Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
ngày càng trở nên gay gắt. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình phát triển
sản phẩm dịch vụ vừa là cơ hội, vừa là sức ép đối với các doanh nghiệp. Nói đến phát
triển sản phẩm dịch vụ là nói về cả số lượng và chất lượng, thế nhưng quan trọng
nhất vẫn là chất lượng của sản phẩm dịch vụ. Một doanh nghiệp nếu muốn phát triển
bền vững lâu dài cần quan tâm tới điều này, đó được coi là việc phát triển sản phẩm
dịch vụ hướng theo chiều sâu. Mặt khác, khách hàng ngày càng quan tâm tới chất
lượng sản phẩm dịch vụ hơn là giá cả. Đặc biệt là đối với một loại sản phẩm mang
tính đặc trưng riêng như dịch vụ Bưu Chính, vừa mang tính truyền thống, vừa được
coi là loại hình dịch vụ công.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, ngành Bưu Điện cũng đã có
những bước tiến nhảy vọt. Năm 2009 là năm thứ hai Tổng công ty Bưu Chính Việt
Nam thực hiện sản xuất kinh doanh hạch toán độc lập. Vừa thực hiện nhiệm vụ công
ích,vừa từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo
chủ trương của Chính phủ trong điều kiện nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó
khăn, thách thức do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, thiên tai bệnh
dịch xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước. Mặt khác, dịch vụ Bưu Chính ngày càng bị
cạnh tranh gay gắt bởi sự xuất hiện của hơn 20 đối thủ cung cấp dịch vụ Bưu Chính
khác như DHL,TNT,FEDEX... ngoài ra Tổng công ty Bưu chính Việt Nam nhà nước
đã cho phép thành lập một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Bưu Chính nữa,
đó là Công ty dịch vụ Bưu Chính-Viễn Thông Sài Gòn. Vì vậy việc hoàn thiện và
phát triển dịch vụ khách hàng,để từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ là một đòi hỏi tất
yếu đối với sự sống còn của doanh nghiệp Bưu Chính. Điều đó thể hiện ở chỗ:
-Chất lượng luôn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
-Tạo uy tín, danh tiếng cho sự hoạt động lâu dài,phát triển bền vững của
doanh nghiệp trong tương lai.
Để có thể đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ của ngành Bưu Điện trong giai
đoạn mới, phù hợp với đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội thì việc
cùng các cô, các bác và anh chị trong Bưu điện tỉnh Hòa Bình đã giúp em trong quá
trình nghiên cứu để em có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu thực tập chuyên đề
này
Chương I:
Đặng Lệ Chi Lớp QTKDTH 48A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG BƯU CHÍNH TẠI BƯU ĐIỆN TỈNH
HOÀ BÌNH TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1.1. Đặc điểm của tỉnh Hoà Bình:
1.1.1. Vị trí địa lý:
Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía bắc có diện tích tự nhiên 466.253 ha; phía
bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, phía đông giáp
Thành phố Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Sơn La và Thanh Hóa. Hòa Bình có vị trí là cửa
ngõ của vùng Tây bắc, tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng rất thuận lợi cho giao lưu
kinh tế thương mại với miền xuôi và miền ngược. Tỉnh có 11 huyện, thành phố: Đà
Bắc, Mai Châu, Tân lạc, Lạc Sơn, Kim Bôi, Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Kỳ
Sơn, Cao phong và thành phố Hòa Bình với 214 xã phường, thị trấn. Hòa Bình cũng
là tỉnh có địa hình tương đối phức tạp, Thị xã và các trung tâm huyện lỵ đều nằm ở
thung lũng, còn lại các địa bàn dân cư chủ yếu là đồi núi.
1.1.2. Dân cư:
31 /12/2009 :Dân số Hòa Bình có 803.324 người, với 7 dân tộc: Mường, Kinh,
Thái, Dao, Tày, H‘Mông, Hoa. Dân tộc Mường chiếm khoảng 60%, Kinh chiếm
khoảng 30%, còn lại là các dân tộc khác. Dân số trong độ tuổi lao động khoảng 440
ngàn người, chiếm 57%. Với bản sắc văn hóa phong phú đặc sắc, đức tính cần cù
chịu khó, nhân dân đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình là nguồn lực to lớn cho phát
triển kinh tế xã hội. Tỷ lệ tăng dân số Bình quân hàng năm: 0,11%
1.1.3.Kinh tế xã hội:
Hoà chung vào tiến trình đổi mới của đất nước, cùng với những nỗ lực cao
của lãnh đạo và nhân dân các đồng bào dân tộc trong tỉnh; trong những năm qua 2005
bàn miền núi với 10 huyện thị (trong đó có 2 huyện thuộc miền núi cao là Mai Châu
và Đà Bắc ), dân cư thưa thớt, phân bố không đều, nền kinh tế địa phương chủ yếu là
nông lâm nghiệp kém phát triển. Toàn tỉnh không có khu công nghiệp của Trung
ương và của địa phương do đó nhu cầu sử dụng thông tin ít, gây ảnh hưởng lớn đến
hoạt động SXKD cũng như công tác tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
Về mạng Viễn thông:
Năm 1993 toàn tỉnh chỉ có 1 trạm RSS đặt tại thành phố Hoà Bình; 9 huyện
còn lại là tổng đài từ thạch với tổng dung lượng lắp đặt 900 số, tổng số máy có trên
mạng là 512 máy đạt tỷ lệ 0,07 máy/100 dân; 2/213 xã có máy điện thoại. Mạng
truyền dẫn cấp II hoàn toàn bằng dây trần cũ rỉ, chắp vá, mỗi huyện chỉ có một đôi
dây trần khai thác âm tần về tỉnh, riêng huyện Lạc thuỷ không có đường truyền dẫn
thẳng về trung tâm phải vòng qua tỉnh bạn.
Về mạng Bưu chính:
Đặng Lệ Chi Lớp QTKDTH 48A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm 1993, toàn tỉnh có khoảng gần 20 Bưu cục với bán kính phục vụ là
8,6km/1 điểm, dân số phục vụ Bình quân là 25.000dân/ 1Bưu cục, trong đó 40% số
Bưu cục làm bằng tranh tre, 30% Bưu cục cấp 4 đã xuống cấp nghiêm trọng. Việc
quản lý, khai thác nghiệp vụ đều bằng thủ công. Mạng đường thư cấp II từ tỉnh
xuống huyện phải thuê phương tiện xã hội, đường thư cấp III phương tiện chủ yếu
bằng xe đạp, thuyền, một số xã phải đi bộ; có tới 4 huyện báo không tới được trong
ngày xuất bản, 20% số xã phải nhận báo sau 5 ngày, 40% số xã nhận báo sau 3 đến 4
ngày, ngay tại thị xã Hòa Bình độc giả phải nhận báo vào buổi chiều.
1.3.Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu sản lượng dịch vụ Bưu
chính của Bưu điện tỉnh Hòa Bình(2004-2009)
Trước nhiệm vụ phải tiếp tục đổi mới và hiện đại hoá mạng lưới phục vụ, cơ
cấu tổ chức lao động phù hợp với tình hình mới, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của
lãnh đạo Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, của Tổng công ty Bưu chính Việt
Nam, sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan ban ngành địa phương, đặc biệt bằng tinh
TCT+ ĐCT(1000Đ)
BƯU KIỆN
(CÁI)
ĐI ĐẾN ĐI ĐẾN TIỀN GỬI TIỀN TRẢ ĐI ĐẾN
2004 2.941.681 5.289.464 54.362 56.406 11.770.874 16.396.088 3.958 3.061
2005 3.271.024 5.503.456 60.743 61.989 14.886.641 17.556.488 4.178 2.762
2006 3.149.776 6.577.680 61.200 61.800 17.490.669 27.391.834 4.531 2.308
2007 3.698.862 6.786.670 78.671 77.550 22.498.352 38.124.764 4.739 1.959
2008 3.897.532 6.866.244 79.002 85.976 25.758.293 50.564.061 6.531 2.990
2009 4.723.772 7.000.910 81.443 83.270 22.633.000 67.000.000 8.063 3.215
(Nguồn: phòng TCKTTK Bưu điện tỉnh Hoà Bình)
Qua số liệu ta thấy sản lượng các dịch vụ truyền thống hàng năm tăng, nhưng
sản lượng đến lớn hơn sản lượng đi rất nhiều điều này nói lên nhiệm vụ của Bưu
chính Hòa Bình trong những năm qua phục vụ là chủ yếu, kinh doanh rất khó khăn
bởi cơ chế tính doanh thu của ngành hiện tại chỉ mới tính chiều đi.
SẢN LƯỢNG MỘT SỐ DỊCH VỤ CHẤT LƯỢNG CAO
Năm
Chuyển phát
nhanh(cái )
Tăng
trưởng
Chuyển tiền
nhanh 1000 đ
Tăng
trưởng
Điện hoa
Bức
Tăng
trưởng
Đi Đến Đi Đến Tiền gửi Tiền trả Đi Đến Đi Đến Đi Đến
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2009
Tổng Doanh thu BC-VT 12.194.269
14.633,123
, 17,041,417 21.603.000
Trong đó: DT Bưu chính 5.753.339 6.616.340 7.939.609 10.321.838.
Doanh thu VT 6.440.930 8.016.783 9,101,808 11.127.862
Tỷ lệ tăng tr ưởng
1,2 1,16 1,25
Tổng chi phí
43.039.587. 42.409.000 40.484.977 40.986.000
TCT điều tiết
30.845.318 27.775.877 23.443.560 19.536.300
NSLĐ(TổngDT(triệu đ/lđbq /năm
35,5. 40,5 48,7 65,8
(Nguồn: phòng TCKTTK Bưu điện tỉnh Hoà Bình)
Nhìn vào số liệu của bảng trên ta thấy Bưu điện tỉnh Hòa Bình tuy hoạt động
SXKD trên địa bàn miền núi có nền kinh tế kém phát triển, là đơn vị hàng năm vẫn
được Tổng công ty cấp bù lỗ, song đã nỗ lực cố gắng hoàn thành các chỉ tiêu kế
hoạch SXKD thể hiện:
Đặng Lệ Chi Lớp QTKDTH 48A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Về tốc độ tăng trưởng doanh thu: Từ 2006 đến năm 2009 doanh thu của đơn
vị tăng Bình quân: 20% và được xếp ở nhóm có tốc độ tăng trưởng cao của VNPT.
Trong đó Doanh thu từ các dịch vụ Bưu chính có tốc độ tăng trưởng Bình quân
15%.Tuy nhiên tỷ trọng doanh thu Bưu chính khá cao trong tổng doanh thu, chiếm
khoảng 48,12%.
- Về tốc độ tăng trưởng chi phí: Hàng năm chi phí giảm Bình quân 1,46%
(giảm chậm hơn so với tốc độ tăng doanh thu). Đây là một tiến bộ vượt bậc cho thấy
+ Dịch vụ VExpress: 408.874 ngàn đồng, tăng trưởng 128% so với năm 2008.
+ Doanh thu đại lý dịch vụ Chuyển phát nhanh: 473.824 ngàn đồng, tăng 0.2%
so với năm 2008.
1.2.3.2. Nhóm dịch vụ tài chính Bưu chính.
Dịch vụ Tài chính Bưu chính tiếp tục có bước tăng trưởng ổn định do các dịch
vụ đã triển khai từ năm 2008 như Bảo hiểm Bưu chính Prevoir, Bảo hiểm PTI đã
từng bước thu hút khách hàng, mở rộng thị trường; bên cạnh đó nhiều dịch vụ mới
như: Prudential, bán mã thẻ điện tử, bán vé máy bay điện tử, thu hộ Saigon Viet
Finance.... đã được đưa vào khai thác trong năm 2009. Đặc biệt dịch vụ Bảo hiểm
nhân thọ, phi nhân thọ phát triển khá mạnh và hứa hẹn là một thị trường tiềm năng
được Bưu Điện tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh khai thác trong năm 2010 và những năm tiếp
theo.
Đối với các dịch vụ truyền thống của ngành như Chuyển tiền, Điện hoa chịu
sự cạnh tranh mạnh mẽ với các dịch vụ đa dạng, có sức hấp dẫn cao từ các ngân hàng
và các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn. Do đó để thu hút khách hàng, Bưu Điện
tỉnh đã thực hiện quảng bá mạnh mẽ chương trình khuyến mại đối với khách hàng
gửi tiền TKBĐ hoặc mua Bảo hiểm Nhân thọ Bưu chính; triển khai ứng dụng phần
mềm nâng cấp CT2003 tới các đơn vị, tập huấn cho đội ngũ giao dịch viên thực hành,
khai thác hiệu quả trong quá trình sản xuất.
Kết quả kinh doanh các Dịch vụ Tài chính Bưu chính năm 2009 như sau:
Doanh thu: đạt 2.796 triệu đồng, tăng 7% so với năm 2008, chiếm tỷ trọng
12.9% tổng doanh thu phát sinh. Trong đó:
- Dịch vụ Chuyển tiền trong nước và Điện hoa: 1.567 triệu đồng, tăng 14.5%
so với năm 2008.
- Dịch vụ TKBĐ: 1.027 triệu đồng giảm 16 % so với năm 2008.
- Dịch vụ đại lý Bảo hiểm: 178 triệu đồng, đạt tỷ lệ tăng trưởng khá cao (hơn
12 lần).
* Doanh thu dịch vụ khác (cho thuê tài sản, kinh doanh vận tải, bán hàng
hoá...) đạt 525.085 ngàn đồng, tăng 8.6 % so với thực hiện năm 2008.
1.3. Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ
dịch vụ công ích. Về giá cước Bưu chính cũng cần có sự nhìn nhận đúng đắn, khách
quan của Đảng và Nhà nước để giải quyết sao cho phù hợp, có lợi cho người dân và cho
cả Nhà nước và Doanh nghiệp.
Trong điều kiện kinh tế và đời sống còn thấp kém, thì mức cước của dịch vụ
công ích và phổ cập cho người dân, đặc biệt là đối với một tỉnh miền núi như Hòa Bình
phải là ở mức đa số đông có thể chấp nhận và chi trả được. Dịch vụ Bưu chính bắt
buộc được cung cấp theo yêu cầu của Nhà nước nhằm phát triển KTXH, an ninh, quốc
phòng. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng giai đoạn mà Nhà nước quy định danh mục
dịch vụ Bưu chính công ích. Đồng thời Nhà nước cần định khung giá cước, đây là vấn
Đặng Lệ Chi Lớp QTKDTH 48A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đề chính sách, Nhà nước chịu trách nhiệm và tìm cách bù đắp thoả đáng cho Doanh
nghiệp cung cấp các dịch vụ nói trên.
Có người cho rằng khi internet, công nghệ thông tin liên lạc ngày càng phát
triển, dịch vụ Bưu chính khó mà có thể phát triển hơn được nữa, thậm chí sẽ trở nên lạc
hậu so với các loại hình dịch vụ thông tin khác, ví dụ như khách hàng có thể dễ dàng
đọc những thông tin mới nhất được cập nhật hàng ngày trên mạng mà không cần phải
đặt mua báo. Nhưng thực tế về dịch vụ Bưu chính ở các nước đã phát triển khác như
Mỹ,Canada hay Singapo đã cho thấy con đường mà dịch vụ Bưu chính các nước nói
chung trên thế giới và Việt Nam nói riêng sẽ đi và phát triển. Cũng cần phải thấy thêm
một khía cạnh khác nữa khi nói về tính dịch vụ công của dịch vụ Bưu chính, đó là với
một đất nước phát triển thì dịch vụ Bưu chính cũng ngày càng phát triển và ngược lại
sự phát triển của dịch vụ công ích như dịch vụ Bưu chính lại phản ánh mức độ chất
lượng cuộc sống của người dân. Điều này cũng thật dễ hiểu bởi vì một khi đất nước có
sự tăng trưởng về kinh tế, ổn định về kinh tế-xã hội thì càng quan tâm nhiều hơn tới
đời sống của người dân thông qua các dịch vụ công ích.
1.3.1.2. Tính không vật chất.
Sản phẩm của Bưu điện không phải là một loại hàng hóa thông thường,nó là
một sản phẩm đặc biệt không mang hình thái vật chất. Khác với các ngành công
xuất và tiêu thụ sản phẩm không tách rời nhau, tương tự như vậy, trong ngành thông
tin Bưu điện, các dịch vụ Bưu chính là không thể cất giữ được. Điều đó có nghĩa là
khi sản xuất bị ngừng trệ thì đồng thời quá trình tiêu thụ cũng bị gián đoạn. Đặc điểm
này đòi hỏi sản phẩm Bưu điện phải có chất lượng cao cũng như đảm bảo được thời
gian của cả chuỗi cung ứng dịch vụ . Ngành dịch vụ Bưu điện không giống các ngành
sản xuất vật chất khác là có thể thay thế sản phẩm có chất lượng xấu bằng những sản
phẩm có chất lượng tốt hơn khi bán cho người tiêu dùng,quá trình sản xuất và tiêu
thụ một sản phẩm cho một khách hàng là không thể lập lại hoặc thay thế. Có thể nói
trong ngành Bưu điện nếu tin tức truyền đi bị sai lệnh hoặc không đúng thời hạn quy
định thì giá trị sử dụng của những tin tức ấy cũng bị mất hoàn toàn hoặc bị giảm dần
dẫn đến việc gây thiệt hại cho người sử dụng. Chính vì vậy, Bưu điện tỉnh Hòa Bình
không có sản phẩm tồn kho và không cho phép có phế phẩm.
Cũng do đặc điểm này mà Bưu điện vừa thực hiện chức năng sản xuất vừa
thực hiện chức năng phân phối dịch vụ của mình. Quan trọng hơn cả, với vai trò là
một ngành dịch vụ công ích, Bưu điện tỉnh Hòa Bình càng phải quan tâm hơn nữa tới
quá trình cung cấp dịch vụ của mình tới khách hàng. Trong quá trình phát triển mạng
lưới, việc chú ý làm cho các dịch vụ thông tin Bưu điện càng xích gần đến khách
hàng và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người sử dụng cũng như mở các dịch vụ
khác sẽ càng làm phong phú các dịch vụ nhằm phục vụ xã hội một cách tốt hơn.
1.3.1.4. Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Bưu điện mang tính dây chuyền:
Trong quá trình cung cấp dịch vụ , thường phải có sự tham gia ít nhất từ hai
đơn vị Bưu điện trở lên. Các đơn vị này ở cách xa nhau về địa dư thậm chí vượt khỏi
phạm vi lãnh thổ của một nước. Mỗi đơn vị chỉ hoàn thành một công đoạn nhất định
Đặng Lệ Chi Lớp QTKDTH 48A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Bưu điện mà thôi, hay nói cách khác là
thực hiện khâu đi, khâu truyền đưa, khâu quá giang và khâu đến.
Nhu cầu dịch vụ Bưu điện có thể ở bất cứ nơi nào có con người sinh sống. Do
đó không những mạng lưới dịch vụ Bưu điện rộng khắp mà còn phải đảm bảo cho
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hợp với quá trình hiện đại hóa khoa học-công nghệ của ngành Bưu điện quốc tế nói
chung và ngành Bưu Điện nước ta nói riêng.
* Mạng Bưu chính:
Mức độ đầu tư cho mạng không đòi hỏi nhiều vốn như mạng viễn thông. Tuy
nhiên việc cải tiến chất lượng của mạng bưu chính cũng là nhân tố chính cho việc
nâng cao chất lượng của các dịch vụ.
Hệ thống bưu cục, các tuyến đường thư là những bộ phận cấu thành mạng.
Hoạt động của mạng bưu chính cũng như mạng viễn thông cũng gắn liền với địa
bàn.
Hệ thống các bưu cục nhiều thì khả năng phục vụ khách hàng được tốt hơn,
tránh được tình trạng một bưu cục phải phục vụ khá nhiều người từ đó có thể nâng
cao được chất lượng các dịch vụ phục vụ khách hàng.
1.3.3. Đặc điểm về thị trường.
Do đặc điểm tỉnh Hòa Bình là một tỉnh miền núi, dân cư thưa thớt, bao gồm
nhiều thành phần dân tộc khác nhau, mặt khác trình độ và thu nhập của dân cư còn
thấp, chủ yếu vẫn là tự cung tự tiêu, ít có sự liên hệ giao lưu với các tỉnh thành khu
vực khác nên việc hoàn thiện và phát triển dịch vụ khách hàng Bưu chính còn gặp
nhiều khó khăn. Trước đây việc phát triển dịch vụ Bưu chính gặp rất nhiều khó khăn
một phần vì nhu cầu sử dụng các loại hình dịch vụ này còn ít, một phần do hệ thống
đường xá cầu cống giao thông liên lạc còn chưa phát triển, không được quan tâm đầu
tư đúng mức. Bắt đầu từ năm 2001 khi nhà nước quan tâm, đầu tư xây dựng và phát
triển hệ thống giao thông cũng như hạ tầng cơ sở chuẩn bị cho việc công nhận thị xã
Hòa Bình trở thành thành phố loại ba vào năm 2007, đặc biệt là từ khi cho mở con
đường Hồ Chí Minh đi qua huyện Lạc Thủy - Hòa Bình đã tạo điều kiện cho Bưu điện
Hòa Bình hoàn thiện và phát triển dịch vụ Bưu chính, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống cho nhân dân. Với phương châm lấy phục vụ công ích làm chính, song về lâu
dài phải gắn với kinh doanh, lấy thu bù chi, tiến đến có lãi.
Cũng như mọi sản phẩm, dịch vụ khác, các dịch vụ của Bưu điện tỉnh Hòa
Là một ngành dịch vụ, nhưng đây là một ngành đòi hỏi công nghệ hiện đại, vì
thế Bưu điện tỉnh Hòa Bình phải không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ, ngày
càng đáp ứng được với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật.
Việc phân bố sắp xếp lực lượng lao động do đặc điểm về quy trình sản xuất do
Bưu điện tỉnh Hòa Bình quyết định.
Ngoại trừ bộ phận lao động trực tiếp giao dịch với khách hàng ở các bưu cục,
nói chung phần lớn lao động của Bưu điện tỉnh Hòa Bình thuộc bộ phận sản xuất có
tính dây chuyền như khai thác phổ thông, đóng gói, vận chuyển ...
Do đó, tuy là một ngành dịch vụ nhưng có những bộ phận, tính chất sản xuất
thể hiện rất rõ và nó cũng tạo ra giá trị như quá trình sản xuất công nghiệp.
Với thiết bị máy móc hiện đại như hiện nay thì bắt buộc nhân viên Bưu điện
tỉnh Hòa Bình phải có trình độ chuyên môn về nghiệp vụ, khả năng nắm bắt tiến bộ
kỹ thuật nhanh. Bên cạnh trình độ chuyên môn, khả năng giao tiếp của nhân viên Bưu
Đặng Lệ Chi Lớp QTKDTH 48A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
điện (đặc biệt ở bộ phận giao dịch) cũng được đề cao. Người công nhân có trình độ
lao động cao sẽ mang lại cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao.
Nhận thức được tầm quan trọng này, hàng năm Bưu Điện tỉnh Hòa Bình đều tổ chức
thi nâng bậc và công tác nâng cao trình độ công nhân được đặc biệt chú ý.
1.3.5. Đặc điểm về tổ chức sản xuất:
Hiện nay ngành Bưu điện chưa xác định được khối lượng, giá trị chi phí cho
từng công đoạn (từng đơn vị sản phẩm Bưu điện) trong quá trình tạo ra sản phẩm
toàn trình. Tuy hiện nay Bưu điện tỉnh Hòa Bình đã hoạt động kinh doanh hạch toán
độc lập nhưng vẫn có sự hỗ trợ bù lỗ của chính phủ và Tập đoàn Bưu chính Viễn
thông Việt Nam nên vẫn có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của Bưu điện tỉnh Hòa
Bình, cũng như công tác cải tiến, nâng cao chất lượng các dịch vụ.
Trong một số trường hợp Bưu điện tỉnh Hòa Bình muốn phát triển mạng hoặc
hoàn thiện một số dịch vụ mới, phải phụ thuộc vào mức độ phát triển chung của một
số Bưu điện khác trong ngành. Ví dụ như dịch vụ MyTV muốn phát triển tại Bưu
thu cho khối Bưu chính. Thông thường bộ phận phát triển dịch vụ khách hàng được
gắn liền với hoạt động của các Bưu cục cấp I , II , III
Khối Bưu điện tỉnh: Đây là đơn vị sản xuất kinh doanh đầu não, sẽ đưa ra các
quyết định trong hoạt động cung cấp và kế hoạch phát triển dịch vụ Bưu chính trên
địa bàn toàn tỉnh Hòa Bình. Là đầu mối thông tin thu thập các ý kiến phản hồi từ
người lao động, từ khách hàng Bưu chính và các đơn vị cấp dưới. Từ đó giải quyết
kịp thời mọi phát sinh, đồng thời các công việc liên quan tới việc triển khai kế hoạch
sản xuất, cung cấp dịch vụ được bộ phận phát triển dịch vụ khách hàng bàn bạc, thảo
luận, kiến nghị lên cấp trên để đi tới một giải pháp tốt nhất.
Các đơn vị trực thuộc của Bưu điện tỉnh hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính
bao gồm các Bưu điện huyện, Bưu điện Thị xã.
Khối Bưu điện huyện, Bưu điện thành phố : Là đơn vị sản xuất kinh doanh
cấp trung gian, nhận chỉ thị trực tiếp từ Bưu điện tỉnh về các kế hoạch sản xuất, hoàn
thiện và phát triển dịch vụ Bưu chính trong từng giai đoạn, triển khai các chỉ thị trên
cho đơn vị cấp cơ sở là các Bưu cục xã,phường và các Điểm văn hóa xã, đồng thời có
nhiệm vụ phản hồi thông tin, tình hình kinh doanh và cung cấp dịch vụ Bưu chính tại
từng huyện,thành phố.
Bưu cục xã, phường và các Điểm văn hóa xã : Là đơn vị kinh doanh cấp cơ
sở, được thành lập nhằm mục đích tiếp cận và cung cấp những dịch vụ Bưu chính cơ
bản tốt nhất, phổ cập kiến thức văn hóa - xã hội nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh
tế - xã hội ở nông thôn, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa và thu thập ý kiến phản
hồi từ khách hàng sử dụng dịch vụ Bưu chính cho Bưu điện tỉnh.
Mười đơn vị các Bưu điện huyện bao gồm Bưu điện huyện Kỳ sơn, Lương
sơn, Kim Bôi, Lạc thuỷ, Tân lạc, Lạc sơn, Yên thuỷ, Đà Bắc, Mai châu và Bưu điện
huyện Cao phong có chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức như nhau.
Đặng Lệ Chi Lớp QTKDTH 48A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đặng Lệ Chi Lớp QTKDTH 48A
18