NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VỀ THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT, ẾCH NHÁI TẠI KHU RỪNG THÁC TIÊN, ĐÈO GIÓ, HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VỀ THÀNH PHẦN LOÀI BÒ
SÁT, ẾCH NHÁI TẠI KHU RỪNG THÁC TIÊN, ĐÈO GIÓ, HUYỆN XÍN
MẦN, TỈNH HÀ GIANG

Ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 302

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS.Vũ Tiến Thịnh
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Tài Thọ
Khóa học

: 2011 – 2015

Hà Nội, 2015

1


MỤC LỤC

DANH LỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng

Tên bảng



29

2.4

Điều tra bò sát, ếch nhái theo tuyến

31

2.5

Ghi chép về tác động của con người

32

2.6

Bảng danh sách thành phần loài bò sát, ếch nhái ở Khu rừng
Thác Tiên, Đèo Gió.

34

2.7

Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh

34

2.8




4.5

Tổng hợp các chỉ số theo sinh cảnh

55

4.6

Bảng giá trị tài nguyên và mức độ đe dọa của bò sát, ếch nhái
trong khu vực

57

4.7

Tổng hợp các mối đe dọa trên tuyến điều tra

63

4.8

Tổng hợp các mối đe dọa đến bò sát, ếch nhái trong khu vực

65

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ
3.1


56

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Ảnh

Tên ảnh

4.1

Sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi đá

50

4.2

Sinh cảnh khe suối

51

4.3

Thác Tiên

51

4.4

Sinh cảnh nương rẫy khô


4.9

Săn bắt ếch nhái làm thịt

62

4.10

Khai thác gỗ

62

4.11

Chăn tha gia súc

63

4.12

Thu hái lâm sản ngoài gỗ

63

LỜI NÓI ĐẦU
Để tổng kết quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại Học Lâm Nghiệp,
với mong muốn bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu thực tế, theo nguyện
vọng của bản thân và được sự cho phép của Nhà trường, Khoa Quản lý Tài
nguyên rừng và Môi trường, Bộ môn Động vật rừng với sự hướng dẫn của thầy

hữu (Đỗ Quang Huy, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đồng Thanh Hải và Nguyễn Đắc
Mạnh, 2009).
Các loài bò sát, ếch nhái là thành phần quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên.
Chúng là một mắt xích trong mạng lưới thức ăn, có vai trò quan trọng trong việc
điều chỉnh cân bằng hệ sinh thái. Bên cạnh đó, bò sát và ếch nhái là nguồn thực
phẩm cho con người, là thiên địch của các loài côn trùng gây hại, và có thể còn
được sử dụng làm nguồn dược liệu.
5


Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau như quá trình khai thác sử dụng
rừng không hợp lý, sức ép dân số, sự hạn chế trong công tác quản lý, nạn săn bắn
vì mục đích thương mại… đã làm nguồn tài nguyên rừng ở nước ta bị suy giảm
nghiêm trọng cả về diện tích, số lượng và chất lượng. Nguồn tài nguyên bò sát,
ếch nhái của Việt Nam cũng không nằm ngoài thực tế này. Sách đỏ Việt Nam
2007 (Bộ Khoa học và công nghệ, 2007) đã thống kê có 39 loài bò sát và 12 loài
ếch nhái cần phải ưu tiên bảo tồn. Nhằm giảm thiểu sự suy giảm của tài nguyên
rừng và bảo vệ được các loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, Chính phủ
Việt Nam đã có nhiều biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên đa dạng sinh vật của
đất nước, chẳng hạn như xây dựng hệ thống bảo tồn nội vi, ngoại vi và các văn
bản luật, dưới luật nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên rừng bừa bãi.
Trong công tác bảo tồn nội vi, nước ta đã thiết lập một hệ thống gồm 164 khu rừng
đặc dụng với diện tích 2.198.744 ha (chiếm 7% diện tích tự nhiên cả nước) bao gồm
30 vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 11 khu bảo tồn loài, 45 khu bảo vệ cảnh
quan và 20 khu rừng thực nghiệm nghiên cứu khoa học (Báo cáo quốc gia về đa
dạng sinh học, 2011).
Khu rừng Thác Tiên, Đèo Gió thuộc địa phận thôn Ngan Lâm, xã Nấm Dẩn,
huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang cũng nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt
Nam. Đây là khu rừng nguyên sinh có tổng diện tích tự nhiên 3.947 ha, là nơi có
hệ động thực vật phong phú, trong đó có nhiều cây gỗ và nhiều loại động vật quý

Nghiên cứu khu hệ bò sát, ếch nhái ở Việt Nam đã được tiến hành từ cuối
thế kỷ XIX ở nhiều khu vực trên toàn lãnh thổ. Các quan điểm phân loại dựa trên
các đặc điểm hình thái bên ngoài, về đầu, mõm, chân, da, đuôi, màu sắc, cách
trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm, môi trường sống… như sống ở
dưới nước thường có đuôi hoặc chân có màng bơi (họ nhà Cóc), những loài sống
chui luồn thường không có chân (họ Ếch Giun), một số loài sống ở đất nhưng
không chui luồn thường chân dài (họ Ếch nhái, họ Cóc), các loài sống ở cây
thường có ngón chân rộng thành đĩa bám (họ Ếch Cây)… Theo các quan điểm
này, bò sát được chia thành 3 dạng dạng Thằn lằn và Cá sấu, dạng Rắn, dạng
Rùa; ếch nhái được chia thành 3 dạng chính: ếch nhái có đuôi, ếch nhái không
đuôi, ếch nhái không chân (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998).
Về quan điểm phân loại bò sát, ếch nhái thì cho đến nay chúng ta có nhiều
quan điểm phân loại khác nhau như quan điểm phân loại của Đào Văn Tiến
(1978, 1979, 1981, 1982) hay quan điểm phân loại của Nguyễn Văn Sáng, Hồ
Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (1996, 2005, 2009).
Khóa định loại Rùa và Cá sấu Việt Nam của Đào Văn Tiến (1978) đã sử
dụng các đặc điểm dễ nhận biết về hình thái như màu sắc, cách trang trí, hình
8


dạng các tấm sừng ở mai và yếm (đối với rùa) để phân loại và sắp xếp chúng
theo các đơn vị phân loại khác nhau. Theo đó, tác giả đã đưa ra khóa định loại
cho 32 loài Rùa và 2 loài Cá Sấu.
Khóa định loại về Thằn lằn Việt Nam của Đào Văn Tiến (1979) cũng sử
dụng các đặc điểm về hình dạng bên ngoài để phân loại chúng. Trong đó các đặc
điểm được chú ý phân loại như hình dạng và kích thước của đầu, các nốt sần,
vẩy. Hình dạng của thân, lưng và bụng phủ vẩy, nốt sần hoặc gai, số hàng vẩy
trên lưng. Đối với các chi thì có các chỉ tiêu như chiều dài chi, số ngón. Có màng
bơi hay không, các ngón có giác bám hay không… theo đó tác giả đã đưa ra
khóa định loại cho 77 loài thằn lằn.

2009

3
3

3

Họ
23
23

24

Ếch nhái
Loài
258
296

396

Bộ
3
3

3

Họ
9
9



Quốc, cũng lần đầu ghi nhận ở vùng núi cao thuộc tỉnh Lào Cai
(http://www.vncreatures.net/, 23h/02/05/2015).
Riêng năm 2013 được coi là năm khá thành công đối với các nhà nghiên
cứu động vật học của Việt Nam và Quốc tế với 15 loài bò sát và ếch nhái mới
cho khoa học được phát hiện ở nước ta (bảng 1.2).
Bảng 1.2: Các loài bò sát, ếch nhái mới được phát hiện trong năm 2013

TT

Tên Việt Nam

Tên khoa học

Địa điểm thu mẫu

1

Rắn khiếm cát tiên Oligodon
cattienensis

Vườn Quốc gia Cát Tiên

2

Rắn lục đầu bạc
kharin

Azemiops kharini



6

Thằn lằn chân
ngón phước bình

Cyrtodactylus
phuocbinhensis

Vườn Quốc gia Phước Bình
(Ninh Thuận) và huyện
K’Bang (Gia Lai)

7

Thằn lằn chân
ngón tây nguyên

Cyrtodactylus
taynguyenensis

Vườn Quốc gia Phước Bình
(Ninh Thuận) và huyện
K’Bang (Gia Lai)

8

Thằn lằn chân
ngón kingsada


Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang

12 Ếch cây xanh
helen

Rhacophorus helenae Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi
Ông (Bình Thuận) và Vườn
Quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai)

13 Cóc núi sterling

Oreolalax sterlingae

Gần đỉnh Fansipan, tỉnh Lào
Cai

14 Cóc núi botsford

Leptolalax botsfordi

Vườn Quốc gia Hoàng Liên

15 Ễnh ương đông
dương

Kaloula
indochinensis

Gia Lai và Đồng Nai


các loài động thực vật trên thế giới, được giám sát bởi Liên minh bảo tồn thiên
nhiên quốc tế. Các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài
bò sát, ếch nhái được chia thành các cấp đánh giá sau: Tuyệt chủng (EX), Tuyệt
chủng trong tự nhiên (EW), Cực kỳ nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN), Sắp nguy
cấp (VU), Sắp bị đe dọa (NT), Ít quan tâm (LC), Thiếu dữ liệu (DD). Theo tài

13


liệu này thì trong số các loài bò sát, ếch nhái ở nước ta có 31 loài đang bị đe dọa
tuyệt chủng nghiêm trọng ở các mức độ khác nhau (IUCN, 2015).
Nghị định 32/2006/NĐ-CP là nghị định đầu tiên về bảo vệ động vật hoang
dã của Việt Nam. Theo nghị định này, tình trạng bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái
được chia thành 2 nhóm sau: Nhóm IB, bao gồm các loài nguy cấp và cực kỳ
nguy cấp. Đối với các loài này, bất kỳ hình thức khai thác thương mại nào đều bị
nghiêm cấm, các công trình với mục tiêu nghiên cứu khoa học và bảo tồn yêu
cầu phải có giấy phép; Nhóm IIB, bao gồm các loài bị đe dọa và quý hiếm. Các
chương trình với mục đích nghiên cứu khoa học, bảo tồn và khai thác thương
mại các loài này yêu cầu phải có giấy phép. Trong số 396 loài bò sát và 176 ếch
nhái hiện biết ở Việt Nam, có 22 loài bò sát và 1 loài ếch nhái đang được chính
phủ nước ta bảo vệ (Nghị Định 32, 2006).
CITES là Công ước về buôn bán quốc tế những loài động thực vật hoang dã
nguy cấp. Đây là công cụ hữu hiệu, bao gồm các quy định về buôn bán quốc tế
các loài hoang dã, nhằm đảm bảo mục đích bảo tồn và sử dụng bền vững. Phụ
lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy
cấp (CITES) bao gồm: Phụ lục I là danh mục những loài động vật, thực vật
hoang dã bị đe doạ tuyệt chủng, nghiêm cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất
khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật từ tự nhiên vì mục đích thương mại;
Phụ lục II là danh mục những loài động vật, thực vật hoang dã hiện chưa bị đe
doạ tuyệt chủng, nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng, nếu việc xuất khẩu, nhập



α, β và γ cho chúng ta sự so sánh về mức độ đa dạng loài giữa các sinh cảnh khác
nhau. Việc xác định được dạng sinh cảnh có mức độ đa dạng loài cao trong khu
vực, giúp chúng ta có được hướng thiết lập ưu tiên bảo tồn cho các loài bò sát,
ếch nhái một cách hợp lý.
Ở cấp độ đa dạng hệ sinh thái, việc đánh giá mức độ đa dạng của các loài
động, thực vật nói chung thông qua các số liệu định lượng cơ bản có ý nghĩa to
lớn đối với công tác quản lý và bảo tồn loài. Đối với các loài bò sát, ếch nhái ở
Việt Nam, mức độ phong phú được làm rõ dựa trên quan điểm sử dụng các chỉ số
đa dạng sinh học: Simpson, Shannon Weaver và Độ đồng đều, và được đánh giá
trên các sinh cảnh khác nhau.
Tính đa dạng của các loài là một đặc điểm cấu trúc quan trọng của quần xã,
liên quan đến việc tăng tính ổn định của quần xã. Trong thực tế, Chỉ số Simpson
thường được sử dụng nhiều để xem xét tính đa dạng của quần xã khi ưu thế tập
trung vào một số ít loài. Còn Chỉ số Shannon thường được sử dụng để xác định
tính đa dạng từ một mẫu rút ngẫu nhiên của các loài trong quần xã.
Để đánh giá tính đa dạng của khu hệ bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên
cứu, cần đánh giá trên hai phương diện:
Thứ nhất, về phân loại học: Tính số loài trung bình cho một giống, một họ
và một bộ; tính số bộ có ít họ, số họ có ít giống và số giống có ít loài. Khu có
tính đa dạng phân loại cao khi họ có ít giống và giống có ít loài.
Thứ hai, về quan hệ địa lý: dựa theo các tài liệu đã nghiên cứu, tính toán tỷ
lệ các nhóm, nhận xét tính trội của từng nhóm (Đồng Thanh Hải, 2013).
16


Đánh giá mức độ phong phú của các loài bò sát, ếch nhái trong khu vực
điều tra sử dụng các chỉ số đa dạng sinh học (Simpson, Shanon – Waver, và Chỉ
số hợp lý). Công thức của các chỉ số đa dạng được tính như sau:

Năm 1961 đoàn điều tra động vật khoa sinh trường đại học Tổng Hợp Hà
Nội đã tiến hành nghiên cứu ở Ba Bể. Kết quả thu được 36 tiêu bản bò sát, ếch
nhái trong đó có 7 loài có ý nghĩa lớn về kinh tế dân sinh.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác như:
Năm 1960 đoàn thực tập thiên nhiên của trường Đại Học Sư Phạm II đã tiến
hành nghiên cứu ở Đồng Vàng (Thanh Sơn, Phú Thọ). Kết quả đã thống kê được
7 loài thằn lằn, 6 loài rắn. Cũng năm 1960 ở Vĩnh Mốc (Vĩnh Linh, Quảng Trị)
đã nghiên cứu và thống kê dược 3 loài rắn và 2 loài thằn lằn.
Năm 1961 đoàn nghiên cứu động vật khoa sinh vật trường Đại Học Tổng
Hợp Hà Nội đã tham gia nghiên cứu ở Hữu Lũng (Lạng Sơn). Kết quả thu được
325 mẫu Ếch nhái, 19 mẫu Bò sát. Năm 1962 đoàn lại tiến hành điều tra tại vùng
núi Ba Vì (Hà Tây cũ) đã thống kê được 8 loài ếch nhái, 14 loài bò sát.
Trong những năm 1970, 1971, 1972 đoàn thực tập thiên nhiên khoa sinh vật
trường Đại Học Sư Phạm II – Hà Nội kết họp với trường Cấp II – Tam Đảo đã
tiến hành nghiên cứu ở Tam Đảo và thống kê được 19 loài rắn, 3 loài thằn lằn, 4
loài rùa, 5 loài ếch nhái.
18


Về sinh thái học của bò sát, ếch nhái có các công trình nghiên cứu: Cá Cóc
Tam Đảo (Paramesotriton delustal), Thạch Sùng (Hemidactylus vietnamensis)
của Đào Văn Tiến, Ếch Đồng (Rana rugulosa) của Đào Văn Tiến Và Lê Vũ
Khôi, Ếch Cây Chân Đen (Rhacophorus nigropalmatus), rắn Hổ Mang (Naja
naja) của Trần Kiên. Sinh học Tắc Kè (Gekkogecko) trong điều kiện nuôi nhốt
của Đỗ Tất Lợi và sinh thái học tắc kè trong điều kiện nuôi nhốt và ngoài thiên
nhiên của Nguyễn Văn Sáng.
Nhìn chung công tác nghiên cứu Bò sát, Ếch nhái từ năm 1954 đến nay càng
được quan tâm. Những năm gần đây, từ nghiên cứu khu hệ đã chuyển dần sang
nghiên cứu sinh thái, sinh học một số loài có giá trị kinh tế. Tuy nhiên nghiên
cứu về mối quan hệ giữa thảm thực vật, các yếu tố địa hình với tính đa dạng loài

cập tới trong Sách Đỏ Việt Nam 2007.
1.5. Lược sử nghiên cứu hệ động vật nói chung và các loài Bò sát, Ếch nhái
nói riêng ở Khu rừng Thác Tiên, Đèo Gió
Thác Tiên, Đèo Gió nằm trong khu vực rừng già nguyên sinh Đèo Gió, có
diện tích 3.947 ha. Khu rừng có hệ động, thực vật phong phú và đa dạng với
nhiều loài động vật quý hiếm như: Hổ, Báo, Gấu, Hươu, Nai, Hoẵng, Sơn
Dương, Sóc Bay, Lợn rừng, Cày hương, Gà rừng… và các loài chim quý như
Họa Mi, Quạ, Chào Mào, Cắt, Én đỏ, Én xanh, Én vàng...
(http://xinman.hagiang.gov.vn/truy cập 19h/20/04/2015).

20


Theo nghiên cứu của Nguyễn Quảng Trường, Lê Nguyên Ngật và Raoul
Bain (2006), qua các chuyến khảo sát trên các vùng núi Đá Đin, thuộc xã Nà
Chì, huyện Xín Mần; vùng núi Tây Côn Lĩnh, thuộc xã Cao Bồ, Huyện Vị
Xuyên; vùng núi Mường Chà, thuộc xã Du Già, huyện Yên Minh, các tác giả đã
ghi nhận ở tỉnh Hà Giang có 67 loài gồm 35 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 2 bộ và 32
loài bò sát thuộc 10 họ, 2 bộ. Nghiên cứu này được tiến hành trên các dạng sinh
cảnh: sinh cảnh rừng nguyên sinh trên các đỉnh núi đá và núi đất, sinh cảnh rừng
thứ sinh đang phục hồi và sinh cảnh nương rẫy. Phương pháp nghiên cứu được
các tác giả sử dụng là phương pháp điều tra theo các tuyến và phương pháp
phỏng vấn người dân địa phương. Đây là một nghiên cứu khá quy mô, được thực
hiện trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, và được tiến hành trên nhiều
khu vực khác nhau. Qua quá trình nghiên cứu, các tác giả đã thu thập được 380
mẫu ếch nhái và bò sát, đồng thời ghi nhận được 15 loài bò sát, ếch nhái quý
hiếm, trong đó có 6 loài được ghi trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP, 9 loài được
ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2004, 8 loài được ghi trong Danh lục Đỏ của IUCN
(2004). Đặc biệt, tại khu vực núi Đá Đin, xã Nà Chì, huyện Xín Mần các tác giả
đã ghi nhận được một loài rất hiếm gặp như Cá cóc bụng hoa (Paramesotriton

Tiên Đèo Gió.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được tính đa dạng của khu hệ bò sát, ếch nhái tại Khu rừng Thác
Tiên, Đèo Gió.
Xác định giá trị bảo tồn và các tác động tiêu cực của người dân địa phương
đến khu hệ bò sát, ếch nhái tại Khu rừng Thác Tiên, Đèo Gió.
Đề xuất các giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái trong
khu vực nghiên cứu.
2.2. Phạm vi, đối tượng, thời gian nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài bò sát, ếch nhái trong Khu rừng Thác Tiên-Đèo Gió.
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu:
Được thực hiện tại Khu rừng Thác Tiên Đèo Gió, xã Nấm Dẩn, huyện Xín
Mần, tỉnh Hà Giang.
Thời gian nghiên cứu:
Trong 3 tháng (từ ngày 07 tháng 2 năm 2015 đến ngày 10 tháng 5 năm
2015).
2.3. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài bò sát, ếch nhái trong Khu rừng Thác Tiên-Đèo
Gió.
23


Xác định các loài bò sát, ếch nhái quý hiếm trong Khu rừng Thác Tiên-Đèo
Gió.
Xác định các mối đe dọa đến các loài bò sát, ếch nhái trong khu vực.
Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái trong khu vực.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Chuẩn bị và điều tra sơ thám khu vực nghiên cứu

hỏi nên có các gợi ý để người được phỏng vấn nêu ra được tên địa phương, mô tả
đặc điểm ngoài, sinh hoạt kiếm ăn, ngủ, thức ăn, mùa sinh sản.... Bước cuối cùng
cuối cùng trong quá trình phỏng vấn là sử dụng các ảnh màu trong các tài liệu để
đối tượng phỏng vấn nhận diện loài. Trong quá trình phỏng vấn luôn khuyến
khích người dân cho xem những mẫu vật mà họ còn lưu giữ nếu có có như mai,
yếm hay các bình rượu ngâm, xấy khô hoặc nuôi nhốt lại sau khi đã bẫy bắt, đây
là các thông tin quan trọng để ghi nhận sự có mặt của loài trong khu vực nghiên
cứu.
Các thông tin cần thu thập được thống kê như trong bộ câu hỏi phỏng vấn
được trình bày trong phụ lục 02. Danh sách những người tham gia phỏng vấn
được trình bày trong phụ lục 03, bảng tổng hợp kết quả phỏng vấn được trình
bày trong phụ lục 04.
Kết quả phỏng vấn được tổng hợp và ghi trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Biểu điều tra Bò sát, ếch nhái qua phỏng vấn
Tên: ………………………… tuổi: ………………………………..
Dân tộc: …………………… ngày phỏng vấn: ……………………
Địa chỉ: ……………………. Người phỏng vấn: ………………….
TT

Tên địa
phương

Tên phổ
thông

Thời gian
gặp
25

Địa điểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status