BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ NGỌC KIÊN
Mã sinh viên : 1101274
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN SUY
THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI ĐIỀU
TRỊ THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ TẠI
BỆNH VIỆN THẬN HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2016
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ NGỌC KIÊN
Mã sinh viên : 1101274
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN SUY
THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI ĐIỀU
TRỊ THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ TẠI
BỆNH VIỆN THẬN HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. ThS. Lê Bá Hải
2. ThS. Đỗ Thị Hòa
Sinh viên
Lê Ngọc Kiên
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ ……………………………………………………………………1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ...................................................................................2
1.1. Đại cương về bệnh suy thận mạn và suy thận mạn giai đoạn cuối ....................2
1.1.1. Định nghĩa suy thận mạn và suy thận mạn giai đoạn cuối .........................2
1.1.2. Dịch tễ học bệnh suy thận mạn và suy thận mạn giai đoạn cuối ................2
1.2. Vấn đề nhiễm khuẩn trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối....................4
1.2.1. Tình hình bệnh nhiễm khuẩn trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối4
1.2.2. Một số yếu tố nguy cơ gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn ở bệnh
nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị thận nhân tạo chu kỳ ..........................7
1.3. Tác động của liệu pháp điều trị thận nhân tạo đến thải trừ kháng sinh ...........10
1.3.1. Một số kỹ thuật trong điều trị thận nhân tạo.............................................10
1.3.2. Tác động của máy lọc máu đến sự thải trừ kháng sinh ............................11
1.4. Sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị thận
nhân tạo chu kỳ .......................................................................................................13
1.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kháng sinh và liều dùng...........13
1.4.2. Tổng quan nghiên cứu sử dụng một số nhóm kháng sinh trên bệnh nhân
điều trị thận nhân tạo chu kỳ...............................................................................15
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................18
2.1. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................18
2.2. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................18
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ..................................................................................18
4.4.1. Lý do sử dụng kháng sinh .........................................................................49
4.4.2. Phác đồ sử dụng kháng sinh .....................................................................51
4.4.3. Liều dùng và khoảng cách đưa liều ..........................................................52
4.5. Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu ................................................................54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
I. Kết luận………………………………………………………………………….56
II. Đề xuất………………………………………………………………………….57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu thu thập thông tin bệnh án nội trú
Phụ lục 2: Danh mục các kháng sinh được sử dụng trong điều trị
Phụ lục 3: Bảng liều dùng kháng sinh trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối
theo Antibiotic Essentials và The Sanford Guide to Antimicrobial Therapy 2015
Phụ lục 4: Các thông số dược động học và dược lực học của một số kháng sinh
đường tĩnh mạch trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chú thích
ADR (Adverse drug reactions)
Phản ứng có hại của thuốc
AVF (Arteriovenous fistula)
GFR (Glomerular filtration rate)
Mức lọc cầu thận
Gram (-)
Vi khuẩn gram âm
Gram (+)
Vi khuẩn gram dương
HR (Hazards ratio)
Tỷ số nguy cơ
KDIGO (Kidney Disease Improving Global
Hội Thận học thế giới
Outcomes)
KDOQI (Kidney Disease Outcomes
Hội Đồng Lượng giá Kết quả bệnh
Quality Initiative)
thận Quốc Gia Hoa Kỳ
RR (Risk ratio)
Bảng 3.12. Phác đồ đơn kháng sinh điều trị viêm phổi ...........................................35
Bảng 3.13. Phác đồ phối hợp hai kháng sinh điều trị viêm phổi ..............................35
Bảng 3.14. Tỷ lệ bệnh án chuyển đổi phác đồ kháng sinh ........................................36
Bảng 3.15. Liều dùng 24 giờ của các kháng sinh được sử dụng so với khuyến cáo 37
Bảng 3.16. Khoảng cách đưa liều của các kháng sinh so với khuyến cáo ................38
Bảng 3.17. Liều sau khi điều trị thận nhân tạo .........................................................39
Bảng 3.18. Đường dùng kháng sinh ..........................................................................42
Bảng 4.1. Bảng so sánh kết quả nghiên cứu ...........................................................45
Bảng 4.2. Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh trên những bệnh nhân điều trị thận nhân tạo ..47
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1. Một số bệnh mắc kèm của bệnh nhân .......................................................23
Hình 3.2. Các bệnh lý nhiễm khuẩn có trong nghiên cứu .........................................24
Hình 3.3. Tỷ lệ bệnh nhân làm kháng sinh đồ ..........................................................27
Hình 3.4. Số DDD/1000 bệnh nhân của các nhóm kháng sinh giai đoạn 2013-2015
...................................................................................................................................28
Hình 3.5. Tỷ lệ các loại phác đồ kháng sinh có trong nghiên cứu ............................33
Hình 3.6. Liều bổ sung sau thận nhân tạo so với khuyến cáo ...................................41
Hình 3.7. Đường dùng của các kháng sinh trong điều trị .........................................42
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy thận mạn là vấn đề mang tính toàn cầu. Trên thế giới có khoảng 10% dân số
mắc bệnh suy thận mạn [30], hầu hết những bệnh nhân này đều tiến triển đến suy thận
mạn giai đoạn cuối và cần phải điều trị thay thế thận bằng ghép thận hoặc lọc máu chu
kì (thận nhân tạo và lọc màng bụng). Bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối có thể
phải đến bệnh viện 2-3 lần/tuần để điều trị thận nhân tạo, thêm nữa là việc can thiệp
thận, tồn tại từ 3 tháng trở lên và gây ảnh hưởng đến sức khỏe [32]
Những bất thường về cấu trúc thận bao gồm: albumin niệu lớn hơn 30 mg/ngày,
hồng cầu niệu hoặc tế bào lắng đọng trong nước tiểu, rối loạn điện giải hay các rối loạn
khác do sự suy giảm chức năng ống thận hay bất thường về mô bệnh học. Bất thường
về chức năng thận thường dẫn đến hậu quả là suy giảm mức lọc cầu thận [21]
Suy thận mạn giai đoạn cuối (end stage renal disease) là suy thận mạn giai đoạn 5.
Đây là giai đoạn nặng nhất của suy thận mạn với mức lọc cầu thận < 15 ml/ph/1,73
m2, biểu hiện bằng hội chứng urê máu và tình trạng này sẽ gây tử vong nếu không
được điều trị thay thế thận [2], [32].
1.1.2. Dịch tễ học bệnh suy thận mạn và suy thận mạn giai đoạn cuối
Theo ước tính thì tỷ lệ lưu hành trên toàn cầu của bệnh suy thận mạn là 1/10
người lớn (10%), có hơn 500 triệu người trên thế giới mắc suy thận mạn. Gần 2 triệu
người trên thế giới mắc suy thận mạn giai đoạn cuối và phải điều trị bằng liệu pháp
thay thế thận. Phần lớn bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối là ở các nước phát triển,
với 52% bệnh nhân đến từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Brazil và Đức [30].
Tại Việt Nam chưa có thống kê chính thức về số bệnh nhân suy thận mạn và suy
thận mạn giai đoạn cuối. Theo một khảo sát của tác giả Trần Văn Chất và cộng sự, trên
2256 bệnh nhân tại Khoa Thận bệnh viện Bạch Mai từ năm 1991 đến năm 1995 thì tỷ
lệ suy thận mạn chiếm 40% [5]. Theo nghiên cứu của Võ Phụng, Võ Tam và cộng sự
tại Huế năm 1999 thì tỷ lệ suy thận mạn trong cộng đồng dân cư là 0,92% [7]. Nguyễn
Thị Quỳnh Hương, Trần Đình Long và cộng sự đã tiến hành khảo sát trên bệnh nhân
nhi tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2001-12/2005, kết quả có 152 trẻ mắc suy thận
3
mạn, tỷ lệ trẻ mắc suy thận mạn ước tính trên địa bàn Hà Nội là 5,1/1.000.000 trẻ,
trong đó 65% bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối [36].
Tỷ lệ lưu hành suy thận mạn và suy thận mạn giai đoạn cuối ở người lớn tại một số
nước trên thế giới được trình bày trong bảng sau:
Nga
-
130
Italia
6,4%
755
Thổ Nhĩ Kỳ
15,7%
756
Canada
9,5%
1007
Hoa Kỳ
13,0%
1641
520
Tên quốc gia
Ước tính trên toàn thế giới
Châu Âu
Bắc Mỹ
Châu Á
Ấn Độ
Nam Mỹ
Brazil
4
1.2. Vấn đề nhiễm khuẩn trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối
1.2.1. Tình hình bệnh nhiễm khuẩn trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối
Tình hình nhiễm khuẩn trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối
Kiểm soát các bệnh truyền nhiễm vẫn là một trong những mục tiêu y tế quan trọng
trên toàn cầu. Vài thập kỉ gần đây, sự ảnh hưởng qua lại giữa suy thận mạn và các bệnh
truyền nhiễm đã được chứng minh. Nhiều bệnh truyền nhiễm có thể dẫn đến suy thận
mạn và suy thận mạn cũng là yếu tố nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm khác nhau
[30]. Một tỷ lệ cao các ca nhiễm khuẩn gặp phải ở đối tượng bệnh nhân suy thận mạn
bao gồm bệnh nhân lọc máu chu kỳ và bệnh nhân sau ghép thận. Nhiễm khuẩn là
nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai ở bệnh nhân suy thận mạn, sau các bệnh tim
mạch [45].
Để thuận tiện cho việc đánh giá nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn trên bệnh
Bệnh viện Bạch
Bệnh viện
5 Bệnh viện ở TP
được từ máu
Mai *
Chợ Rẫy**
HCM***
Klebsiela pneumonia
10,0
14,1
15,89
P. aeruginosa
3,0
17,9
7,48
1215
S.coagulase-negative
2,7
16,2
19,63
Streptococcus spp
10,7
-
2,8
Enterococcus
3,6
-
0,93
0,0
0,9
Viêm phổi là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ tử vong do nhiễm
khuẩn ở bệnh nhân lọc máu. Viêm phổi ở bệnh nhân lọc máu bao gồm viêm phổi mắc
phải tại cộng đồng và viêm phổi mắc phải tại bệnh viện. Việc phải thường xuyên đến
các bệnh viện để lọc máu là một trong những nguy cơ mắc viêm phổi mắc phải tại bệnh
viện [41]. Kết quả nghiên cứu của Sarnak MJ and Jaber BL cho thấy tỷ lệ tử vong do
viêm phổi trên những bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối có điều trị lọc máu cao
gấp 14-16 lần so với quần thể chung [38]. Các chủng vi khuẩn gây viêm phổi phân lập
được ở những trường hợp này bao gồm: các vi khuẩn Gram dương như Streptococcus
pneumonia, Staphylococcus aureus,…và các vi khuẩn Gram âm như Pseudomonas
aeruginosa, Haemophilus influenza, Klebsiella pneumonia, Escherichia coli,..[4], [39].
Viêm nội tâm mạc
7
Viêm nội tâm mạc trên những bệnh nhân điều trị thận nhân tạo chu kì được báo cáo
lần đầu tiên năm 1966. Ngày nay viêm nội tâm mạc phổ biến hơn nhiều ở bệnh nhân
điều trị thận nhân tạo chu kỳ, đó là một trong những nguyên nhân làm cho tình trạng
bệnh nặng hơn và gia tăng tỷ lệ tử vong so với nhóm người bình thường. Theo dữ liệu
từ Hệ thống dữ liệu thận học Hoa Kỳ, Abbott và cộng sự cho rằng tỷ lệ mắc viêm nội
tâm mạc (đã hiệu chỉnh theo tuổi) ở những người lọc máu cao hơn 17,9 lần so với
nhóm người bình thường [8]. Kết quả tương tự cũng đã được báo cáo bởi Strom và
cộng sự với một tỉ lệ thấp hơn là 16,9 lần [42]. Nguyên nhân thường gặp gây ra viêm
nội tâm mạc trên bệnh nhân lọc máu là: Staphylococcus aureus, Enterococcus spp,
Streptococcus spp, Staphylococcus coagulase negative, vi khuẩn Gram âm,…[33].
Các nhiễm khuẩn khác
Một số nhiễm khuẩn khác như viêm cầu nối động-tĩnh mạch, nhiễm khuẩn tiết
niệu, lao, nhiễm khuẩn tiêu hóa, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cũng đã được ghi
nhận trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị thận nhân tạo chu kỳ.
1.2.2. Một số yếu tố nguy cơ gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn ở bệnh nhân
chu kì có eGFR < 5 ml/phút/1,73m2 cao hơn 11% so với nhóm bệnh nhân điều trị thận
nhân tạo chu kỳ có eGFR ≥ 5 ml/phút/1,73m2 [15].
+ Nồng độ albumin huyết tương:
Tỷ lệ nhiễm khuẩn ở nhóm bệnh nhân khởi đầu điều trị thận nhân tạo có nồng độ
albumin huyết tương < 2,5 g/dl cao hơn 44% so với nhóm khởi đầu điều trị có nồng
độ albumin huyết tương ≥ 4,0 g/dl. Trong khi đó, các nhóm còn lại có nồng độ albumin
huyết tương tại thời điểm khởi đầu điều trị là 2,5-3,0 g/dl; 3,0-3,5 g/dl và 3,5-4,0 g/dl
có nguy cơ nhiễm khuẩn cao hơn nhóm có nồng độ albumin huyết tương ≥ 4,0 g/dl lần
lượt là 31%; 21% và 11% [15].
+ Cầu nối động mạch – tĩnh mạch:
Việc duy trì cầu nối động – tĩnh mạch là một bất lợi đối với bệnh nhân điều trị thận
nhân tạo chu kỳ từ khi cầu nối này được áp dụng trong điều trị. Phình mạch hay chít
hẹp mạch đã được báo cáo với cầu nối động tĩnh mạch tự thân (AVF) và cầu nối tổng
9
hợp (AVG). Chứng huyết khối và nhiễm trùng là biến chứng khá phổ biến của các cầu
nối động-tĩnh mạch, với tỷ lệ cao nhất được ghi nhận đối với catheter trung tâm (CVC)
[25]. Nguy cơ nhiễm khuẩn và tử vong ở những bệnh nhân nằm viện có đặt catheter
trung tâm cao hơn gấp 2-3 lần so với nhóm bệnh nhân sử dụng AVF và AVG [16].
KDOQI khuyến cáo nên sử dụng catheter trung tâm với < 10% bệnh nhân lọc máu tại
các cơ sở y tế. Việc sử dụng catheter trung tâm là nguy cơ chính dẫn đến nhiễm khuẩn
huyết ở những bệnh nhân điều trị thận nhân tạo chu kỳ và đe dọa tính mạng của hơn
10% bệnh nhân với tình trạng sốc nhiễm khuẩn, viêm nội tâm mạc, viêm tủy xương, áp
xe trên màng cứng [16].
Cầu nối động tĩnh mạch tự thân nên được sử dụng ít nhất với 65% bệnh nhân bắt
đầu liệu pháp điều trị thận nhân tạo chu kì, cầu nối tổng hợp và catheter trung tâm được
cân nhắc là lựa chọn thứ hai và thứ ba, do bởi tỷ lệ nhiễm khuẩn, huyết khối, tử vong
và thời gian nằm viện cao hơn [27]. Mặc dù, có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ
tạo trong việc thải trừ các chất cặn bã, thuốc và các chất khác, đó là cơ chế khuếch tán
và cơ chế đối lưu. Cơ chế khuếch tán là sự vận chuyển chất tan từ nơi có nồng độ cao
sang nơi có nồng độ thấp hơn qua màng lọc, kết quả là làm giảm nồng độ các chất thải,
chất độc và thuốc trong huyết tương. Cơ chế đối lưu là hiện tượng thuốc và các chất tan
khác trong máu dưới tác động của một bơm tạo áp lực bị đẩy qua màng lọc, kỹ thuật
này không phụ thuộc vào chênh lệch nồng độ hay kích thước phân tử [19]. Một số kỹ
thuật trong điều trị thận nhân tạo được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 1.3. Một số kỹ thuật trong điều trị thận nhân tạo [19], [35]
Kỹ thuật
Cơ chế thải trừ
Lối vào mạch
Dịch
Thời gian
Đối lưu
Khuếch tán
máu
thay thế
thực hiện (h)
IHD
Lối vào mạch
Dịch
Thời gian
Đối lưu
Khuếch tán
máu
thay thế
thực hiện (h)
CAVH
++++
0
AV
+++
24
CVVH
+/0
24
CAVHDF
+++
+++
AV
++
24
CVVHDF
+++
+++
VV
++
24
CVVHFD
chậm liên tục; VV: tĩnh mạch-tĩnh mạch; AV: động mạch-tĩnh mạch; Fistula: Cầu nối
1.3.2. Tác động của máy lọc máu đến sự thải trừ kháng sinh
Mức độ thải trừ thuốc qua máy lọc máu phụ thuộc vào nhiều yếu tố và đặc tính lý
hóa của thuốc như: khối lượng phân tử, tỷ lệ liên kết với protein huyết tương, khả năng
hòa tan trong nước và thể tích phân bố của thuốc. Ngoài ra, một số đặc điểm của máy
lọc như: chất liệu màng lọc, kích thước lỗ lọc, tốc độ dòng máu/dịch lọc cũng tác động
đến việc thải trừ thuốc qua máy lọc [19], [46]. Một số vật liệu màng lọc của máy lọc
đối lưu (high-flux) bao gồm: cellulose triacetat, polysulfon, polyethersulfon, polyester
polymer, polymethylmethacrylat, polyacrylonitril và ethylen vinyl alcohol copolymer
cũng có những ảnh hưởng khác nhau đến sự thải trừ của thuốc qua máy lọc [46].
12
Bảng 1.4. Một số yếu tố tác động đến sự thải trừ thuốc qua máy lọc máu [46]
Yếu tố tác động
Đặc điểm
Thuốc có khối lượng phân tử nhỏ bị thải trừ nhiều
hơn thuốc có khối lượng phân tử lớn. Thuốc có
Khối lượng phân tử khối lượng phân tử nhỏ được thải trừ chủ yếu bằng
khuếch tán đơn thuần, thuốc có khối lượng phân tử
lớn thải trừ chủ yếu bằng khuếch tán đối lưu
Yếu tố
thuộc về
thuốc
Liên kết protein
khả năng thải trừ thuốc qua máy lọc
Bảng 1.5. Ảnh hưởng của khối lượng phân tử đến thải trừ thuốc qua máy lọc [6]
Phân loại
Phân tử khối lượng thấp
Phân tử khối lượng trung bình
Phân tử khối lượng lớn
Khối lượng
(dalton)
Low-flux
High-flux
HDF
Đối lưu
Khuếch tán
< 500
Có
Có
Có
500-12000
khuyến cáo trong một số tài liệu tham khảo như: Antibiotic Essentials, The Sanford
Guide to Antimicrobial Therapy 2015,…
1.4. Sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị thận
nhân tạo chu kỳ
1.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kháng sinh và liều dùng
Trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị thận nhân tạo, sự thay đổi
dược động học và dược lực học của kháng sinh không những chịu sự ảnh hưởng bởi
tình trạng suy giảm chức năng thận của bệnh nhân mà còn chịu sự tác động của các yếu
tố kỹ thuật trong điều trị thận nhân tạo. Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn kháng
sinh và liều dùng được trình bày trong bảng sau:
14
Bảng 1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kháng sinh và liều dùng [19]
Yếu tố
Khuyến cáo
Kỹ thuật lọc
Kỹ thuật lọc có tác động đến sự thải trừ của phần lớn các kháng sinh
Chức năng
Chức năng thận còn lại có thể thải trừ một lượng thuốc nhất định,
nội tại của
thuốc có thể bị thải trừ nhiều hơn ước tính nếu chỉ ước tính thuốc
Dữ liệu vi sinh tại khoa lâm sàng, bệnh viện hay địa phương (nếu
Dữ liệu vi
có) nên được sử dụng để lựa chọn kháng sinh khởi đầu theo kinh
sinh
nghiệm. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) (nếu có) nên được sử dụng
để tối ưu hóa trong việc lựa chọn liều kháng sinh
Tương tác
thuốc
Những thay đổi về dược động học của kháng sinh trong việc hấp
thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ có thể làm tăng nguy cơ tương tác
và tác dụng không mong muốn của thuốc.
15
1.4.2. Tổng quan nghiên cứu sử dụng một số nhóm kháng sinh trên bệnh nhân điều
trị thận nhân tạo chu kỳ
Nhóm beta-lactam
Beta-lactam là nhóm kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc thời gian, có tác dụng hậu
kháng sinh ngắn hoặc không có. Để đạt được hiệu quả điều trị, với penicillin và
cephalosporin thời gian nồng độ thuốc trong huyết tương lớn hơn nồng độ ức chế tối
thiểu (T>MIC) cần chiếm khoảng 40-50%, với carbapenem tác dụng kìm khuẩn và diệt
khuẩn gần đạt tối đa khi T>MIC lần lượt là 20% và 40% [3]. Theo logic thông thường
thì những thuốc tan nhiều trong nước, có trọng lượng phân tử thấp, ít liên kết với
mg/ngày được khuyến cáo trên những bệnh nhân điều trị thận nhân tạo chu kỳ bằng
hình thức thẩm tách máu [20]. Để có được hiệu quả tối đa khi sử dụng levofloxacin thì
AUC0→24/MIC đạt 100-125 và Cmax/MIC đạt 8-10 [3]. Trong một nghiên cứu của
Tsaganos và cộng sự (2008), sử dụng levofloxacin 500 mg đường uống trên những
bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị thận nhân tạo chu kỳ. Kết quả cho thấy:
nếu dùng duy nhất liều 500 mg thì AUC0→24 đạt hiệu quả điều trị với tất cả các vi
khuẩn gây bệnh có MIC < 0,77 mg/L và nếu dùng liều 500 mg/ngày trong 3 ngày liên
tiếp thì AUC0→24 đạt hiệu quả trên những vi khuẩn có MIC < 1,57 mg/L, trong đó bao
gồm: S. aureus (0,4mg/L), E. coli (0,1 mg/L), S. pneumonia (1,56 mg/L) và không có
hiệu quả trên P. aeruginosa (3,13 mg/L) [44]. Dược động học của moxifloxacin trên
bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị thận nhân tạo tương tự như bệnh nhân
không có bệnh thận mạn, do vậy không cần phải thay đổi liều dùng [47].
Nhóm aminoglycosid
Aminoglycosid đã được sử dụng rộng rãi trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn
cuối để điều trị các nhiễm khuẩn do vi khuẩn gram âm hay tụ cầu vàng. Theo các bằng
chứng về dược động học/dược lực học gần đây, chế độ liều 1 lần/ngày là đủ hiệu quả
thay vì nhiều lần như trước đây. Đây là nhóm kháng sinh phụ thuộc nồng độ nên dùng