CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cấp Sở
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
TT
Họ và tên
Ngày tháng
năm sinh
Nơi
Chức
Trình
Tỷ lệ
công tác
vụ
độ
(%)
chuyên
đóng
80%
Giáo
dục
công
dân
2
Nguyễn Thu Hà
3/11/1983
THPT
Giáo
Cử
Bình
viên
nhân
Minh
Tiếng
Anh
- Kiểm tra bài cũ.
- Giới thiệu bài mới.
- Dạy bài mới.
- Luyện tập, củng cố kiến thức hình thành ở HS.
- Hướng dẫn HS làm việc ở nhà.
Cấu trúc một bài soạn theo phương pháp truyền thống ở trên cho thấy sự
sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc, chi tiết, đầy đủ những việc làm của GV
và HS theo một trình tự nhất định.
* Các phương pháp GV thường sử dụng trong bài dạy là:
1.1. Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
- Là phương pháp để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi
tiết, dễ hiểu cho HS tiếp thu. Đối với HS qua nghe giảng giải nhanh chóng hiểu
được vấn đề và học được PP trình bày vấn đề học tập một cách có hệ thống. GV
thường sử dụng PP này khi tiến hành nội dung các kiến thức cần nhớ trong bài
học, thể hiện mối liên hệ kiến thức trong một phần hoặc toàn bộ chương trình.
- Tuy nhiên, đây là phương pháp độc thoại, HS rơi vào tình trạng thụ
động, phải cố gắng nghe để hiểu, ghi nhớ và không có cơ hội trình bày ý kiến
riêng của mình dẫn đến thói quen thụ động chờ đợi ý kiến giải thích của GV.
1.2. Làm việc với sách giáo khoa
- Ưu điểm: HS làm việc một cách độc lập, tích cực, tạo không khí sôi nổi
trong học tập và phát huy năng lực tư duy của HS.
- Nhược điểm: Kiến thức trong sách giáo khoa chỉ hạn chế trong lượng
kiến thức của môn học, chưa đề cập được hết tất cả các kiến thức, tình huống
mà HS sẽ gặp trong cuộc sống.
1.3. Phương pháp đàm thoại (vấn đáp)
- Phương pháp đàm thoại (vấn đáp) là phương pháp GV đặt ra những câu
hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở cho HS sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá
được thiết kế cho GV dễ dàng tổ chức các hoạt động học tập. Các tình huống có
vấn đề, các câu hỏi tìm tòi cũng được đặt ra, mặc dù chưa nhiều nhưng đã mang
tính gợi ý giúp cho GV định hướng phương pháp. Khi dự giờ một số GV, tôi
thấy phương pháp chủ đạo của đa số GV khi giảng dạy là nêu vấn đề, thuyết
trình kết hợp với đàm thoại để làm rõ từng vấn đề, cuối cùng là làm bài tập củng
cố. Phương pháp dạy học trên về ưu điểm đã tạo được sự hứng thú cho HS khi
bắt đầu bài học bằng cách nêu vấn đề. HS được GV giảng giải kĩ lưỡng từng
vấn đề cùng với một số câu hỏi phát vấn cũng phần nào phát huy được tính tích
cực của các em trong hoạt động học tập. HS nắm được một số kiến thức cơ bản
của bài. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng những phương pháp như đã nêu trên thì
cũng có những hạn chế nhất định như đối với PP thuyết trình, HS sẽ dễ rơi vào
tình trạng thụ động, phải cố gắng nghe để hiểu, ghi nhớ và không có cơ hội trình
bày ý kiến riêng của mình dẫn đến thói quen thụ động chờ đợi ý kiến giải thích
của GV. Hay PP làm việc với SGK thì kiến thức trong SGK chỉ hạn chế trong
lượng kiến thức của môn học, chưa đề cập được hết tất cả các kiến thức, tình
huống mà HS sẽ gặp trong cuộc sống. Đối với PP đàm thoại, nếu vận dụng
không khéo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn
đáp thành cuộc đối thoại giữa GV và một vài HS, không thu hút toàn lớp tham
gia vào hoạt động chung. Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một
cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy lôgic, tư duy sáng
tạo của HS.
Bên cạnh đó, việc dạy độc lập các môn học có nội dung liên quan đến
nhau sẽ làm cho HS chưa thấy được sự liên hệ về nội dung giữa các môn học.
Việc các em tiếp cận nội dung độc lập giữa các môn mà không có sự liên hệ sẽ
làm cho các em không có cái nhìn tổng quát, sâu sắc về vấn đề mà tiếp thu một
cách rời rạc, thiếu liên hệ.
Vậy để HS có cái nhìn sâu sắc về vấn đề, thấy được mối liên hệ giữa nội
dung các môn học với nhau, chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng thêm các
đủ phẩm chất, năng lực vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp
của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý trong giải quyết các tình
huống khác nhau trong cuộc sống hiện đại và làm cho việc học tập trở nên ý
nghĩa hơn đối với HS so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện
riêng rẽ. Đồng thời dạy học tích hợp, liên môn giúp hình thành và phát triển ở
HS các năng lực cần thiết của một người lao động trong tương lai như: NL tự
học; NL giải quyết vấn đề; NL sáng tạo; NL hợp tác; NL giao tiếp; NL sử dụng
công nghệ thông tin và truyền thông….
Giúp cho giờ học trở nên sinh động hơn, vì không chỉ có GV là người
trình bày mà HS cũng tham gia vào quá trình tiếp nhận kiến thức, từ đó phát huy
tính tích cực của HS.
Góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở HS, tạo cho HS một thói
quen trong tư duy, lập luận tức là khi xem xét một vấn đề phải đặt chúng trong
một hệ quy chiếu, từ đó mới có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo.
Giúp HS hứng thú học tập, từ đó khắc sâu được kiến thức đã học do việc
dạy học tích hợp liên môn có tính thực tiễn.
Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa: bằng cách gắn học tập với cuộc
sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này,
hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống.
Dạy cho HS sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể: thay vì tham nhồi
nhét cho HS nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng tập
dượt cho HS vận dụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực
tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, có năng lực
sống tự lập.
Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học: trong quá trình học tập,
HS có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong
mỗi môn học nhưng phải biết đặt các khái niệm đã học trong những mối quan
hệ hệ thống, trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác
Trong chương trình Địa lí lớp 11 và Lịch sử lớp 12 đều có nội dung liên
quan đến hợp tác, đó là về liên minh châu Âu (EU). Lịch sử lớp 12 còn có kiến
thức về sự ra đời và phát triển của ASEAN, cũng là một biểu hiện về hợp tác.
Việc cấu trúc lại thành một chủ đề liên môn “Hợp tác - liên kết cùng phát triển”
là cần thiết, tránh tình trạng trùng lặp nhau về nội dung, tránh việc cả 2 môn học
đều tổ chức dạy học, giảm được thời gian và học tập cho HS. Liên minh châu
Âu, ASEAN là thành quả của sự hợp tác, mà kiến thức về hợp tác lại nằm ở
trong chương trình GDCD lớp 10. Như vậy, việc tích hợp môn GDCD để HS có
nền tảng kiến thức về hợp tác, biểu hiện cũng như ý nghĩa của hợp tác, tích hợp
môn Lịch sử, Địa lí để HS có được ví dụ điển hình về hợp tác. Qua đó, khắc
phục được tình trạng thiếu sự liên hệ, tác động giữa kiến thức của môn Lịch sử,
Địa lí và GDCD.
Việc xây dựng chủ đề liên môn tạo điều kiện để đổi mới phương pháp dạy
học, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, học sinh được hoạt động, được
tự học và tự nghiên cứu. Thông qua đó góp phần hướng tới hình thành các năng
lực, phẩm chất cho HS.
Nội dung học tập của bài được sử dụng xây dựng thành chủ đề với các
hoạt động học được xây dựng nối tiếp nhau thành một chuỗi các hoạt động liên
tục có gắn kết với nhau, HS được nghiên cứu trên lớp, ở nhà, từ đó góp phần
làm tăng thời gian học tập của HS.
Để có cái nhìn rõ hơn về hợp tác, không chỉ ở phạm vi nhỏ hẹp như khu
phố, trường học, địa phương,…mà còn ở phạm vi vĩ mô, đó là sự hợp tác giữa
các quốc gia với nhau, chủ đề “Hợp tác - liên kết cùng phát triển” được xây
dựng từ các môn học:
- Môn Địa lí lớp 11
Bài 7: LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
Tiết 1. EU – Liên minh khu vực lớn trên thế giới
Tiết 2. EU – Hợp tác, liên kết để cùng phát triển
của môn GDCD.
Với việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học kết hợp với các PP,
kỹ thuật dạy học tích cực, bài dạy sẽ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
Những nội dung dạy học trong từng bộ môn mà cần phải sử dụng các
kiến thức của các môn học khác để giải quyết sẽ kích thích sự hứng thú, chủ
động của các em, đặc biệt là các em có năng khiếu, sự am hiểu về những môn
học đó.
HS sẽ là người chủ động tìm ra kiến thức, GV chỉ là người hỗ trợ, hướng
dẫn các em.
Khi vận dụng các kiến thức liên môn kết hợp với các PP dạy học tích cực,
các em sẽ được tự thể hiện mình, phát triển năng lực làm việc nhóm. Người học
được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, phải biết vận dụng linh
hoạt kiến thức phức hợp của các môn học để giải quyết.
So sánh tính mới của giải pháp mới với giải pháp cũ
Dạy học truyền thống
- Lấy người thầy làm trung tâm.
Dạy học tích hợp liên môn
- Lấy người học làm trung tâm
- Là quá trình chuyển tải thông tin - GV giao nhiệm vụ cho HS, HS sẵn
một chiều từ thầy sang trò
sàng nhận và thực hiện nhiệm vụ. HS
- HS thụ động tiếp thu kiến thức, phải huy động kiến thức từ nhiều môn
không có sự phản biện
động nỗ lực tìm kiếm kiến thức của người học. Còn người dạy chỉ là người tổ
chức và hướng dẫn quá trình học tập, đạo diễn cho người học tự tìm kiếm kiến
thức và phương thức tìm kiếm kiến thức bằng hành động của chính mình. Người
dạy phải dạy cái mà người học cần chứ không phải dạy cái mà người dạy có.
- GV giao nhiệm vụ cho HS, HS sẵn sàng nhận và thực hiện nhiệm vụ:
HS phải huy động kiến thức từ nhiều môn học để giải quyết. GV giao cho HS
một nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề. Nhiệm vụ giao cho HS có thể được thể hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau như: giải thích một sự kiện/ hiện tượng trong tự
nhiên hay xã hội; giải quyết một tình huống trong học tập hay trong thực tiễn;
tiến hành một thí nghiệm mở đầu … Dưới sự hướng dẫn của GV, HS quan tâm
đến nhiệm vụ đặt ra, sẵn sàng nhận và tự nguyện thực hiện nhiệm vụ. Từ nhiệm
vụ cần giải quyết, HS huy động kiến thức, kĩ năng đã biết và nảy sinh nhu cầu
về kiến thức, kĩ năng còn chưa biết, nhưng hi vọng có thể tìm tòi, xây dựng
được; diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi. Lúc này, vấn đề đối với HS xuất hiện,
dưới sự hướng dẫn của GV, vấn đề đó được chính thức diễn đạt.
Nhiệm vụ giao cho HS cần đảm bảo rằng, HS không thể giải quyết trọn vẹn với
kiến thức, kĩ năng đã có mà cần phải học thêm kiến thức mới để vận dụng vào
quá trình giải quyết vấn đề.
- GV là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học
tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận theo nhóm: Sau
khi đã phát biểu vấn đề, HS độc lập hoạt động, xoay trở để vượt qua khó khăn,
tìm các giải pháp để giải quyết vấn đề. Trong quá trình đó, khi cần phải có sự
định hướng của GV để HS có thể đưa ra các giải pháp theo suy nghĩ của HS.
Thông qua trao đổi, thảo luận dưới sự định hướng của GV, HS xác định được
các giải pháp khả thi, bao gồm cả việc học kiến thức mới phục vụ cho việc giải
quyết vấn đề đặt ra, đồng thời xây dựng kế hoạch hành động nhằm giải quyết
vấn đề đó. Trong quá trình thực hiện giải pháp và kế hoạch giải quyết vấn đề,
HS diễn đạt, trao đổi với người khác trong nhóm về kết quả thu được, qua đó có
hiện có của nhà trường hoặc GV tự làm.
- Dạy học tích hợp liên môn có thể vận dụng được trong các điều kiện
khác nhau mà ít phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
3.2. Hiệu quả xã hội
- Việc kết hợp kiến thức các môn học vào để giải quyết một vấn đề nào
đó trong một môn học là việc làm cần thiết. Điều đó đòi hỏi người GV bộ môn
không chỉ nắm chắc môn mình dạy mà còn phải không ngừng trau dồi kiến thức
các môn học khác để tổ chức, hướng dẫn các em giải quyết các tình huống, các
vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
- Đặc biệt trong giáo dục, tích hợp kiến thức liên môn vào giải quyết các
vấn đề trong một môn học sẽ giúp HS hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề đặt ra
trong môn học đó.
- Dạy học tích hợp liên môn có thể vận dụng được trong các điều kiện
khác nhau mà ít phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
- Giúp cho việc dạy học đảm bảo tốt việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ
năng, thái độ.
- Tích hợp kiến thức liên môn vào bài giảng góp phần giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh, sẽ giúp HS phát huy khả năng suy nghĩ, tư duy, sáng tạo
trong học tập và ứng dụng vào thực tế đời sống.
- Cụ thể, đối với bài học này khi thực hiện sẽ giúp các em học sinh tự tìm
hiểu từ thực tế các yêu cầu của bài học như: hiểu được thế nào là hợp tác. Từ
nội dung kiến thức sẽ giúp các em vận dụng vào giải quyết các tình huống trong
thực tế cuộc sống để hòa nhập, hợp tác với mọi người xung quanh,…
- Trong thực tế tôi nhận thấy khi soạn bài có kết hợp các kiến thức của
các môn học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn những
vấn đề đặt ra. Từ đó tổ chức, hướng dẫn học sinh linh hoạt hơn, sinh động hơn.
Học sinh có hứng thú học tập, tìm tòi, khám phá nhiều kiến thức và được suy
nghĩ, sáng tạo nhiều hơn. Từ đó vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn.
Tỉ lệ: %
Xếp loại
11A
11B
11C
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Giỏi
25
69%
23
68%
9%
Yếu
0
0%
0
0%
0
0%
Kém
0
0%
0
0%
0
0%
Người nộp đơn
(Ký và ghi rõ họ tên)