Các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại việt nam (TT) - Pdf 35

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH


TRẦN NGỌC HÙNG

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016


2

Công trình này được hoàn thành tại: Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. TRẦN VĂN THẢO
2. TS. ĐOÀN NGỌC QUẾ

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại: Trường Đại học
Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, vào hồi

Một khi môi trường kinh doanh thay đổi theo xu hướng hội nhập toàn cầu, một thách thức lớn đặt
ra cho các nhà quản trị Việt Nam là phải vận dụng các công cụ kỹ thuật quản trị mới để ứng phó,
nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh của DN mình. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết các DNNVV cần
phải nhanh chóng vận dụng KTQT để giúp các nhà quản trị có được các thông tin kịp thời và
thích hợp, hữu hiệu, hiệu quả nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, với lịch sử hình
thành kinh tế thị trường muộn so với các nước trên thế giới, việc giảng dạy đào tạo KTQT tại Việt
Nam mới chỉ bắt đầu từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, do đó hiện nay phần lớn bộ
phận kế toán công tác tại các DNNVV tại Việt Nam vẫn còn bỡ ngỡ ít nhiều đối với việc vận
dụng KTQT. Qua khảo sát sơ bộ của tác giả cũng như những nghiên cứu trước đây, cho đến nay
việc vận dụng KTQT vào hoạt động quản trị trong các DNNVV vẫn còn nhiều vướng mắc, hệ quả
tất yếu là thực trạng tỷ lệ vận dụng KTQT trong các DNNVV nói chung còn thấp, các công cụ kỹ
thuật KTQT được vận dụng hầu hết là công cụ kỹ thuật truyền thống và hiệu quả đóng góp cho
công tác quản trị chưa cao. Tuy nhiên trong thực tế việc vận dụng KTQT chịu sự tác động của


4
nhiều nhân tố bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp, và các nhân tố này có thể làm gia tăng tính
khả thi của việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam hoặc ngược lại. Do đó việc
nghiên cứu nhằm nhận diện và lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố đến việc vận dụng
KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam là chủ đề rất quan trọng và hữu ích. Chính vì vậy, tác giả
đã lựa chọn nội dung nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị
trong các DNNVV tại Việt Nam” để thực hiện luận án của mình.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Luận án được thực hiện nhằm xác định các nhân tố tác động và mức độ tác động của từng nhân tố
đến việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam. Từ việc nhận diện nhân tố tác động và
mức độ tác động của chúng, luận án gợi ý một số chính sách cần thiết nhằm nâng cao tính khả thi
của việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam, để từ đó có thể giúp các DNNVV tại
Việt Nam hoàn thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong sân chơi hội nhập quốc tế.
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu như sau:


Luận án đã được thực hiện theo một quá trình xuyên suốt và áp dụng kết hợp hai phương pháp
nghiên cứu định tính và định lượng như sau:
- Phương pháp định tính: dùng công cụ phỏng vấn kết hợp với xin ý kiến chuyên gia để xác định
các nhóm nhân tố có thể tác động đến việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam. Từ
nội dung trao đổi, tác giả sẽ sử dụng kết quả thảo luận cuối cùng để làm cơ sở để xây dựng bảng
câu hỏi phục vụ cho công tác khảo sát.
- Phương pháp định lượng: dùng công cụ khảo sát để tập hợp các dữ liệu bằng cách chọn mẫu và
gửi bảng khảo sát trực tiếp đến các đối tượng có liên quan đến việc vận dụng KTQT trong các
DNNVV tại Việt Nam, từ đó tiếp tục dùng công cụ phần mềm SPSS để kiểm định dữ liệu được
tập hợp từ các cuộc khảo sát để kiểm tra lại độ tin cậy của các thang đo các nhân tố tác động đến
việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam, đồng thời tìm ra các nhân tố mới và đo
lường mức độ tác động của chúng. Các công cụ sử dụng bao gồm Chi bình phương (Chi-square),
Conbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đa biến.
6. NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ CÁC ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
6.1. Những điểm mới của luận án
Xem xét và đối chiếu với những nghiên cứu đã được các nhà khoa học trong nước thực hiện trước
đây thì luận án đã thực hiện được một số điểm mới như sau:
- Thứ nhất, khám phá thêm các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại
Việt Nam.
- Thứ hai, đo lường mức độ tác động của các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các
DNNVV tại Việt Nam bằng các phương pháp định tính và định lượng.
- Thứ ba, từ những khám phá đó tác giả đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm làm gia tăng tính
khả thi của việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam.
6.2. Các đóng góp khoa học của luận án
Luận án là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tác giả. Kết quả nghiên cứu của
luận án đã đóng góp khoa học một số điểm cơ bản như sau:
- Một là, thông qua việc tổng hợp thực tiễn vận dụng KTQT trong các DNNVV tại một số quốc
gia và khu vực, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho việc vận dụng KTQT trong các
DNNVV tại Việt Nam.
- Hai là, thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các giải pháp đồng bộ để góp phần làm

đã chỉ ra được được tiến trình và xu hướng phát triển của KTQT từ việc vận dụng vào DN những
công cụ kỹ thuật quản trị sơ lược ban đầu cho đến những hệ thống hoạch định phát triển phức tạp
ngày nay, những thay đổi của KTQT để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của DN và các
nguyên nhân dẫn đến những sự thay đổi trong việc vận dụng KTQT vào DN nói trên. Ngoài ra, mặc
dù trước đây chưa nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm đến thực trạng vận dụng KTQT trong các
DNNVV, tuy nhiên với sự gia tăng cạnh tranh do quá trình phẳng hóa thế giới mang lại, ngày càng có
nhiều các nghiên cứu thực trạng vận dụng KTQT trong các DNNVV ở cả các nước đã và đang phát


7
triển. Các khảo sát nghiên cứu không những đã chỉ ra mức độ vận dụng cũng như các công cụ kỹ
thuật được sử dụng trong các DNNVV mà bên cạnh đó, bằng các phương pháp định tính và định
lượng, cũng đã chỉ ra một số các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT vào DN nói chung và các
DNNVV nói riêng.
1.2. CÁC NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ Ở TRONG NƯỚC
1.2.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Theo các khảo sát, nghiên cứu về việc áp dụng KTQT vào DN Việt Nam nói chung và DNNVV nói
riêng trong một giai đoạn dài từ 1997 cho đến 2010 (Phạm Văn Dược 1997, Trần Anh Hoa 2003,
Phạm Ngọc Toàn 2010) thì cho đến nay các DN chưa chú trọng đến việc vận dụng các công cụ kỹ
thuật của KTQT vào hoạt động quản lý DN, thậm chí ở một số các DNNVV còn chưa có khái niệm về
vận dụng KTQT hoặc chưa có bộ máy KTQT riêng biệt để phục vụ cho nhu cầu quản trị của DN.
1.2.2. Nhận xét
Tại Việt Nam, qua một quá trình nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển KTQT tại Việt Nam,
các tác giả đã đề xuất các phương hướng về vận dụng và xây dựng KTQT tại các DN Việt Nam. Việc
phân tích chi tiết và đưa ra các mô hình KTQT cho mỗi loại hình DN khác nhau về ngành nghề (sản
xuất, thương mại), về quy mô (DNNVV, DN lớn) … đã giúp cho việc vận dụng KTQT vào các DN có
được hướng đi rõ ràng hơn.
Tuy nhiên cho đến nay tại Việt Nam vẫn còn thiếu các khảo sát chỉ ra các nhân tố tác động đến việc
vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam theo phương pháp định tính và định lượng, để từ đó
có thể đưa ra các giải pháp nhằm gia tăng mức độ khả thi của việc vận dụng KTQT trong các

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC
ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO DNNVV
2.1. TỔNG QUAN VỀ KTQT
2.1.1. Các khái niệm về KTQT
Hầu hết các cuộc cách mạng về sự thay đổi khái niệm KTQT có thể phát triển dựa trên ba trường phái
chính; đó là việc phát triển từ các khái niệm của Viện KTQT Hoa Kỳ (IMA), Viện điều lệ KTQT
(CIMA) và Hiệp hội kế toán quốc tế (IFAC).
Vào năm 1981, IMA đưa ra khái niệm đầu tiên của mình về KTQT dựa trên sự phản ánh về nhu cầu
thay đổi của DN đối với thông tin kế toán; tuy nhiên gần đây nhất vào 2008, IMA đưa ra khái niệm về
công việc của KTQT là: “… một công việc chuyên nghiệp có liên quan đến việc tham gia vào quá
trình ra quyết định, đề ra kế hoạch và hệ thống thực hiện, đồng thời cung cấp những báo cáo tài
chính chuyên nghiệp, giúp các nhà quản trị kiểm soát trong việc tạo lập và thực hiện chiến lược của
tổ chức” (Anthony A.Atkinson et al., 2012). Sự thay đổi về mặt khái niệm KTQT của IMA phản ánh
xu hướng thay đổi vai trò của KTQT ngày càng thể hiện vai trò là một nhân tố của chiến lược kinh
doanh nhằm giúp DN quản trị hiệu suất DN, lập kế hoạch và dự toán, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ,
lập báo cáo tài chính ở những thời điểm có sự thay đổi lớn, và thể hiện vai trò chuyên gia trong các
phương pháp quản trị chi phí (IMA, 2008).
Còn theo CIMA (CIMA, 1986, 10) thì đưa ra khái niệm về KTQT như là việc cung cấp thông tin cho
các nhà quản trị nhằm các mục đích: tạo lập các chính sách, hoạch định và kiểm soát các hoạt động
của DN, ra quyết định dựa trên các lựa chọn khác nhau, việc chuẩn bị các báo cáo tài chính cho các
nhóm đối tượng bên ngoài như cổ đông, chủ nợ, các cơ quan thuế… Sau này trong quá trình hiệu
chỉnh lại các thuật ngữ KTQT (CIMA, 2005, 18) thì vai trò của KTQT đã có nhiều bước tiến và thể
hiện một vai trò rộng hơn. Nó được khái niệm lại như là việc áp dụng các nguyên lý kế toán và quản
trị tài chính nhằm tạo ra, bảo vệ, duy trì lâu dài và gia tăng giá trị của cổ động và các bên có liên quan
trong các DN hoạt động vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, trong khu vực tư nhân hay khu vực công. Theo


9

Hầu hết các lý thuyết của KTQT đều đề cập đến các chức năng như hoạch định, kiểm soát, đánh giá
hiệu quả quản lý, cải thiện và phát triển các chiến lược cạnh tranh, ra quyết định như là những chức
năng chính của KTQT để đạt được mục tiêu của công ty (Scapens, 1991; Weetman, 1999; Upchurch,
1998; Atkinson &ctg., 2001). Theo Ersnt & Young và IMA thì “… Các kế toán quản trị viên ngày
càng được xem như là những nhà đối tác kinh doanh chứ không còn đơn thuần là những người giữ sổ
sách như trước kia nữa, và họ ngày càng tập trung nhiều hơn vào các vấn đề chiến lược chính, vượt
ra khỏi giới hạn của kế toán tài chính …” (Ersnt & Young và IMA, 2003, 1). Điều này thể hiện ở việc


10
vai trò của các nhân viên kế toán quản trị ngày càng thoát ly ra khỏi chức năng truyền thống từ người
“giữ sổ sách” hay “người kiểm soát” chuyển dần sang vai trò hỗ trợ kinh doanh hay nhà tư vấn kinh
doanh nội bộ.
Trong nghiên cứu của mình gần đây, Valančienė và Gimžauskienė (2007) đã kết luận rằng KTQT
hiện đại mở rộng vai trò từ tích hợp số liệu sang vai trò cung cấp thông tin cho việc triển khai chiến
lược. Và trọng tâm trước đây của KTQT là hướng đến cổ đông thì giờ hướng đến tổ hợp giải pháp
hướng đến cả khách hàng – nhân viên – cổ đông. Nhóm giải pháp này hướng đến việc giám sát
thường xuyên, đo lường và quản trị lợi thế chiến lược và kết quả trong tương lai (bằng cách phân bổ
chiến lược thành những mục tiêu phù hợp, những thước đo cụ thể bằng bản đồ chiến lược).
2.1.3. Nội dung KTQT
Hệ thống KTQT là một hệ thống thông tin nơi tạo ra các thông tin để đáp ứng yêu cầu của các nhà
quản trị nhằm mục đích tạo ra giá trị và quản lý các nguồn lực. Nó góp phần tạo nên một hệ thống
thông tin rộng khắp toàn DN, bao gồm các thông tin thường xuyên cũng như các thông tin phục vụ
cho các mục đích đặc biệt như đánh giá, đo lường, hoạch định, kiểm soát một hoặc nhiều loại sản
phẩm, dịch vụ nào đó. Chính vì vậy, hệ thống thông tin KTQT không thể có khả năng đáp ứng được
toàn bộ các yêu cầu về thông tin của các nhà quản trị để ra quyết định, thay vào đó những thông tin
này có thể phải tìm kiếm từ những nguồn khác, thậm chí là bên ngoài DN (Langfield-Smith 2012, 69).
Theo cách tiếp cận của Hiệp hội kế toán công chứng Anh Quốc (ACCA F5 – 2014) thì nội dung của
KTQT trong DN có thể tóm tắt ở bốn mảng sau: chi phí và các công cụ kỹ thuật KTQT; các công cụ
kỹ thuật ra quyết định; dự toán và kiểm soát; đo lường hiệu quả hoạt động và kiểm soát.

Việt Nam thuộc thành phần lao động trẻ, có tri thức, được đào tạo bài bản tại các trường đại học, cao
đẳng chuyên nghiệp ngày càng nhiều. Điều này giúp cho các DNNVV thuận lợi trong việc trẻ hóa và
nâng cao trình độ năng lực đội quản trị của DN mình, mà còn có thể tận dụng được nguồn nhân công
giá rẻ.
Về mặt khó khăn, do ảnh hưởng tình hình kinh tế toàn cầu nói chung cũng như nền kinh tế Việt Nam
nói riêng, các DNNVV tại Việt Nam cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức. Các khó
khăn xuất phát không chỉ từ phía áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, mà còn xuất phát từ nội tại của chính
các DN. Xét về tổng thể, tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới
hồi phục chậm và không đồng đều giữa các nền kinh tế sau suy thoái toàn cầu. Ngoài ra, tình hình
giao thương với một số quốc gia trên thế giới như Nga, các nước trong khối liên minh EU … ít nhiều
bị tác động bởi tình hình chính trị bất ổn tại một số quốc gia, nhất là khu vực châu Âu dẫn đến kinh
doanh trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp cũng như xuất khẩu của khu vực đồng EURO bị ảnh
hưởng mạnh bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế giữa các nước trong khu vực.
2.3. Các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong DN
Từ các kết quả nghiên cứu về việc vận dụng KTQT trên thế giới, có thể rút ra và tổng hợp một số mô
hình các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT như sau:
Thứ nhất, quy mô DN là một nhân tố quan trọng được cho là có sự tác động đến cả cấu trúc lẫn các sự
sắp xếp về mặt kiểm soát trong DN.
Thứ hai, nhân tố mức độ cạnh tranh của thị trường cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến mặc
dù kết quả trái ngược nhau.
Thứ ba, nhân tố thiết kế tổ chức phân quyền được kiểm định chỉ ra tác động đến việc vận dụng KTQT
theo hướng là trong DN có tổ chức phân quyền thì lựa chọn các công cụ kỹ thuật KTQT phức tạp hơn
so với DN có tổ chức tập quyền.
Thứ tư, nhân tố nguồn lực khách hàng được kiểm định chỉ ra tác động đến việc vận dụng KTQT theo
hướng là khi DN phải đối mặt với nguồn lực khách hàng càng mạnh thì càng phải lựa chọn vận dụng


12
KTQT ở mức độ phức tạp hơn nhằm cải thiện quá trình ra quyết định và kiểm soát, để có thể đáp ứng
được việc duy trì sự thỏa mãn yêu cầu của khách hàng (Abdel-Kader và Luther, R., 2008).

việc đánh giá, và thay vì sử dụng hệ thống thông tin quản trị thì công cụ Microsof Excel được sử
dụng. Hơn một nửa số DNNVV được khảo sát đều xác nhận không hề sự dụng các công cụ quản trị
chiến lược, các chỉ số phi tài chính … mà thay vào đó lại đánh giá rất cao vai trò của các công cụ hoạt
động đơn giản như dự toán, phân tích điểm hòa vốn, các chỉ số thể hiện hiệu quả …


13
Thông thường DNNVV hay gặp khó khăn do thiếu thốn về mặt nguồn lực, nên việc tuyển dụng một
KTQT viên chuyên nghiệp, làm việc toàn thời gian về mảng KTQT là điều ít xảy ra. Thay vào đó
nhân sự này hay kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhau hoặc có thể thiếu các kỹ năng của một KTQT
viên chuyên nghiệp. Và sau này theo như nghiên cứu của CIMA (Michael Lucas & ctg., 2013) về thực
trạng vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Anh đã chỉ ra rằng trong các DNNVV thì người
chủ/người điều hành DN thường đảm trách luôn công tác KTQT. trong khi đó với nguồn lực tài chính
hùng mạnh của mình, các DN lớn thường tổ chức KTQT thành các bộ phận chức năng riêng biệt với
bộ máy nhân sự riêng biệt chuyên trách do đó hiệu quả của việc vận dụng KTQT mang lại thường cao
hơn.
Việc thiếu thốn về mặt nguồn lực không chỉ ảnh hưởng đến nhân sự làm công tác KTQT, mà còn ảnh
hưởng đến hệ thống dữ liệu. Nó gây ra sự thiếu hụt các quy trình xử lý phức tạp trong KTQT hay sự
thiếu hụt hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP) trong việc cung cấp dữ liệu cho hoạt
động kế toán. Từ đó dẫn đến các thông tin cung cấp cho nhà quản trị sẽ kém giá trị trong việc hỗ trợ ra
quyết định về hoạch định và kiểm soát. Ngoài ra, sự thiếu hụt về các lời tư vấn chuyên nghiệp sẽ
khiến cho các quyết định về tài chính dựa chủ yếu trên các ý kiến cá nhân (Michael Lucas & ctg.,
2013).
Một vấn đề khác cũng do việc thiếu hụt nguồn lực gây ra là các DNNVV thường thiếu định hướng về
mặt chiến lược cũng như theo dõi quá trình triển khai chiến lược. Điều này xảy ra do hạn chế về mặt
quy mô, năng lực nên các DNNVV thường hướng sự tập trung của DN mình vào các hoạt động kinh
doanh hàng ngày mà bỏ qua các định hướng lâu dài. Hệ quả tất yếu là các quyết định đầu tư của
DNNVV thường được đưa ra dựa trên kinh nghiệm của nhà quản lý, và các dự toán dài hạn về vốn
đầu tư thường hay bị bỏ qua, tuy nhiên điều này rất nguy hiểm đến sự tồn tại lâu dài của các DNNVV
(Daniela Wiedemann, 2014).

KTQT của các DNNVV tại Việt Nam thời gian qua”, luận án tiến hành tổng hợp các nghiên
cứu trước đây trên thế giới và ở Việt Nam có liên quan, sau đó tiến hành tập hợp các nhân tố
tác động thông qua các kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm ... Từ đó tiếp tục hiệu
chỉnh các nhân tố tác động để đảm bảo phù hợp với các đặc điểm của DNNVV Việt Nam.
(2) Để trả lời câu hỏi “những nhân tố nào tác động đến việc vận dụng KTQT của các DNNVV
Việt Nam, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và mối tương quan giữa chúng với
nhau?”, dựa trên kết quả thu thập được ở bước nghiên cứu tổng quát, luận án tiến hành kiểm
tra lại mô hình đo lường, độ tin cậy của các biến trong mô hình thông qua các mô hình hồi
quy tuyến tính và kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA). Sau đó, dựa vào kết quả
nghiên cứu thu được ở trên thông qua khảo sát đánh giá của DNNVV tại Việt Nam, luận án
sẽ đề ra các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của việc vận dụng KTQT tại các DNNVV
tại Việt Nam.
3.1.2. Khung nghiên cứu
Khung nghiên cứu của luận án được xác định như sau:
+Xác định nội dung nghiên cứu: nội dung nghiên cứu của luận án là xác định các nhân tố tác động
đến vận dụng KTQT tại các DNNVV tại Việt Nam. Từ đó tiếp tục kiểm định, đo lường mức độ tác
động của từng nhân tố.
+ Lý thuyết nghiên cứu: dựa trên các lý thuyết nền tảng có liên quan đến việc vận dụng KTQT là lý
thuyết bất định, lý thuyết đại diện, lý thuyết xã hội học và lý thuyết quan hệ lợi ích – chi phí; tác giả
đồng thời tham khảo thêm các nghiên cứu trước của các tác giả trên thế giới có liên quan đến việc vận
dụng KTQT trong DNNVV.


15
+ Xây dựng mô hình nghiên cứu: từ việc xác định nội dung nghiên cứu và tổng hợp lý thuyết cũng
như các nghiên cứu trước kia, tác giả đồng thời tiến hành xin ý kiến chuyên gia. Sau đó tổng hợp và
hiệu chỉnh các nhân tố sao cho phù hợp với đặc điểm của DNNVV Việt Nam và tiến hành đề xuất mô
hình nghiên cứu của luận án. Mô hình nghiên cứu đề xuất này sẽ được đem ra bàn luận để hoàn thiện
về mặt nội dung trước khi kiểm định.
+ Ứng dụng phương pháp nghiên cứu định tính: các kỹ thuật của phương pháp sẽ được áp dụng như

Phân tích nhân tố khám
phá EFA

Kiểm tra phương sai trích
Kiểm tra các nhân tố rút trích
Loại các biến có mức tải nhân
tố nhỏ

Phân tích mô hình hồi
quy đa biến
3.2. XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VẬN DỤNG
KTQT TRONG DNNVV
Dựa vào các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu trước đây trên thế giới về các nhân tố tác động việc
vận dụng KTQT trong DN nói chung và DNNVV nói riêng, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu ban
đầu bao gồm 10 nhân tố tác động việc vận dụng KTQT trong DNNVV Việt Nam như sau: nhân tố
thiết kế tổ chức phân quyền, nhân tố nguồn lực khách hàng, nhân tố tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư NN trong
DN, nhân tố ngành nghề kinh doanh, nhân tố nhận thức về sự bất ổn của môi trường, nhân tố trình độ


16
nhân viên kế toán DN, nhân tố quy mô DN, nhân tố văn hóa DN, nhân tố chiến lược DN, nhân tố mức
độ cạnh tranh của thị trường.
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
3.3.1. Thiết kế nghiên cứu định tính
Để thực hiện nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành Phỏng vấn sâu để tìm hiểu các chủ đề cụ thể
xoay xung quanh việc xác định các nhân tố tác động đến khả năng vận dụng KTQT trong các
DNNVV tại Việt Nam, nhằm thu thập đến mức tối đa thông tin về chủ đề đang nghiên cứu. Từ đó tác
giả có thể hiểu biết sâu về một số vấn đề và tình huống cụ thể, thông qua đó có thể đem lại một cách
nhìn sâu sắc về hiện tượng đang quan tâm. Để thực hiện điều này, tác giả tiến hành thảo luận và trao
đổi trực tiếp với các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực KTQT. Thành phần tham dự các cuộc

dụng KTQT thành công cao hơn.
Giả thiết H8 - Các DN có người chủ/người điều hành DN có hiểu biết về KTQT, đánh giá cao tính
hữu ích của các công cụ kỹ thuật KTQT thì khả năng vận dụng KTQT thành công cao hơn.
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
Từ kết quả thảo luận chuyên gia, tác giả tiến hành Xây dựng thang đo, bảng câu hỏi khảo sát và tiến
hành khảo sát. Sau khi thu thập, tác giả tiến hành làm sạch dữ liệu và sau đó phân tích dữ liệu theo các
mục tiêu và các giả thuyết nghiên cứu đưa ra. Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 phục vụ cho việc
phân tích, thống kê, xử lý dữ liệu và chạy hồi quy tuyến tính bội. Dựa trên số lượng biến độc lập đưa
vào phân tích là 29 biến, kích thước mẫu nghiên cứu chính thức n ≥ 50 + 8 x 29 = 282 là phù hợp
trong việc chạy phân tích EFA và hồi quy bội. Đối tượng khảo sát là các Giám đốc tài chính, Giám
đốc điều hành hoặc các trưởng phòng ban, Kế toán trưởng, kế toán viên, chuyên viên KTQT và những
người có khả năng tham gia trực tiếp trong công tác KTQT của doanh nghiệp.
Trên cơ sở các giả thuyết và các biến được trình bày ở phần trên, luận án đề xuất phương trình hồi quy
dự kiến phản ánh mối tương quan giữa “Khả năng vận dụng KTQT và các nhân tố tác động khả năng
vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam” theo phương trình hồi quy như sau:
POSSi= α + β1SIZEi + β2COSTi + β3CULTi+ β4QUALi + β5STRAi + β6STATi

+

β7COMPi + β8PERCi +ε
Trong đó:
- POSS: Khả năng vận dụng KTQT của công ty mẫu thứ i
- α: Hằng số (constant term)
- βi: Hệ số các biến giải thích
- εi: Phần dư (Residual)
Các biến SIZEi, COSTi, CULTi, QUALi, STRAi, STATi, COMPi và PERCi lần lượt là các biến Quy
mô doanh nghiệp (SIZE), Chi phí cho việc tổ chức KTQT (COST), văn hoá DN (CULTURE), Trình
độ nhân viên kế toán trong DN (QUALIFICATION), Chiến lược doanh nghiệp (STRATEGY), Mức
độ sở hữu của nhà nước (STATE OWN), Mức độ cạnh tranh của thị trường (COMPETITION) và
Nhận thức của người chủ/điều hành doanh nghiệp (PERCEPTION) của doanh nghiệp thứ i.

Bảng vị trí quan trọng của các yếu tố
Biến độc lập

Giá trị tuyệt đối

%

F8

0.940

19.16

F1

0.916

18.67

F5

0.892

18.19

F2

0.843

17.19

(COST) và chiến lược doanh nghiệp (STRATEGY) lần lượt đóng góp 19.16%, 18.67%, 18.19%,
17.19%, 11.46%, 11.17% và 4.16% vào việc tác động làm gia tăng tính khả thi khi vận dụng KTQT
vào các DNNVV tại Việt Nam.
Tuy vậy, mô hình với 07 nhân tố đại diện nhưng chỉ phản ánh được 34.8% vấn đề nghiên cứu có
nghĩa là sẽ còn có những nhân tố khác, biến quan sát khác có thể cũng ảnh hưởng đến việc vận dụng
KTQT nhưng chưa được nghiên cứu này bao quát hết trong mô hình nghiên cứu hiện tại do giới hạn
về phạm vi, thời gian và loại hình doanh nghiệp được khảo sát đã nêu ra ở phần mở đầu. Qua kết quả
hồi qui chứng tỏ vai trò của các yếu tố trong việc tác động đến việc vận dụng KTQT được phân định
thứ bậc rõ rệt. Vì thế, giải pháp nhằm tăng cường tính khả thi khi vận dụng KTQT phải dựa vào kết
quả kiểm định các nhân tố ảnh hưởng nhưng cần được điều chỉnh qua thời gian khi giá trị vị thế của
các nhân tố trên có sự thay đổi theo thời gian, không gian và điều kiện kinh tế, chính trị.
4.2. BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
4.2.1. Đối với nhóm các nhân tố mức độ sở hữu của nhà nước trong DN:
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhân tố Mức độ sở hữu của nhà nước trong DN tương thích với mức
độ khả thi của việc vận dụng KTQT theo hướng là khi mức độ sở hữu của nhà nước trong DN không
quá 49% và đại diện phần vốn của nhà nước trong DN không nắm giữ các vị trí quản trị chủ chốt như
giám đốc/kế toán trưởng/chủ tịch HĐQT … sẽ làm gia tăng mức độ khả thi của việc vận dụng KTQT
trong DN.
4.2.2. Đối với nhóm các nhân tố mức độ cạnh tranh của thị trường:
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Mức độ cạnh tranh về thị trường của các DNNVV tương thích với
mức độ khả thi của việc vận dụng KTQT theo hướng là mức độ của các hành động cạnh tranh của các
đối thủ, mức độ cạnh tranh về thị phần/doanh thu, mức độ cạnh tranh về giá cả càng cao, số lượng các
đối thủ cạnh tranh trong cùng phân khúc thị trường càng nhiều sẽ làm gia tăng mức độ khả thi của
việc vận dụng KTQT.
4.2.3. Đối với nhóm các nhân tố văn hóa DN:
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong DN có sự hỗ trợ từ các nhà quản trị đối với nhân viên hay có sự
đồng thuận về mục tiêu phát triển chung, có sự hỗ trợ lẫn nhau từ các nhân viên trong các phòng ban
sẽ làm gia tăng mức độ khả thi của việc vận dụng KTQT; đó chính là các đặc điểm của nền văn hóa
DN hỗ trợ hoặc văn hóa DN hướng về mục tiêu.
4.2.4. Đối với nhóm các nhân tố nhận thức của người chủ/điều hành doanh nghiệp:

Theo kết quả khảo sát việc vận dụng KTQT tại các DN siêu nhỏ thường hay thất bại hoặc khó triển
khai bởi sự tác động theo hướng bất lợi của một số nhân tố như:
+ Quy mô DN quá nhỏ (số lượng lao động dưới 10 người) nên khó thành công khi vận dụng KTQT;
+ Nhận thức của người chủ/điều hành doanh nghiệp: thường không đánh giá cao tính hữu ích của các
công cụ kỹ thuật KTQT (thông thường mô hình DN này chủ yếu đến từ các hộ gia đình kinh doanh
nhỏ lẻ, và người chủ DN thường tự mình quyết định tất cả);
+ Chiến lược kinh doanh: hầu như thông thường không có chiến lược kinh doanh rõ ràng hoặc thậm
chí không quan tâm đến xây dựng chiến lược kinh doanh (chỉ chú trọng đến hoạt động kinh doanh
diễn ra hàng ngày).
Tuy nhiên thay vào việc triển khai mô hình KTQT một cách chính thức và bài bản, tác giả khuyến
nghị người chủ/ điều hành DN nên tự trang bị thêm các kiến thức ban đầu về KTQT để có thể thực
hiện tốt hơn vai trò quản trị trong quá trình điều hành DN. Bên cạnh kinh nghiệm kinh doanh truyền
thống của bản thân, người chủ DN cũng có thể tự trang bị thêm những công cụ kỹ thuật đơn giản để


21
có thể có những kế hoạch dự phòng cũng như phương án phản ứng nhanh nhằm giảm bớt những bất
trắc trong kinh doanh cũng như giảm bớt các chi phí cơ hội có thể phát sinh do các quyết định không
kịp thời hoặc không phù hợp (Michael & Malcolm, 2013). Ngoài ra DN siêu nhỏ nên tận dụng ưu
điểm là số lượng lao động ít để từ đó người chủ/ điều hành DN bắt đầu lưu ý xây dựng bước đầu
VHDN hỗ trợ, hướng theo mục tiêu chung để làm tiền đề thuận lợi khi vận dụng KTQT vào DN mình
vào thời điểm thích hợp – là lúc DN lớn mạnh và chuyển sang quy mô nhỏ hoặc vừa.
4.3.2. Giải pháp đối với các DN nhỏ hoặc vừa:
Với số lượng lao động dao động từ 10 đến 300 người, DN có thể linh hoạt bắt đầu vận dụng bước đầu
các công cụ kỹ thuật KTQT truyền thống cho đến các công cụ kỹ thuật phức tạp như các công cụ kỹ
thuật KTQT chiến lược tuỳ theo nội lực của DN. Để gia tăng tính khả thi của việc vận dụng KTQT
các DN cần phải lưu ý một số giải pháp liên quan đến tác động từ các nhóm nhân tố đã được chứng
minh qua khảo sát như sau:
+ Mức độ cạnh tranh trên thị trường
Qua khảo sát cho thấy mặc dù Mức độ cạnh tranh trên thị trường là một nhân tố khách quan bên ngoài

nhỏ khi vận dụng KTQT vào các DNNVV Việt Nam, nên cần phải tập trung ưu tiên để cải thiện trình
độ quản lý của chủ DNNVV nói chung và thay đổi nhận thức về tính hữu ích của các công cụ kỹ thuật
KTQT nói riêng. Một khi người chủ DNNVV hiểu được, đánh giá được lợi ích do việc vận dụng
KTQT mang lại cho DN mình thì họ mới mạnh dạn đầu tư để vận dụng KTQT cũng như khuyến
khích, động viên hoặc chỉ đạo nhân viên mình trong quá trình triển khai vận dụng KTQT.
+ Thay đổi quy mô DN
Rất nhiều các nghiên cứu về vận dụng KTQT trong DN trên thế giới đã chỉ ra rằng nhân tố này tác
động theo hướng là quy mô DN càng lớn càng dễ thành công khi vận dụng KTQT. Và qua khảo sát
được tiến hành trong luận án này một lần nữa khẳng định điều đó: DNNVV Việt Nam nếu có quy mô
lớn thì khả năng thành công cao hơn khi vận dụng KTQT.
Tuy nhiên vấn đề ở đây là DNNVV Việt Nam không thể tự nhiên lớn một cách duy ý chí, mà sự lớn
mạnh về quy mô ở đây có thể là sự lớn mạnh thông qua hợp nhất các DN có cùng ngành nghề hoặc
ngành nghề mang tính bổ trợ cho nhau. Chính sự liên kết sẽ làm cho DNNVV có tầm vóc mới, đáp
ứng đủ yêu cầu về tài chính, nguồn lực khi làm ăn với các đối tác nước ngoài, hay là thuận lợi trong
công tác tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng (hiện nay rất nhiều DNNVV Việt Nam không thể tiếp cận
nguồn vốn vay vì quy mô quá nhỏ mặc dù có tiềm năng về đơn hàng tốt). Ngoài ra hiện nay còn có
một làn sóng mua bán sát nhập DN rất lớn do các tập đoàn nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam. Do
đó các DNNVV Việt Nam buộc phải lựa chọn cho mình một giải pháp phù hợp: bán lại cổ phần cho
các đối tác nước ngoài để có thêm nguồn vốn cũng như học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm quản lý
khi cùng hợp tác quản lý; hoặc tự tìm kiếm đối tác trong nước để có thể cùng sát nhập với đối tác có
cùng văn hóa tương đồng, và tránh được điều nguy hiểm hơn là bị thôn tính bởi chính ngay đối tác
của mình – bài học quản lý từ rất nhiều vụ hợp tác theo kiểu bán mình của các DN Việt Nam trước
đây.
Ngoài ra đối với các DN khi đạt đến quy mô DN vừa thì hầu hết đa phần đều có đặc điểm chung là
hoặc là hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, hoặc là có nhiều bộ phận chi nhánh hoạt động độc lập,
thậm chí quan hệ quản lý có thể phân cấp qua nhiều tầng. Do đó khi vận dụng các công cụ kỹ thuật
KTQT cần phải lưu ý tổ chức tốt từ khâu thu thập thông tin đầu vào, quá trình xử lý thông tin và ra
báo cáo/thông tin quản trị cần thiết cho các cấp. Do đó ngay từ công tác chuẩn bị nhân sự cho đến
khâu tổ chức chứng từ cần phải có sự nhất quán cao độ.
+ Tổ chức KTQT trong DN với chi phí hợp lý

toàn) nhằm đáp ứng công tác KTQT bao gồm:
Thứ nhất, đảm bảo công tác công tác phân loại chi phí được thực hiện dễ dàng và tiện lợi. Ví dụ khi
nhập dữ liệu về chi phí khấu hao TSCĐ vào hệ thống, dữ liệu này cần được mã hóa để có thể thể hiện
dưới dạng là định phí của bộ phận kinh doanh của chi nhánh A … Từ đó công tác tập hợp dữ liệu để
phân tích về mặt hiệu quả hoạt động hay tính toán giá bán sản phẩm trong từng trường hợp đều có thể
tiến hành dễ dàng.
Thứ hai, bên cạnh việc bảo mật thông tin thì việc đảm bảo việc phân quyền truy cập thông tin được
thực hiện dễ dàng và tiện lợi. Ví dụ khi cần truy cập nhập dữ liệu về hàng tồn kho, không chỉ bộ phận
kế toán và mua hàng mà ngay cả bộ phận kinh doanh, marketing cũng có thể truy cập dữ liệu này.
Điều này đảm bảo tính thông suốt của thông tin, giúp cho công tác trao đổi thông tin hiệu quả hơn,
đồng thời làm cho công tác giám sát tính hiệu quả của công việc trong DN tăng lên.
+ Xây dựng chiến lược kinh doanh linh hoạt:


24
Trong kết quả khảo sát của luận án chỉ ra rằng đây là một nhân tố có tác động ít nhất đến việc vận
dụng KTQT trong DNNVV Việt Nam. Điều này cũng thể hiện rõ trong khảo sát vì phần đông các DM
siêu nhỏ, nhỏ hầu như không quan tâm đến chiến lược
kinh doanh dài hạn mà chỉ tập trung vào hoạt động kinh doanh ngắn hạn. Tuy nhiên trong bối cảnh
cạnh tranh ngày càng gay gắt do xu hướng hội nhập toàn cầu thì để tồn tại, các DNNVV Việt Nam
cần phải thay đổi về tư duy kinh doanh, chú trọng xây dựng cho DN mình một chiến lược kinh doanh
dài hơi và phù hợp.
Để hoạt động kinh doanh được diễn ra thuận lợi và đúng hướng, mỗi một DN cần phải định hướng rõ
ràng chiến lược kinh doanh của mình dựa trên ưu – nhược điểm nội tại của DN. Một trong những ưu
điểm nổi bật của loại hình DNNVV là tính linh hoạt cao, dễ dàng thay đổi hoạt động kinh doanh, đặc
biệt là để đáp ứng những yêu cầu của thị trường ngách. Do đó nếu DN lựa chọn chiến lược sản xuất
hàng hóa, dịch vụ chuyên biệt theo yêu cầu của khách hàng, chú trọng thêm vào việc nâng cao chất
lượng dịch vụ hậu mãi, đáp ứng linh hoạt nhu cầu khách hàng về số lượng sản phẩm … thì sẽ đạt
được lợi thế cạnh tranh so với các DN lớn cồng kềnh và nặng nề về mặt quy mô. Hơn nữa, chiến lược
kinh doanh như trên sẽ tạo ra áp lực về nhu cầu quản trị, đồng thời cũng tạo ra tiền đề để việc vận

quả hoạt động tại các DN này. Và dần dần tiến đến giai đoạn hội nhập sâu với thế giới thì tại các
DNNN giai đoạn hậu cổ phần hóa Chính phủ cần sớm ban hành và có động thái giảm tỷ lệ sở hữu nhà
nước xuống dưới mức chi phối, cũng như giảm bớt các mệnh lệnh hành chính chỉ đạo trong điều hành
quản lý doanh nghiệp. Đó sẽ là tiền đề làm cho DNNVV Việt Nam có cơ hội để phát triển bức phá
sau cổ phần hóa do tiếp thu được các kiến thức, kỹ thuật quản trị tiên tiến trên thế giới.
5.2.2. Các kiến nghị đối với cơ quan, trung tâm xúc tiến hỗ trợ DNNVV
Các trung tâm xúc tiến hỗ trợ DNNVV (như VCCI Việt Nam) có thể mở các lớp có hỗ trợ học phí
một phần hoặc toàn phần nhằm đào tạo nâng cao về kiến thức KTQT cho những người chủ/điều hành
doanh nghiệp tại các DNNVV Việt Nam. Bên cạnh đó, thông qua việc kết nối và mời các chuyên gia
nước ngoài hoặc là các kiều bào thành đạt trong kinh doanh có kinh nghiệm trong lĩnh vực về KTQT
về truyền đạt kinh nghiệm, kiến thức thực tế về bài học vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp quốc
tế. Từ đó có thể giúp các nhà quản trị trong các DNNVV tại Việt Nam rút ra những bài học kinh
nghiệm thực tiễn để có thể vận dụng các công cụ kỹ thuật KTQT như các công cụ quản lý hữu hiệu
trong kinh doanh.
5.2.3. Các kiến nghị đối với bản thân DNNVV hoạt động tại Việt Nam
Đối với các nhà quản trị trong DNNVV, việc thay đổi tư duy quản trị là điều cực kỳ quan trọng và cần
thiết. Tự trang bị và cập nhật kiến thức quản trị cho bản thân, trong đó có KTQT là việc mà không chỉ
các nhà quản trị ở các DN lớn nên làm mà ngay cả bản thân các nhà quản trị ở các DNNVV cũng nên
ý thức về điều đó. Bên cạnh đó, các nhà quản trị DNNVV nên thay đổi tư duy quản lý, sớm kết hợp
với các trường đại học để trao đổi về nhu cầu đặt hàng nhân sự về lực lượng lao động nói chung và
lực lượng sinh viên kế toán nói riêng. Và cuối cùng, việc xây dựng cho doanh nghiệp mình một nền
văn hóa doanh nghiệp mạnh là điều mà các nhà quản trị trong DNNVV Việt Nam cần cân nhắc và
sớm lựa chọn mô hình văn hóa phù hợp và tiến hành triển khai.
5.2.4. Các kiến nghị chung về đề xuất một số công cụ kỹ thuật KTQT
Việc triển khai vận dụng các công cụ kỹ thuật KTQT luôn là một biện pháp hữu hiệu để gia tăng tính
hiệu quả kinh doanh của bất kỳ DN nào. Tuy nhiên việc xem xét kỹ mức độ tương thích của DN mình
về mặt quy mô, chiến lược kinh doanh, trình độ nhân viên, văn hoá DN … với các công cụ kỹ thuật
KTQT (đã được trình bày rất nhiều và chi tiết ở các nghiên cứu trước) để từ đó lựa chọn ra giải pháp
tối ưu sẽ giúp DN cải thiện được hiệu quả kinh doanh, vượt qua được tâm lý e ngại tốn kém chi phí
khi vận dụng KTQT tại DN mình. Ngoài ra, khi lựa chọn công cụ kỹ thuật KTQT phù hợp cho bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status