hóa thủ tục hành chính và các quy định có liên
quan; thực hiện nghiêm việc đánh giá tác động thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật để kịp thời xóa bỏ hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xóa bỏ những thủ
3
tục hành chính không còn phù hợp; đảm bảo việc niêm yết công khai, minh bạch, đầy đủ
các thủ tục hành chính tại nơi giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức.
- Công khai thủ tục hành chính
Bộ phận tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ của huyện, UBND các xã, thị trấn đã thực hiện
niêm yết công khai thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương tại trụ
sở làm việc theo đúng quy định.
2.3. Thực hiện cơ chế một cửa:
Thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính
phủ về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế “một của liên thông” tại cơ
quan hành chính Nhà nước ở địa phương, Uỷ ban nhân dân huyện tiến hành củng cố tổ
chức hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện, xây dựng và hoàn chỉnh
+ Trong năm 2010, UBND huyện đã trình UBND tỉnh ban hành Quyết định thành
lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế tài chính của Trung tâm Phát
4
triển quỹ đất huyện. Năm 2011, đã trình tỉnh ban hành Quyết định thành lập Trung tâm
Phát triển cụm Công nghiệp, Thương mại và dịch vụ. Năm 2013 đã trình UBND tỉnh
thành lập Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện.
- Để tăng cường phân cấp trong hoạt động quản lý, UBND huyện đã ban hành Công
văn số 431/UBND-NV ngày 09/7/2012 về việc uỷ quyền cho Chủ tịch UBND xã, thị trấn
quyết định bổ nhiệm những người hoạt động không chuyên trách xã, thị trấn, trên cơ sở
thẩm định của phòng Nội vụ.
- Các đơn vị sự nghiệp được trao cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính,
khuyến khích phát triển xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công ở các lĩnh vực
giáo dục đào tạo, văn hoá, thể dục thể thao...;
- Đang tiến hành chỉ đạo xây dựng Đề án xác định vị trí việc làm tại các cơ quan
hành chính và đơn vị sự nghiệp theo tinh thần Nghị định 36/CP và Nghị định 41/CP.
4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
4.1. Thực hiện các quy định về quản lý cán bộ, công chức
Căn cứ chỉ tiêu giao biên chế hàng năm của UBND tỉnh, UBND huyện đã phân bổ
chỉ tiêu biên chế hành chính, sự nghiệp cho các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Các cơ quan,
đơn vị đã bố trí, sử dụng biên chế được giao phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ bản
phát huy tốt trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.
UBND huyện đã ban hành Kế hoạch số 133/KH-UBND ngày 19/3/2012 về việc
thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức theo Nghị định
158/CP. Kết quả đã chuyển đổi trong phạm vi cơ quan, đơn vị, địa phương: 02 người (phụ
trách bộ phận tổ chức cán bộ phòng Nội vụ). Chuyển đổi vị trí công tác ngoài phạm vi cơ
quan, đơn vị 52 kế toán đơn vị và 03 công chức địa chính xã, thị trấn.
Kịp thời thực hiện giải quyết chế độ nâng lương, nghỉ hưu trước tuổi, nghỉ thôi việc
cho CBCCVC, cán bộ, công chức xã, thị trấn trên địa bàn huyện.
Công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan đơn vị, địa
phương được quan tâm chú trọng, các đơn vị đều trang bị máy vi tính. Có một số cơ quan
đã ứng dụng phần mềm trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ. Có kết nối mạng nội bộ
cũng như mạng Internet để trao đổi thông tin nhanh giữa các cơ quan đơn vị.
-UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị triển khai ứng dụng công nghệ thông
tin vào hoạt động quản lý nhà nước, tăng cường sử dụng mạng nội bộ, kết nối Internet; tỷ
lệ cán bộ, công chức, viên chức dùng thư điện tử để trao đổi, xử lý công việc đạt tỷ lệ cao
góp phần thực hiện mạnh mẽ các nội dung cải cách hành chính, hiện đại hóa công sở, tin
học hóa trong quản lý hành chính.
6.2. Về áp dụng hệ thống quản lý chất lượng
Thực hiện Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 của Chính phủ và các
văn bản hướng dẫn của tỉnh, UBND huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ Thư ký xây
dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000 trên địa
bàn huyện. Theo yêu cầu cần nâng cấp áp dụng hệ thống ISO theo tiêu chuẩn mới (theo
Quyết định số 1318/QĐ-UBND ngày 24/4/2012 thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ Thư ký xây
dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2008 trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam), trong kế hoạch cải cách hành chính năm 2013 huyện đã đề ra kế hoạch
tiến hành xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong các cơ quan hành chính
theo tiêu chuẩn 9001 – 2008 thay thế cho hệ thống quản lý chất lượng cũ 9001 – 2000.
Hiện nay UBND huyện đã ban hành Quyết định số 1305/QĐ-UBND ngày 01/10/2013 về
việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng, áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn TCVN 9001 – 2008 huyện Thăng Bình và Quyết định số 1553/QĐ-UBND
ngày 12/11/2013 về việc bổ nhiệm đại diện lãnh đạo về chất lượng trong quá trình xây
dựng áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001 – 2008
huyện Thăng Bình.
6.3. Tình hình triển khai xây dựng trụ sở cơ quan hành chính ở địa phương
Thực hiện Quyết định số 1441/QĐ-TTg ngày 06/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ
về kế hoạch đầu tư trụ sở cấp xã bảo đảm yêu cầu CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý của bộ máy nhà nước. Trong hơn 03 năm qua, huyện đã triển khai xây dựng mới 4
trụ sở xã, thị trấn và đưa vào sử dụng (Bình Giang, Bình Sa, Bình Hải, TT Hà Lam).
tác quản lý hành chính nhà nước.
2. Những tồn tại, hạn chế
Mặc dù công tác cải cách hành chính trong các năm qua được UBND huyện tập
trung chỉ đạo triển khai thực hiện. Tuy nhiên so với yêu cầu thì công tác cải cách hành
chính vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đó là:
- Một số cơ quan, đơn vị, địa phương ban hành chậm hoặc không ban hành kế
hoạch cải cách hành chính hàng năm. Nội dung kế hoạch còn chung chung, chưa căn cứ
vào tình hình thực tế của đơn vị, địa phương để xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải
pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả cải cách hành chính như: xã Bình Lãnh, Bình Hải,
Bình Quế…
- Công tác tham mưu ban hành văn bản QPPL của một số phòng, ban còn chậm,
chưa đảm bảo quy trình thủ tục, sai về thể thức, kỹ thuật trình bày, soạn thảo theo quy
định.
- Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính tại UBND xã, thị trấn còn mang tính
hình thức, không đúng quy định (qua kết quả kiểm tra cải cách hành chính tại 10 địa
7
phương đều niêm yết không đúng và đầy đủ Bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết tại Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả)
- Cơ chế “một cửa” tuy đã được triển khai ở tất cả các địa phương nhưng việc thực
hiện ở một số nơi còn chưa tốt và đầy đủ, chưa đáp ứng nhu cầu của công dân và tổ chức.
Một số địa phương chưa thật sự quan tâm đến chất lượng hoạt động, thiếu kiểm tra, đôn
đốc, chỉ đạo; cơ sở vật chất ở bộ phận tiếp nhận và hoàn trả kết quả ở một số địa phương
chưa đảm bảo; việc tiếp nhận hồ sơ, lập giấy biên nhận, mở sổ sách theo dõi chưa tuân thủ
chặt chẽ theo quy định. Công tác bố trí cán bộ làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả ở một số địa phương còn bất cập về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến việc giải
quyết hồ sơ, thủ tục cho công dân, tổ chức chưa kịp thời.
- Công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật được triển khai thực hiện
nhưng chưa thực sự hiệu quả, còn mang tính chung chung, thiếu chương trình, kế hoạch
- Nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức về vai trò, ý nghĩa của
công tác cải cách hành chính chưa sâu nên công tác tham mưu và tổ chức thực hiện chưa
đạt kết quả cao;
- Việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông còn nhiều khó khăn do
một số thủ tục hành chính còn những bất cập trong cơ sở pháp lý. Khối lượng công việc
của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ngày càng nhiều, trong khi biên chế
hành chính ít nên hầu hết công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đều
thực hiện nhiệm vụ theo chế độ kiêm nhiệm nên chất lượng tiếp nhận, giải quyết TTHC
một số đơn vị chưa đáp ứng nhu cầu của tổ chức và công dân.
- Sự phối hợp giữa các phòng, ban với UBND các xã, thị trấn trong việc thực hiện
các nhiệm vụ còn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ và hiệu quả.
- Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn chưa đồng đều, có
nơi còn yếu; tính chuyên nghiệp và chuyên sâu, kỹ năng hành chính của cán bộ, công
chức còn thấp, vẫn còn tình trạng thừa về số lượng, nhưng lại thiếu công chức có năng lực
làm việc, đáp ứng yêu cầu.
Do ngân sách còn khó khăn nên việc đầu tư kinh phí bảo đảm cho việc triển khai,
thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước và hiện đại hóa nền hành chính
chưa đáp ứng với yêu cầu đề ra.
4. Bài học kinh nghiệm:
- Cải cách hành chính là một lĩnh vực khó, thường xuyên và lâu dài, do đó phải có
sự chỉ đạo đồng bộ cả hệ thống chính trị từ huyện đến xã, thị trấn, từ cấp uỷ đến chính
quyền phải có quyết tâm mới đạt được kết quả mong muốn, đặc biệt là nhận thức và sự
chỉ đạo của người đứng đầu, vì thực sự đây được xem như là một cuộc đấu tranh quyết
liệt với sự bảo thủ trì trệ để đi đến mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong
sạch, vững mạnh và từng bước hiện đại theo kế hoạch, lộ trình chung của tỉnh, huyện đã
đề ra.
- Để đảm bảo thực hiện tốt công tác cải cách hành chính cần xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có
tính chuyên nghiệp cao, tận tụy, công tâm phục vụ nhân dân, nhất là cán bộ, công chức
- Hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của
huyện. Nâng cao chất lượng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trước hết là cải tiến
quy trình xây dựng và ban hành các văn bản QPPL đảm bảo tính hợp pháp, đồng bộ và
khả thi của hệ thống văn bản, thực hiện đánh giá tác động của văn bản trước và sau khi
ban hành, nâng cao chất lượng thẩm định văn bản QPPL.
b. Về cải cách thủ tục hành chính:
- Thường xuyên rà soát, đơn giản và kiến nghị cấp có thẩm quyền thực hiện đơn
giản hóa thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, trọng tâm là những
thủ tục hành chính còn phiền hà, liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp. Những
lĩnh vực tập trung là: Đầu tư; đất đai; xây dựng; thuế và các lĩnh vực khác theo yêu cầu
thực tiễn.
- Cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các ngành, các
cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước.
- Công bố công khai, minh bạch tất cả thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải
quyết của địa phương, đơn vị bằng nhiều hình thức thiết thực, thích hợp; các thủ tục hành
chính được bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới được công bố cập nhật đúng quy định
của Chính phủ.
- Đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật, thường xuyên rà soát thủ tục hành chính theo quy định, xây dựng quy
trình, thời gian giải quyết để thực hiện thống nhất trong toàn huyện đảm bảo phù hợp với
thực tiễn và điều kiện cụ thể của từng ngành, từng cấp. Tăng cường đối thoại giữa cơ quan
hành chính nhà nước với doanh nghiệp và công dân; mở rộng dân chủ, công khai các
chuẩn mực, các quy định thủ tục hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện.
10
- Tiếp tục triển khai đồng bộ, nâng cao chất lượng và thực hiện có hiệu quả cơ chế
một cửa để giải quyết công việc của tổ chức và công dân tại UBND huyện và các xã, thị
trấn theo quy định. Triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông ở một số lĩnh vực cần
thiết như: lĩnh vực đầu tư, đất đai, đăng ký kinh doanh, lao động, thương binh và xã hội.
chức như chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, hưu trí, thôi việc…
- Xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức xã, thị trấn đảm bảo đáp ứng các
yêu cầu về số lượng, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
đạt chuẩn theo quy định. Đồng thời bố trí, sắp xếp và động viên số cán bộ, công chức
không đủ chuẩn nghỉ hưu trước tuổi và nghỉ thôi việc một lần theo quy định.
11
- Tiếp tục nâng cao việc thực hiện trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo
đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.
e. Cải cách tài chính công:
- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên
chế, kinh phí tài chính đối với cơ quan hành chính; đổi mới cơ chế tài chính của các đơn
vị sự nghiệp công lập.
- Động viên, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội của huyện; thực hiện cân đối ngân sách cho đầu tư phát triển.
- Nâng cao tính chủ động, quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị trong việc quản
lý, sử dụng kinh phí ngân sách và với vấn đề tài chính của mình.
g. Hiện đại hóa nền hành chính:
Triển khai nâng cấp trang thông tin điện tử của huyện, từng bước mở rộng đến xã, thị
trấn.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước để phấn đấu tiến tới các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ
quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên
chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc, bảo đảm dữ liệu điện tử
phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Tiếp tục triển khai xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu cuẩn
ISO 9001 – 2008. Phấn đấu công nhận đạt chất lượng trong quý I/2014.
Tăng cường đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp trụ sở các cơ quan hành chính, đảm
bảo yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà
nước, đặt biệt là đối với trụ sở xã, thị trấn theo Quyết định 1441/QĐ-TTg ngày
h. Bố trí kinh phí hàng năm để triển khai thực hiện cải cách hành chính theo tính
chất, mức độ thực hiện các nhiệm vụ, trong đó chú trọng bố trí kinh phí cho việc thực hiện
cơ chế một cửa. Tăng cường đầu tư, trang thiết bị, điều kiện làm việc cho Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả của huyện và xã, thị trấn.
Trên đây là báo cáo kết quả thực hiện chương trình cải cách hành chính từ năm 2010
đến 10 tháng đầu năm 2013 và các nhiệm vụ, giải pháp tổ chức thực hiện trong thời gian
đến của UBND huyện Thăng Bình./.
Nơi nhận:
- UBND tỉnh;
- Sở Nội vụ tỉnh;
- Ban Thường vụ Huyện uỷ;
- TT.HĐND, UBND huyện;
- Lưu VT-NV.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
13
PHỤ LỤC CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
(Từ năm 2010 đến tháng 10/2013)
1. Về kiểm tra công tác cải cách hành chính: Bình Giang, Bình Phục, Bình
Lãnh, Bình Đào, Bình Định Bắc, Bình Hải, Bình Triều, Bình Quế, TT Hà Lam, Bình
Trung.
2. Về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: 28 văn bản
a. Văn bản QPPL của HĐND huyện:
14
- Năm 2010:
2
+ Kiểm tra theo thẩm quyền: 30
+ Thẩm định:
4
+ Góp ý:
2
+ Tự kiểm tra và đề nghị xử lý: 1
4. Về giải quyết hồ sơ theo cơ chế “một cửa” tại huyện:
4.1 Kết quả tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thẩm định Báo cáo Kinh tế kỹ thuật:
Nội dung
2010
2011
2012
Tổng số hồ sơ tiếp nhận và đã
giải quyết
76
54
124
4.2 Kết quả thực hiện tiếp nhận và giải quyết thẩm tra hồ sơ quyết toán:
Nội dung
2010
325
336
412
46
36
46
(Đơn)
02
GPXD
(Trường hợp)
4.4 Trên lĩnh vực đất đai:
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận và hoàn trả
kết quả về lĩnh vực đất đai:
*Tổng hồ sơ tiếp nhận: 9.310 hồ sơ
Năm
Tổng
Loại HS
2010
494
684
Chuyển mục
đích
347
203
299
Giao đất
292
146
87
525
Chuyển nhượng
402
273
9.310
Tổng cộng
cộng
849
Kết quả thực hiện giải quyết tiếp nhận hồ sơ theo cơ chế một cửa (Từ ngày
01/01/2013 đến 30/10/2013):
TT
Nội dung
Tổng
số tiếp
nhận
Đã giải
quyết
Đang
giải
quyết
Hoàn Hồ sơ
trả
trễ
lại
hẹn
Thẩm định KHĐT
69
69
0
0
0
04
Thẩm tra QT
61
53
8
0
0
15
2.224
2.224
0
0
0
- Xét duyệt cấp thẻ BHYT
829
829
0
0
0
- Xác nhận hộ nghèo
95
95
0