BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THU HẰNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT
VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 62 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2017
1
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Vũ Đức Đán
2. PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương
1. PGS.TS. Nguyễn An Lương, KS. Nguyễn Thu Hằng (2011), “Mấy vấn đề
cần được quan tâm khi nghiên cứu xây dựng Dự thảo luật An toàn, Vệ
sinh lao động của nước ta”, Tạp chí Bảo hộ lao động, (số tháng 8/2011), tr
9-11.
Nguyễn Thu Hằng (2016), “Kinh nghiệm quản lý nhà nước bằng pháp
luật về AT, VSLĐ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước trên
thế giới và một số gợi ý cho Việt Nam” , Tạp chí Bảo hộ lao động, (số
tháng 4/2016), tr. 10-11.
ện Hành chính Quốc gia. Số: 77 - Đường Nguyễn Chí Thanh - Quận Đống Đa - Hà
Nội
Thời gian: vào hồi ……… giờ ….. ngày … tháng …. Năm ………
ó thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam hoặc thư viện của
Học viện Hành chính Quốc gia.
2
27
KẾT LUẬN
Công tác an toàn, vệ sinh lao động luôn là một trong những chính sách kinh
ã hội lớn của Đảng và Nhà nước, là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến
phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Trong quá trình hội nhập nhanh
g kinh tế của đất nước ta với nền kinh tế thế thế giới thì vai trò của các doanh
ệp nhỏ và vừa là đóng một vai trò quan trọng. Để tăng cường khả năng cạnh
h của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập thì việc tiếp tục
thiện công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
g các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một yêu cầu cần thiết và quan trọng. Thông
các nội dung của luận án, có thể đi đến một số kết luận như sau:
kiểm tra, giám sát ATVSLĐ.
Đảng và Nhà nước ta khẳng định tạo môi trường về pháp luật và các cơ
chế chính sách thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc mọi thành phần kinh
tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo phương châm tích cực, bền
vững, đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường…
Với mong muốn góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại của quản lý nhà
nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở Việt Nam, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài "Quản lý nhà nước bằng pháp
luật về an toàn, vệ sinh trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam " để viết
luận án tiến sỹ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật về
an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đề xuất các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý
nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến quản lý nhà nước bằng
pháp luật về ATVSLĐ trong các DNNVV làm cơ sở cho việc xác định nội dung
nghiên cứu của luận án;
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết QLNN bằng pháp luật về ATVSLĐ trong các
DNNVV ở Việt Nam;
3
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về QLNN bằng
luật về ATVSLĐ trong các DNNVV để rút ra bài học cho Việt Nam;
- Phân tích thực trạng, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế của
NN bằng pháp luật về ATVSLĐ trong các DNNVV ở Việt Nam và lý giải
iả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu
Giả thuyết khoa học
- Giả thuyết 1: Hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ
lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một phần quan trọng của hoạt
g quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động ở Việt Nam.
- Giả thuyết 2: Hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ
lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có nhiều hạn chế.
4
Củng cố và tăng cường hệ thống tổ chức Thanh tra ATVSLĐ là hết sức cần
thiết và cũng là yêu cầu thực tế khách quan.
Cần tăng cường số lượng và chất lượng thanh tra viên ATVSLĐ. Để tương
đương với các nước thì cứ 40 ngàn lao động nói chung (công nghiệp và nông
nghiệp) phải có một thanh tra ATVSLĐ. Điều này tương đương với cả nước ta có
khoảng trên 1300 thanh tra ATVSLĐ.
4.2.3.2. Nâng cao chất lượng của đội ngũ thanh tra an toàn, vệ sinh lao động
Cần đào tạo nâng cao năng lực của đội ngũ thanh tra chuyên ngành
ATVSLĐ.
Về chất lượng cần ưu tiên những cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi,
chuyên sâu một nghề, biết nhiều nghề.
4.2.3.3. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động thanh tra
an toàn, vệ sinh lao động
Cần tăng cường bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng,
hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý và hoạt động của các cơ
quan thanh tra chuyên ngành ATVSLĐ.
Cần áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thanh tra ATVSLĐ.
4.2.4. Một số giải pháp khác
4.2.4.1. Xây dựng các chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện
công tác an toàn, vệ sinh lao động
Nhà nước nên xây dựng và thực hiện các chương trình hỗ trợ dành cho
động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Để nâng cao năng lực thực thi của các cán bộ quản lý về ATVSLĐ thì ngoài
đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức hành chính cần phải
trọng đào tạo về kỹ năng hành chính, đáp ứng yêu cầu về kỹ năng, công nghệ,
trình xử lý công việc như kỹ năng thu thập, xử lý thông tin để ra quyết định;
ăng dự báo, lập kế hoạch, xây dựng chương trình hành động; kỹ năng xử lý
huống; kỹ năng sử dụng các công cụ quản lý; kỹ năng ủy quyền; kỹ năng
lý sự thay đổi…. Cần tiến hành rà soát, xác định trình độ của đội ngũ cán bộ
thực hiện các công việc liên quan đến ATVSLĐ để từng bước hình thành
ơng trình đào tạo phù hợp.
Đối với các DNNVV, nhà nước nên có chương trình đào tạo đội ngũ
ên gia tư vấn về công tác đảm bảo ATVSLĐ cho các doanh nghiệp.
2.3. Nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an
, vệ sinh lao động
Trên cơ sở mạng thông tin quốc gia về ATVSLĐ hiện có, cần bổ sung, củng
ể đưa mạng vào hoạt động có hiệu quả. Tăng cường các kho thông tin, tư liệu.
nay chưa có một trang web chính thức của mạng. Vì vậy, trong thời gian tới
thành lập một website chính thức với sự tham gia của tất cả các thành viên
Bộ LĐTBXH (Cục ATLĐ), Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn LĐVN, Hội nông dân,
ng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các bộ ban ngành có liên quan,
KHKT ATVSLĐ, Hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa VN...
Tăng cường công tác phối hợp giữa cơ quan QLNN về ATVSLĐ, với các
uan thông tin, truyền thông; các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội, trong công
uyên truyền, phổ biến pháp luật về ATVSLĐ
Đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ chuyên trách
án chuyên trách làm công tác thông tin tuyên truyền; tăng cường cơ chế hợp
phối hợp chặt chẽ của 3 bên (cơ quan nhà nước, tổ chức đại diện NLĐ,
DLĐ); xây dựng, mở rộng các trung tâm tư vấn, các tổ chức mạng lưới thông
ruyền thông xuống cơ sở, doanh nghiệp nhằm tạo ra một mạng lưới thông tin
tục, sâu sát và kịp thời.
trong các DNNVV ở Việt Nam trong thời gian tới; đề ra những giải pháp nhằm
góp phần hoàn thiện công tác QLNN bằng pháp luật về ATVSLĐ trong các
DNNVV.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận án đã làm sâu sắc, hoàn thiện cơ sở khoa học về QLNN bằng pháp
luật về ATVSLĐ trong các DNNVV ở Việt Nam.
- Luận án đã tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản pháp luật về ATVSLĐ; đã
phân tích và đánh giá thực trạng về công tác QLNN bằng pháp luật về ATVSLĐ
trong các DNNVV.
- Luận án sẽ là một báo cáo khoa học tương đối toàn diện, có hệ thống về
vấn đề QLNN bằng pháp luật về ATVSLĐ trong các DNNVV.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục luận án gồm có 04 chương.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Chương 2. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước bằng pháp luật về an
5
, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chương 3. Thực trạng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và quản lý nhà
c bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và
ở Việt Nam.
Chương 4. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước bằng
luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
.
6
- Nâng cao công tác tổ chức thực hiện pháp luật về ATVSLĐ trong các
theo chiều dài và chiều ngang với các chức năng rõ ràng từ Trung ương đến địa
phương”
Trong hệ thống quản lý được đề xuất, chủ yếu chú trọng đến Hội đồng
ATVSLĐ các cấp. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng quốc gia về
ATVSLĐ cũng là một trong những vấn đề cần được quan tâm. Với việc ra đời của
Hội đồng ATVSLĐ cấp tỉnh như quy định của Luật ATVSLĐ cho thấy đây là một
điểm mới và cần được phát huy.
23
Thứ hai, hệ thống quản lý nhà nước về ATVSLĐ trong các DNNVV chưa
c phân định rõ ràng. Còn có sự chồng chéo giữa các cơ quan QLNN.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý ATVSLĐ chưa có
ào tạo bài bản về công tác ATVSLĐ.
Thứ tư, biên chế thanh tra lao động và thanh tra ATVSLĐ còn thấp.
Thứ năm, chế độ, chính sách chưa thu hút được cán bộ thanh tra yêu nghề,
u cán bộ thanh tra sau khi đã rèn luyện đủ năng lực lại chuyển công tác khác.
Chương 4.
ƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
NG PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn,
nh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp nhỏ và
ở Việt Nam
Trong báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ “Hoàn thiện cơ chế,
h sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết
ATVSLĐ trong các DNNVV. Có thể liệt kê những nghiên cứu có liên quan như
sau:
1.1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện
công tác an toàn và vệ sinh lao động
Trong năm 2001, ILO đã xuất bản cuốn “Hướng dẫn về hệ thống quản lý an
toàn và vệ sinh lao động (OSH-MS)”, nhằm tạo một công cụ hỗ trợ thiết thực cho
các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền, cũng như các biện pháp để không ngừng
hoàn thiện việc thực hiện ATVSLĐ.
Năm 2004, ILO đã xuất bản cuốn “Chiến lược toàn cầu về an toàn vệ sinh
lao động”. Đây là những kết luận của Hội nghị lao động quốc tế về ATVSLĐ năm
2003. Các kết luận tại Hội nghị phác thảo ra một chiến lược ATVSLĐ toàn cầu.
Năm 2005, Nguyễn Anh Thơ, Cục An toàn lao động đã hoàn thành luận văn
thạc sỹ tại Hàn Quốc mang tên “Các hệ thống luật pháp, thể chế và tổ chức An
toàn vệ sinh lao động ở Hàn Quốc và những gợi ý cho Việt Nam”. Luận văn chỉ ra
các vấn đề liên quan đến an toàn vệ sinh lao động tại Hàn Quốc và từ đó đưa ra
một số gợi ý cho Việt Nam.
Năm 2008, tác giả Benjamin O. Alli, ILO đã xuất bản cuốn sách “Các
nguyên tắc cơ bản của công tác An toàn vệ sinh lao động”. Đây là một trong
những hoạt động tích cực của ILO nhằm ngăn ngừa TNLĐ và BNN ở các nước
trên thế giới trong đó có nhấn mạnh đến công ước 187.
TS. Doo Yong Park (Hàn Quốc) năm 2012, đã có nghiên cứu về “An toàn
lao động- phát triển cơ sở hạ tầng cho An toàn vệ sinh lao động”. Đã đưa ra
những đề xuất chính sách và định hướng thiết lập các hệ thống ATVSLĐ để đảm
bảo phát triển kinh tế bền vững, thành công và nâng cao chất lượng sống cho
người lao động của Việt Nam.
1.1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về tổ chức thực hiện an toàn, vệ sinh lao
động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Năm 2004, Jason Heyes đã thực hiện một nghiên cứu về “Sự thay đổi vai
trò của các Bộ Lao động: sự tác động đến lao động, việc làm và chính sách xã
hội”, ILO đã có cam kết lâu dài về việc tăng cường vai trò của các Bộ Lao động ở
2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ sở khoa học an toàn, vệ sinh lao
g
Từ năm 1996 đến năm 2000, PGS. TS. Nguyễn An Lương và cộng sự đã
hiện một đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mã số KHCN.11.07 “Nghiên cứu
dựng chiến lược và các biện pháp cơ bản để giám sát, dự phòng và xử lý các
cơ ô nhiễm môi trường lao động ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động”.
ài đã đề xuất được dự thảo chiến lược quốc gia về ATVSLĐ trong giai đoạn
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giai đoạn 1999-2004, Viện Bảo hộ lao động thực hiện một đề tài độc lập
Nhà nước mã số KHCN. ĐL.02 do PGS.TS. Nguyễn An Lương chủ trì
hiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quản lý
oàn và vệ sinh lao động phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội, góp phần
vệ sức khỏe người lao động trong quá trình hội nhập” Đề tài đã nghiên cứu
uất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý ATVSLĐ phù
với giai đoạn CNH, HĐH đất nước và quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Cuốn sách “Bảo hộ lao động” do PGS.TS. Nguyễn An Lương chủ biên là
ài liệu nghiên cứu và tham khảo cơ bản về công tác bảo hộ lao động (an toàn
8
Thứ sáu, việc chấp hành các quy định về ATVSLĐ tại các doanh nghiệp đã
được quan tâm và đầu tư hơn.
Thứ bảy, hoạt động thanh tra lao động (trong đó có thanh tra ATVSLĐ) đã
có những chuyển biến tích cực.
3.3.2. Một số hạn chế chính
Một là, pháp luật ATVSLĐ được xây dựng và hình thành từ trong thời kỳ
kế hoạch hóa và một số là trong giai đoạn nền kinh tế nước ta vừa mới chuyển
sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên những vấn
đề chủ yếu của kinh tế nói chung và những vấn đề về ATVSLĐ nói riêng mới chỉ
ở giai đoạn đầu, chưa bộc lộ hết những yêu cầu của nó.
Hai là, hiện nay Việt Nam chưa có xây dựng và ban hành được những văn
Hầu hết các DNNVV khi được hỏi đều cho rằng vướng mắc khó khăn của
hi thực hiện các vấn đề liên quan đến bồi thường, trợ cấp TNLĐ/BNN từ cơ
bảo hiểm. Một số khó khăn được nêu ra là: (1) thủ tục hồ sơ làm cơ sở xét
ng chế độ bảo hiểm xã hội còn nhiều vướng mắc; (2) chưa có văn bản quy
thời hạn NSDLĐ phải hoàn tất thủ tục nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội để
quyết cho NLĐ được hưởng chế độ TNLĐ, BNN
3. Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật an
, vệ sinh lao động
Lực lượng thanh tra lao động trong cả nước tương đối mỏng. Tổng số trên
ước có 465 thanh tra lao động (tính đến 12/2014). Số lượng thanh tra viên của
sở hiện nay cũng bố trí ít do bị hạn chế về biên chế. Theo như báo cáo Thanh
ở LĐTB&XH thành phố Hồ Chí Minh có 57 người, các sở còn lại bình quân
Sở là 5,2 người; có Sở chỉ có 3 hoặc 4 người như Hòa Bình, Hà Nam, Phú
Bến Tre, Tây Ninh…
Có thể nói tổng số các cuộc thanh tra lao động (trong đó có thanh tra
VSLĐ) tại các địa phương không nhiều. Trung bình một năm, tổng số cuộc
h tra chính sách lao động là: 3840 cuộc. Trong khi đó, theo báo cáo của Tổng
Thống kê về số lượng doanh nghiệp năm 2013 tính đến thời điểm 31/12/2013
ợng doanh nghiệp đang hoạt động là 373.213 doanh nghiệp.
Theo báo cáo, trung bình hàng năm chỉ có khoảng 5-8% số doanh nghiệp
c thanh tra về lao động.
Trong 3 năm từ năm 2013-2016 tại 23 tỉnh, thành trong cả nước, các cấp
hẩm quyền đã ra 1.334 quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
ộng (trong đó có ATVSLĐ) với số tiền phạt gần 24 tỷ đồng.
Theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay quy định xử phạt chưa hợp lý.
chế tài xử phạt chưa cao. Chưa có tính răn đe (16/18 chuyên gia).
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh
động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
1. Những kết quả đạt được
TS. Trần Mai, Bộ LĐ&TBXH đã có bài báo cáo năm 2002 về “Thực trạng
và các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an toàn lao động và vệ sinh lao
động”. Trong báo cáo, tác giả đã đưa ra những thiếu sót, tồn tại, một số nguyên
nhân và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về ATVSLĐ.
Năm 2006, TS. Triệu Quốc Lộc chủ nhiệm đề tài mã số ĐL/06-2006-2
“Nghiên cứu xây dựng chương trình quản lý kiểm soát an toàn- vệ sinh lao động
và môi trường đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội”. Đề tài
đã đánh giá thực trạng tình hình quản lý An toàn vệ sinh lao động và môi trường
của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất các giải pháp hạn
chế khắc phục.
Năm 2009, KS. Đoàn Minh Hòa, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã
chủ trì đề tài cấp Bộ mã số CB 2009-01-09 “Xây dựng quy trình quản lý An toàn Vệ sinh lao động trong các loại hình doanh nghiệp”. Đề tài đã tập trung nghiên
cứu về áp dụng hệ thống quản lý tại các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ tại một
số địa phương để từ đó kiến nghị các giải pháp thực hiện trong một số loại hình
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Năm 2011, GS.TS Lê Vân Trình có báo cáo về “Hệ thống quản lý an toàn,
vệ sinh lao động ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp” . Báo cáo phân
tích, hệ thống quản lý ATVSLĐ hiện tại của Việt Nam. Đồng thời cũng đề xuất
xây dựng một hệ thống quản lý ATVSLĐ.
Năm 2012, Bộ LĐTB&XH, báo cáo “Tình hình thực hiện pháp luật về An
toàn vệ sinh lao động giai đoạn 1995-2012 và định hướng triển khai đến năm
2020” đã nêu rõ Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
và một trong những quan điểm chỉ đạo là xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói
9
g và pháp luật an toàn vệ sinh lao động nói riêng, đáp ứng yêu cầu của quá
cải cách tư pháp ở Việt Nam và quá trình hội nhập.
Đánh giá những các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1. Những thành tựu của các công trình liên quan đến đề tài
TVSLĐ trong trong các DNNVV.
Thứ hai, phân tích đặc điểm và chỉ rõ vai trò của QLNN bằng pháp luật về
VSLĐ trong các DNNVV. Nghiên cứu và làm sáng tỏ nội dung và các nhân tố
hưởng đến QLNN bằng pháp luạt về ATVSLĐ trong các DNNVV.
Thứ ba, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm QLNN bằng pháp luật về
VSLĐ trong các doanh nghiệp nói chung, các DNNVV nói riêng.
10
3.2.2.3. Tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa
* Bố trí sắp xếp cán bộ làm công tác an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh
nghiệp nhỏ và vừa
Theo thống kê, số lượng các doanh nghiệp có số lượng dưới 100 lao động
chiếm khoảng 70% số lượng các DNNVV ở Việt Nam nên việc thực hiện việc bố
trí tổ chức bộ phận ATVSLĐ tại các doanh nghiệp hiện nay vẫn chưa được thực
hiện tốt.
Trong số 434 doanh nghiệp được khảo sát thì chủ yếu là các doanh nghiệp
vừa có từ 200-300 lao động đã thành lập bộ phận phụ trách về ATVSLĐ tại doanh
nghiệp. Còn các doanh nghiệp nhỏ hơn 50 lao động thì hầu như rất ít thực hiện.
Theo kết quả khảo sát, rất ít DNNVV thành lập bộ phận phụ trách về
ATVSLĐ và bộ phận y tế cơ sở. Đồng thời việc xây dựng kế hoạch ATVSLĐ
hàng năm cũng ít được quan tâm.
* Tổ chức khám sức khỏe định kỳ
Theo báo cáo của Bộ Y tế, người lao động đã được các cơ sở lao động
quan tâm, số lượng người lao động được khám sức khỏe định kỳ tăng hàng năm,
nhưng mới chỉ tập trung ở các cơ sở lao động lớn, còn các cơ sở nhỏ và vừa chưa
thực sự được quan tâm. Điều này được phản ánh trong thực tế, nhiều doanh
nghiệp thường cắt giảm các chi phí trong đó có chi phí về khám sức khỏe định kỳ
cho NLĐ.
* Việc thực hiện tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động
g, số cán bộ làm công tác an toàn lao động tại các phòng việc làm và an toàn
động (từ 1-3 người/địa phương); số cán bộ làm công tác thanh tra ATVSLĐ
g thanh tra lao động 465 người- tháng 12/2014); Số cán bộ tại các Trung tâm
m định kỹ thuật an toàn (500 người).
Đến nay, toàn quốc đã có 1.796 cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực y tế
động. Trình độ học vấn chủ yếu là Trung cấp (chiếm 55,3%). Trình độ đại học
au đại học chỉ chiếm hơn 1/3 (38,5%).
Theo các chuyên gia, hiện nay đội ngũ cán bộ phụ trách việc tổ chức thực
pháp luật về ATVSLĐ trong cả nước nói chung và trong các DNNVV nói
g vẫn còn thiếu về số lượng. Thực sự thiếu những cán bộ có kinh nghiệm lâu
và hiểu biết rộng về lĩnh vực ATVSLĐ. Thiếu đội ngũ chuyên gia tư vấn về
VSLĐ cho các DNNVV.
2.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn, vệ sinh
động
Một trong những hoạt động quan trọng nhằm tổ chức thực hiện pháp luật
VSLĐ được tốt chính là công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
VSLĐ. Ngày 24/2/2009, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số
009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao
g và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp.
Từ năm 2006, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Quốc gia về
VSLĐ. Đến nay chương trình đã trải qua 02 giai đoạn. Giai đoạn đầu từ năm
6-2010, giai đoạn thứ hai từ năm 2011-2015. Trong cả hai giai đoạn đều có
ng nội dung và nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện về pháp
ATVSLĐ cho các đối tượng trong đó có các DNNVV.
Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có
00 khoảng DNNVV được tuyên truyền phổ biến pháp luật về ATVSLĐ trong
đoạn từ 2010-2014.
Thông qua chương trình quốc gia về ATVSLĐ giai đoạn 2011-2015, mà
ợng DNNVV được phổ biến tuyên truyền pháp luật ATVSLĐ tích lũy từ năm
1-2014 đã lên số lượng 120.103 doanh nghiệp.
bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng
nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)…”
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Có thể nói “Quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao
động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ là quá trình nhà nước sử dụng công cụ
pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người
để đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, nhằm bảo vệ tính mạng và sức khoẻ cho người lao động và giảm
thiểu các tổn thất do hậu quả tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
2.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao
động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2.1.2.1. Nhà nước là chủ thể quản lý bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
11
Chủ thể của QLNN bằng pháp luật về ATVSLĐ đối với các DNNVV là nhà
c. Nhà nước thông qua các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức được nhà
c ủy quyền để thực hiện quyền lực nhà nước.
2.2. Pháp luật là cơ sở và là công cụ hàng đầu để nhà nước quản lý công tác
oàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
QLNN bằng pháp luật về ATVSLĐ đối với các DNNVV là việc sử dụng
cụ pháp lý để điều chỉnh các hoạt động nhằm đảm bảo ATVSLĐ trong các
NVV.
2.3. Quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các
nh nghiệp nhỏ và vừa nhằm đảm bảo an toàn, sức khỏe, tính mạng cho người
động
QLNN bằng pháp luật về ATVSLĐ trong các DNNVV nhằm hướng tới
các vấn đề về ATVSLĐ. Từ điều 95 đến điều 108, Bộ Luật Lao động quy định
trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động, quy định về TNLĐ,
BNN.
Ngoài các văn bản pháp luật quy định trực tiếp về lĩnh vực ATVSLĐ, nhiều
văn bản pháp luật khác cũng có một số điều liên quan đến công tác ATVSLĐ hoặc
chế độ chính sách về ATVSLĐ: Luật công đoàn có những quy định về quyền,
trách nhiệm của công đoàn trong công tác ATVSLĐ; Luật Bảo vệ sức khỏe nhân
dân, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Phòng cháy chữa cháy; Luật Xây dựng, Luật
Hóa chat, Luật Điện lực, Luật Khoáng sản, Luật Hợp tác xã, Luật Dạy nghề, Luật
Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiệm Y tế, Luật đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản
phẩm hàng hóa; Bộ Luật hình sự...
Ngay từ khi Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành, Chính phủ đã ban hành
nghị định số 06/CP ngày 20/1/1995 quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao
động về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Năm 2002, Chính phủ lại tiếp tục sửa
đổi bổ sung nghị định 06/CP bằng nghị định số 110/2002/NĐ-CP ngày
27/12/2002. Để tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động ATVSLĐ, một số nội
dung cụ thể được quy định bởi các văn bản pháp quy dưới luật về công tác
ATVSLĐ như sau:
-Vấn đề tổ chức thực hiện công tác ATVSLĐ trong các cơ sở sản xuất kinh
doanh
-Vấn đề tuyên truyền, huấn luyện về ATVSLĐ
-Vấn đề khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động
-Về chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người bị TNLĐ và BNN
-Vấn đề về thanh tra an toàn, vệ sinh lao động
-Vấn đề về xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động
3.2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
3.2.2.1. Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và đội ngũ thực thi
việc tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
, vệ sinh lao động
1.1. Khái quát công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật ATVSLĐ ở Việt
giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1995
Công tác ATVSLĐ đã được Đảng, Bác Hồ và Nhà nước ta coi trọng và
tâm chỉ đạo ngay từ những ngày đầu thành lập nước. Ngay sau khi giành
c chính quyền “Nhà nước đã ban hành gần 20 văn bản pháp luật quy định về
độ tiền lương, phụ cấp cho cán bộ công nhân viên chức; quy định việc sa thải,
n dụng nhân công ở các xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ…”.
Ngày 27 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số 36 về
thành lập Bộ Xã hội.
Sau khi đã thành lập được cơ quan quản lý nhà nước về lao động trong đó
TVSLĐ, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 29 ngày 12/03/1947. Đây chính
ột trong những sắc lệnh đầu tiên và quan trọng nhằm thiết lập cơ chế QLNN
o động trong đó có một số điều liên quan đến công tác ATVSLĐ.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, nhà nước tiếp tục củng cố, phát triển hệ
g pháp luật về ATVSLĐ. Ngày 18/12/1964, Hội đồng Chính phủ ban hành
định 181/CP ban hành điều lệ tạm thời về bảo hộ lao động.
Pháp lệnh về Bảo hộ lao động đã được Hội đồng Nhà nước thông qua và
bố ban hành. Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 1/1/1992. Sau khi Pháp lệnh Bảo
ao động được ban hành thì hàng loạt các chỉ thị và thông tư, thông tư liên bộ
ời nhằm hướng dẫn triển khai thực hiện Pháp lệnh.
1.2.Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật an toàn, vệ
lao động ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 đến nay (2016)
Bộ Luật Lao động đã được ban hành năm 1994 và có hiệu lực từ ngày
1/1995. Bộ Luật Lao động đã dành riêng chương IX gồm 14 điều để quy định
16
2.2. Nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.2.1. Xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
thái độ tôn trọng hay không tôn trọng pháp luật về ATVSLĐ của những người liên
quan trong đó có đội ngũ cán bộ quản lý và thực thi pháp luật ATVSLĐ của các
cơ quan hữu quan, của người sử dụng lao động và người lao động trong các
DNNVV.
2.3.2. Năng lực của đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý nhà nước về an toàn, vệ
sinh lao động và cán bộ lãnh đạo quản lý, phụ trách trực tiếp an toàn, vệ sinh
lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
13
Năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, QLNN trong lĩnh vực ATVSLĐ thể
trước hết ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tham mưu, tư vấn QLNN về
VSLĐ trong các DNNVV.
3. Trình độ phát triển kinh tế- xã hội
Chính cơ cấu và sự phát triển về số lượng cũng như vai trò ngày càng quan
g của các DNNVV trong nền kinh tế quốc dân sẽ làm một trong những nhân
c động đến việc xây dựng và ban hành các chính sách về ATVSLĐ.
4. Hội nhập kinh tế quốc tế và trình độ phát triển của khoa học công nghệ
Xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang diễn ra trên toàn thế giới.
Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Chúng ta đang chuyển mình từng ngày
ội nhập ngày càng sâu rộng hơn. Chính điều này ảnh hưởng đến QLNN bằng
luật về mọi lĩnh vực nói chung và QLNN bằng pháp luật về ATVSLĐ nói
g.
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và kỹ thuật trên thế giới cũng là
trong những nhân tố ảnh hưởng tới công tác QLNN bằng pháp luật về
VSLĐ.
Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho
Nam trong quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
g các doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.Kinh nghiệm của Nhật Bản
Một là, cần chú trọng đến công tác xây dựng và ban hành các văn bản háp
luật về ATVSLĐ dành riêng cho các DNNVV.
Hai là, cần xây dựng mô hình quản lý nhà nước về ATVSLĐ một cách
thống nhất, tập trung.
Ba là, nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATVSLĐ
trong các DNNVV.
Bốn là, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ cho các DNNVV trong việc
thực hiện công tác ATVSLĐ tại doanh nghiệp.
Năm là, cần xây dựng đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật về ATVSLĐ có
trình độ chuyên môn, hiểu biết rộng về lĩnh vực ATVSLĐ trong các DNNVV.
Sáu là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để việc thực hiện công tác
ATVSLĐ tại các DNNVV.
Chương 3.
THỰC TRẠNG TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP
VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT
VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
3.1.Thực trạng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp trong các doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở Việt Nam
3.1.1.Khái quát về các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Theo kết quả tổng điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, đến hết
năm 2014 cả nước có 397,68 nghìn DNNVV, trong đó có 288,29 nghìn doanh
nghiệp siêu nhỏ (từ 10 lao động trở xuống), 102,13 nghìn doanh nghiệp nhỏ.
Theo báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, số lượng
DNNVV chiếm 97,5 % tổng số doanh nghiệp đang hoạt động thực tế với tổng số
vốn đăng ký khoảng 121 tỉ USD, chiếm 30 % tổng số vốn đăng ký của các doanh
nghiệp. Hàng năm các DNNVV đóng góp khoảng 40 % GDP; 33 % giá trị sản
lượng công nghiệp, 30 % giá trị hàng hóa xuất khẩu và thu hút gần 60 % lao
động.
3.1.2.Tình hình tai nạn lao động