BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HOÀI LY
MÃ SINH VIÊN: 1201362
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN
LỌC MÁU NGẮT QUÃNG
TẠI KHOA THẬN NHÂN TẠO
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HOÀI LY
MÃ SINH VIÊN: 1201362
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN
LỌC MÁU NGẮT QUÃNG
TẠI KHOA THẬN NHÂN TẠO
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. ThS. Hoàng Hà Phương
2. ThS. Đàm Thị Thu Hằng
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoài Ly
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .....................................................................................3
1.1. Tổng quan về lọc máu ngắt quãng ....................................................................3
1.1.1. Nguyên lý lọc ................................................................................................3
1.1.2. Quá trình lọc máu ngắt quãng .......................................................................4
1.1.3. Chỉ định và chống chỉ định ...........................................................................6
1.2. Ảnh hưởng của lọc máu ngắt quãng đến dược động học của thuốc ..............6
1.3. Nguyên tắc hiệu chỉnh liều thuốc trên bệnh nhân lọc máu ngắt quãng ........8
1.4. Sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân lọc máu ngắt quãng ............................10
1.4.1. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân lọc máu ngắt quãng .........10
1.4.2. Tổng quan về việc sử dụng các nhóm kháng sinh trên bệnh nhân lọc máu
ngắt quãng .............................................................................................................12
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................19
2.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................19
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn ....................................................................................19
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ ......................................................................................19
2.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................19
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu .....................................................................................19
2.2.2. Quy trình nghiên cứu ..................................................................................19
2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu ..........................................................................................20
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADR
Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction)
AUC
Diện tích dưới đường cong (Area Under the Curve)
Cl
Độ thanh thải (Clearance)
DF
Dịch thẩm tách (Dialysis fluid)
ER
Tỷ lệ chiết tách (Extraction ratio)
FAV
Cầu nối động mạch - tĩnh mạch (Ateriovenous fistula)
IHD
Đường dùng tĩnh mạch
TMC
Tiêm tĩnh mạch chậm
TrTM
Truyền tĩnh mạch
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự thải trừ thuốc ..........................................7
Bảng 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kháng sinh và liều dùng trên
bệnh nhân lọc máu ....................................................................................................11
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân ..................................................22
Bảng 3.2. Đặc điểm về khoa điều trị .........................................................................23
Bảng 3.3. Lý do sử dụng kháng sinh .........................................................................24
Bảng 3.4. Đặc điểm bệnh mắc kèm...........................................................................25
Bảng 3.5. Đặc điểm về số lượng kháng sinh sử dụng trên một bệnh nhân ...............26
Bảng 3.6. Số lượng từng loại kháng sinh và đường dùng tương ứng .......................27
Bảng 3.7. Chế độ liều phổ biến nhất của từng kháng sinh ........................................29
Bảng 3.8. Số lượng và tỷ lệ phù hợp về liều dùng của từng kháng sinh...................32
Bảng 3.9. Số lượng và tỷ lệ phù hợp về liều dùng của kháng sinh phân bố theo khoa
điều trị .......................................................................................................................34
Bảng 3.10. Đặc điểm hiệu chỉnh liều kháng sinh......................................................35
Bảng 3.11. Đặc điểm kê đơn kháng sinh trong ngày lọc máu ..................................37
Bảng 3.12. Phân bố các lượt dùng sau lọc máu theo từng kháng sinh ......................38
Bảng 3.13. Phân bố các lượt dùng sau lọc máu theo khoa điều trị ...........................39
nghiên cứu “Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân lọc máu ngắt
quãng tại khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai” nhằm các mục tiêu sau:
1
1. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân, các bệnh lý nhiễm khuẩn và các nhóm kháng
sinh thường dùng trên bệnh nhân lọc máu ngắt quãng tại khu vực lọc máu
cấp cứu của khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Bạch Mai.
2. Khảo sát chế độ liều và việc chỉnh liều kháng sinh trên bệnh nhân lọc máu
ngắt quãng tại khu vực lọc máu cấp cứu của khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện
Bạch Mai.
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về lọc máu ngắt quãng
Lọc máu, hay còn được gọi chung là các liệu pháp thay thế thận, đã được
phát triển trong một khoảng thời gian dài, bao gồm rất nhiều kỹ thuật lọc máu khác
nhau như thẩm phân máu ngắt quãng (intermittent hemodialysis), thẩm phân máu
tĩnh mạch - tĩnh mạch liên tục (continuous veno-venous hemodialysis), siêu lọc máu
tĩnh mạch - tĩnh mạch liên tục (continuous veno-venous hemofiltration), siêu lọc
liên tục chậm (slow continuous ultrafiltration)… Trong đó, liệu pháp thay thế thận
ra đời sớm nhất và cũng được sử dụng nhiều nhất là thẩm phân máu ngắt quãng. Để
thống nhất cách gọi giữa các tài liệu tham khảo và cách gọi trên lâm sàng, ở phạm
vi đề tài này, chúng tôi xin tạm gọi thẩm phân máu ngắt quãng là lọc máu ngắt
quãng [4], [29].
1.1.1. Nguyên lý lọc
Lọc máu ngắt quãng là biện pháp đào thải nước, các chất có khối lượng phân
chảy ngược chiều nhau ở hai phía của màng bán thấm để làm giảm hiện tượng cân
bằng nồng độ trên, làm tăng hiệu quả lọc, được gọi là dòng đối lưu [4], [20].
1.1.2. Quá trình lọc máu ngắt quãng
Lọc máu ngắt quãng là quá trình loại bỏ các chất độc hại ra khỏi máu qua
một vòng tuần hoàn ngoài cơ thể. Máu của bệnh nhân được bơm ra khỏi cơ thể ở
tốc độ 300-600 ml/phút, vận chuyển trong ống polyethylen vô khuẩn đến máy thẩm
phân qua một bơm cơ khí. Sau đó, máu được chống đông bằng heparin đi qua một
bộ lọc để làm sạch rồi bơm lại vào hệ thống mạch máu của bệnh nhân [11], [20].
Dịch thẩm tách, bao gồm nước tinh khiết và các chất điện giải, được bơm
qua máy thẩm phân, chảy ngược dòng với dòng chảy của máu ở phía đối diện của
màng bán thấm. Dịch thẩm tách được bơm 500-1000 ml/phút qua dòng thẩm tách
ngược với dòng máu. Dòng chảy ngược dòng này hiệu quả trong việc loại bỏ chất
thải hơn là cho máu và dịch thẩm tách chạy song song với nhau. Tỷ lệ loại bỏ chất
lỏng được kiểm soát bằng cách điều chỉnh áp suất trong khoang thẩm tách [4], [20].
4
Hình 1.1. Mô hình lọc máu ngắt quãng
Máu được rút ra khỏi cơ thể bệnh nhân (mũi tên từ bệnh nhân đến máy thẩm phân thận nhân tạo) và truyền qua thận nhân tạo có chứa một màng bán thấm. Bên trong thận
nhân tạo, chất thải chảy vào dịch thẩm tách và được loại bỏ khỏi cơ thể. Nếu các phân tử
thuốc (T) có thể đi xuyên qua các lỗ trong màng bán thấm, chúng cũng được loại bỏ. Tỷ lệ
chiết tách của thận nhân tạo (ER) được tính bằng nồng độ vào (Cin) và ra khỏi (Cout) thiết
bị. Độ thanh thải qua lọc máu (Cl) có thể được tính bằng cách lấy tỷ lệ chiết tách nhân với
lưu lượng máu tới (Q) [11].
Có ba cách lấy máu để lọc máu ngắt quãng: đó là cầu nối động mạch - tĩnh
mạch (ateriovenous fistula, FAV), ghép động mạch - tĩnh mạch (ateriovenous graft)
hoặc lấy qua catheter. Trong trường hợp cấp tính, bệnh nhân cần lọc máu tạm thời
thì đường lấy máu thực hiện bởi catheter 2 nòng chọc vào tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch
cho phép sử dụng heparin; các bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối và các bệnh
nhân không làm được cầu nối động - tĩnh mạch [4].
1.2. Ảnh hưởng của lọc máu ngắt quãng đến dược động học của thuốc
Mức độ thải trừ thuốc qua lọc máu ngắt quãng phần nhiều phụ thuộc vào các
đặc tính lý hóa của thuốc như: khối lượng phân tử, khả năng hòa tan trong nước, tỷ
lệ liên kết với protein huyết tương và thể tích phân bố của thuốc [13], [29], [55].
Ngoài ra, một số đặc điểm của máy thẩm phân như: chất liệu màng lọc, kích thước
lỗ lọc, lưu lượng máu hay dịch thẩm tách cũng tác động đến việc thải trừ thuốc [55].
6
Một số yếu tố ảnh hưởng của lọc máu ngắt quãng đến sự thải trừ của thuốc
được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự thải trừ thuốc
Yếu tố tác động
Đặc điểm
Thuốc có khối lượng phân tử nhỏ được thải trừ chủ
Khối lượng
phân tử
yếu bằng cơ chế khuếch tán, thuốc có khối lượng phân
tử lớn thải trừ bằng cơ chế dòng đối lưu nhiều hơn.
Thuốc có khối lượng phân tử nhỏ thải trừ qua lọc máu
ngắt quãng nhiều hơn thuốc có khối lượng phân tử lớn.
Yếu tố
thuộc
Lưu lượng dòng
máu và dòng
Lưu lượng dòng máu và dòng thẩm tách cao sẽ làm
tăng khả năng thải trừ thuốc qua lọc máu ngắt quãng.
thẩm tách
Khi khối lượng phân tử thuốc càng nhỏ (nhỏ hơn 500 Dalton) và độ tan trong
nước càng lớn, thuốc càng dễ đào thải. Khi tỷ lệ liên kết với protein huyết tương và
thể tích phân bố tăng, lượng thuốc thải trừ qua lọc máu ngắt quãng giảm. Thuốc có
thể tích phân bố lớn (trên 1,5-2 l/kg) có xu hướng có nồng độ thuốc trong mô lớn
hơn nên không dễ bị loại bỏ khỏi máu như các loại thuốc có thể tích phân bố thấp
hơn 0,7 l/kg [29], [55].
7
Có ba loại màng lọc máu lớn: màng lọc lưu lượng thấp (low flux), màng lọc
hiệu suất cao (high efficiency) và màng lọc lưu lượng cao (high flux). Màng lọc lưu
lượng thấp, chủ yếu làm bằng cuprophan hoặc cellulose acetat, có các lỗ nhỏ chỉ
thanh thải các phân tử dưới 500 Dalton như ure và creatinin. Màng lọc hiệu suất cao
có diện tích bề mặt lớn do đó có khả năng loại bỏ nước, ure và các phân tử nhỏ khác
tốt hơn. Màng lọc lưu lượng cao có kích thước lỗ lọc lớn hơn, cho phép hầu hết các
chất tan đi qua, có khả năng loại bỏ các chất có khối lượng phân tử cao như β2microglobulin, vancomycin và tất cả các thuốc có khối lượng phân tử nhỏ hơn
20000 Dalton. Hai loại màng lọc hiệu suất cao và lưu lượng cao thanh thải được cả
chất có khối lượng phân tử thấp và cao nên thời gian điều trị ngắn hơn [20], [45].
Tác động của lọc máu ngắt quãng không chỉ hạn chế ở độ thanh thải qua lọc
máu, có bằng chứng cho thấy một số loại thuốc bám vào màng lọc và sự thanh thải
không qua thận (chuyển hóa) của một số thuốc cũng bị thay đổi bởi lọc máu ngắt
làm tăng thời gian bán thải của thuốc và gây tích lũy thuốc khi sử dụng lặp lại liều
chưa được hiệu chỉnh. Những thay đổi này cũng tương tự đối với các chất chuyển
hóa có độc tính hoặc có hoạt tính của thuốc. Tăng thời gian bán thải của thuốc làm
kéo dài thời gian cần để đạt trạng thái cân bằng của thuốc [13], [50].
Do cần nhiều thời gian hơn để đạt trạng thái cân bằng, xem xét sử dụng một
liều nạp cho bệnh nhân nếu việc chỉnh liều có thể làm trì hoãn việc đạt đến nồng độ
có tác dụng điều trị của thuốc. Tuy nhiên, trong thực hành, liều nạp ít khi được sử
dụng, đặc biệt với các thuốc bị thải trừ dưới 30% hoặc với các thuốc có cửa sổ điều
trị rộng [13], [50].
Chỉ số điều trị của thuốc
Một thuốc có cửa sổ điều trị rộng sẽ khá an toàn khi kê đơn mà không cần
giảm liều, mặc dù nồng độ thuốc sẽ cao hơn, nhưng không gây ra độc tính. Tuy
nhiên, các thuốc với cửa sổ điều trị hẹp có thể sẽ phải giảm liều đáng kể [13], [50].
Ngoài ra, các yếu tố như độ thanh thải của thuốc qua máy thẩm phân, tỷ lệ
liên kết của thuốc với protein huyết tương hay sự thay đổi thể tích phân bố cũng có
thể ảnh hưởng đến chế độ liều của thuốc [50].
9
Lọc máu ngắt quãng có thể gây ra khó khăn do không liên tục và có khả năng
thanh thải thuốc qua máy thẩm phân tương đối nhanh chóng [50]. Việc không tính
đến khả năng thanh thải của thuốc qua lọc máu ngắt quãng có thể làm giảm hiệu quả
của thuốc một cách đáng kể. Rất nhiều các nghiên cứu trước những năm 1990 cho
rằng lọc máu ngắt quãng thông thường bằng màng lọc lưu lượng thấp sẽ thải trừ
thuốc ít hơn so với các màng lưu lượng cao hiện đang được sử dụng rộng rãi. Nhiều
báo cáo cho thấy ảnh hưởng của lọc máu đến độ thanh thải của thuốc và sự cần thiết
của một liều bổ sung. Trong thực hành, điều này cần đặc biệt chú ý khi kê đơn các
thuốc bị thải trừ nhiều qua lọc máu ngắt quãng hoặc các thuốc dùng 1 lần/ngày, đặc
biệt là với kháng sinh. Tốt nhất là nên kê đơn cho bệnh nhân sau lọc máu ngắt
tác động khác nhau đến sự thải trừ của từng kháng sinh.
Chức năng thận còn lại có thể thải trừ thêm một lượng thuốc
nhất định, nhiều hơn nếu chỉ ước tính thải trừ qua lọc máu
ngắt quãng.
Vị trí nhiễm khuẩn sâu cần liều dùng lớn hơn để tối ưu dược
Vị trí nhiễm khuẩn lực học của thuốc, để thuốc có thể thâm nhập được vào vị trí
nhiễm khuẩn.
Mức độ nặng của
nhiễm khuẩn
Liều khởi đầu theo kinh nghiệm nên được sử dụng trong
những trường hợp nhiễm khuẩn nặng cho tới khi có kết quả vi
sinh và kháng sinh đồ.
Bệnh nhân có thể trọng lớn cần một liều nạp và liều duy trì
Thể trọng
cao hơn để tối ưu hóa dược lực học của thuốc, đặc biệt là
kháng sinh tan nhiều trong lipid.
Chức năng hệ
miễn dịch
Liều tấn công theo kinh nghiệm nên được sử dụng cho những
bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
Khi xây dựng chế độ liều, cần cân nhắc các đặc điểm dược
Loại kháng sinh
với điều trị. Ngược lại, khi đáp ứng lâm sàng tốt, các dấu hiệu và triệu chứng được
cải thiện, chức năng miễn dịch phục hồi, có thể chuyển sang dùng phác đồ đường
uống, hoặc giảm liều để giảm sự tích lũy cũng như giảm các tác dụng không mong
muốn của thuốc. Với một số kháng sinh, cần giám sát điều trị bằng cách theo dõi
nồng độ thuốc trong máu để tối ưu hóa hiệu quả và hạn chế độc tính, đặc biệt với
các nhiễm khuẩn sâu, nhiễm khuẩn không đáp ứng với phác đồ hiện dùng hoặc đối
tượng có nguy cơ gặp độc tính cao. Với lọc máu ngắt quãng, liều thường được đưa
vào cuối buổi lọc với ưu điểm là dễ dàng đưa thuốc bằng đường tĩnh mạch và loại
bỏ sự chậm trễ không cần thiết trong điều trị [29].
1.4.2. Tổng quan về việc sử dụng các nhóm kháng sinh trên bệnh nhân lọc máu
ngắt quãng
1.4.2.1. Nhóm beta-lactam
Beta-lactam là một nhóm kháng sinh thân nước với khoảng điều trị rộng,
hiệu quả kháng khuẩn liên quan chặt chẽ đến thời gian nồng độ trên nồng độ ức chế
tối thiểu của vi khuẩn (T>MIC). Nồng độ beta-lactam trong huyết tương cần đạt
mức tối ưu là khoảng bốn lần nồng độ ức chế tối thiểu của vi khuẩn (MIC), với
T>MIC trong khoảng 40-50% khoảng cách đưa thuốc [1].
12
Các penicilin
Amoxicilin thải trừ khoảng 60% qua thận [17]. Với bệnh nhân lọc máu ngắt
quãng, liều amoxicilin được khuyến cáo là 1,0 g ngay sau lọc, lặp lại mỗi 12-36 giờ
tùy thuộc vào nồng độ ức chế tối thiểu của vi khuẩn [8]. Có rất ít thông tin về việc
sử dụng amoxicilin và acid clavulanic cho bệnh nhân lọc máu ngắt quãng [57]. Lọc
máu ngắt quãng ảnh hưởng không đáng kể đến sự thải trừ acid clavulanic [49].
Khoảng 46% lượng piperacilin bị thải trừ qua lọc máu ngắt quãng, liều
piperacilin được khuyến cáo là 1-2 g mỗi 6 giờ [27], [28]. Các khuyến cáo dùng
piperacilin/tazobactam chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi sự thải trừ thấp của tazobactam
trong quá trình lọc máu ngắt quãng, làm hạn chế liều tối đa có thể sử dụng [57].
(2,0 g) kết hợp với sulbactam (1,0 g) được khuyến cáo dùng 1 lần/ngày, sau đó 12
giờ đưa thêm một liều cefoperazon đơn độc [47].
Quá trình lọc máu ngắt quãng trong 4 giờ làm giảm diện tích dưới đường
cong (AUC) và thời gian bán thải của ceftazidim. 55% liều ceftazidim bị thải trừ
vào dịch thẩm tách, do đó, bệnh nhân lọc máu ngắt quãng cần được bổ sung thêm
một liều bằng ½ liều duy trì ngay lập tức sau lọc máu [43].
Ceftriaxon thải trừ khoảng 33-67% dưới dạng nguyên vẹn qua thận và có
thời gian bán thải tương đối dài, 12 giờ ở bệnh nhân lọc máu ngắt quãng [17], [23].
Với bệnh nhân lọc với màng curophan, nồng độ ceftriaxon ở cả hai phía của máy
thẩm phân, trước và sau lọc không có sự khác biệt đáng kể, việc hiệu chỉnh liều là
không cần thiết nếu tổng liều nhỏ hơn 2,0 g mỗi ngày [46]. Tuy nhiên, nghiên cứu
của Gabutti và cộng sự chỉ ra rằng, bệnh nhân lọc với màng polysulfon sẽ cần hiệu
chỉnh liều ceftriaxon, nếu có thể nên đưa thuốc sau lọc máu [23].
Cefepim là một cephalosporin thế hệ 4, có tỉ lệ thải trừ nguyên vẹn qua thận
là 80% [17]. Theo một vài nghiên cứu, liệu pháp điều trị ngắt quãng bằng liều 2,0 g
với cefepim sau lọc máu ngắt quãng đạt nồng độ trong huyết tương gấp 4 lần MIC
với phần lớn các loại vi khuẩn đích và nồng độ trong huyết tương luôn cao hơn MIC
giữa hai liều dùng liên tiếp, do vậy có thể cho hiệu quả diệt khuẩn cao nhất [41].
Các carbapenem
Kháng sinh carbapenem thuộc nhóm beta-lactam, tác dụng có liên quan mật
thiết với T>MIC. Lọc máu ngắt quãng có thể loại bỏ 50-70% liều carbapenem [54].
14
Meropenem là một kháng sinh phổ rộng được sử dụng cho bệnh nhân nhiễm
khuẩn nặng. Do đó, cần đảm bảo nồng độ thuốc tối ưu trong huyết tương để bảo vệ
phổ rộng của kháng sinh. Tỷ lệ thải trừ qua thận của meropenem là 70% [17]. Liều
hàng ngày được khuyến cáo là 500 mg trên bệnh nhân lọc máu ngắt quãng [54].
Imipenem bị thủy phân và bất hoạt bởi enzym dehydropeptidase-1, nên luôn
được dùng cùng cilastatin với lượng bằng nhau. Imipenem và cilastatin đều bị thải
phơi nhiễm cũng như độc tính của thuốc. Tuy nhiên, cho đến giờ có rất ít dữ liệu
ủng hộ khẳng định này, do đó khuyến cáo chính thức dựa trên tài liệu trước đây là
phải đưa aminoglycosid sau lọc máu ngắt quãng. Độc lập với các chế độ trên, giám
sát điều trị bằng nồng độ thuốc trong máu được khuyến khích sử dụng [44], [57].
Amikacin chỉ bị thải trừ một lượng nhỏ qua lọc máu ngắt quãng, vì vậy việc
thêm liều sau lọc là không cần thiết. Liều amikacin không được vượt quá 7,5
mg/kg/ngày ở bất kỳ bệnh nhân suy thận nào do độc tính trên thận cao [9], [57].
Gentamicin thải trừ 95% dưới dạng nguyên vẹn qua thận [17]. Chế độ liều
tối ưu của gentamicin là đưa thuốc trước lọc máu ngắt quãng với liều đầu tiên là 3,1
mg/kg, liều thứ hai và thứ ba là 2,75 mg/kg, việc giám sát điều trị bằng nồng độ
thuốc trong máu cũng được khuyến cáo [44].
Tobramycin bị thải trừ 95% qua thận dưới dạng nguyên vẹn và thải trừ trung
bình 51% trong vòng 6 giờ lọc máu ngắt quãng [17], [30].
1.4.2.3. Nhóm quinolon
Ofloxacin bị thải trừ qua lọc máu ngắt quãng, nồng độ giảm 25% trong 4 giờ
lọc máu. Ở bệnh nhân lọc máu ngắt quãng, việc giảm liều ofloxacin là cần thiết vì
thời gian bán thải của ofloxacin rất dài. Chế độ liều được khuyến cáo là 200 mg
khởi đầu, 100 mg liều nạp sau lần lọc đầu tiên, rồi 100 mg mỗi ngày [21].
Levofloxacin tích lũy ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận, tỷ lệ thải trừ
nguyên vẹn qua thận là 87% [17]. Trong một nghiên cứu của Tsaganos và cộng sự
(2008), sử dụng levofloxacin đường uống trên bệnh nhân lọc máu ngắt quãng chu
kỳ cho thấy: nếu dùng liều 500 mg/ngày trong 3 ngày liên tiếp thì đạt hiệu quả trên
vi khuẩn có MIC nhỏ hơn 1,57 mg/l. Chế độ liều này không làm ảnh hưởng đến thải
trừ thuốc mà còn đạt các thông số dược động học thích hợp trong điều trị [53].
16
Ciprofloxacin bị thải trừ một phần bởi lọc máu ngắt quãng, tỷ lệ chiết tách
qua lọc máu ngắt quãng là 23-30% và độ thanh thải qua lọc máu ngắt quãng tương
đương khoảng 13% độ thanh thải của huyết tương. Vì thải trừ ít qua lọc máu ngắt