Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước thuộc đai cao dưới 200m tại suối thác bạc, vườn quốc gia tam đảo, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 56

TRƯƠNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HA NỘI 2
KHOA SINH – KTNN

======

NGUYỄN PHƯƠNG THÙY

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN TRUNG NƯỚC
THUỘC ĐAI CAO DƯỚI 200M TẠI SUỐI THÁC BẠC
VƯƠN QUỐC GIA TAM ĐAO, TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học

TS. NGUYỄN VĂN HIẾU

HA NỘI, 2018


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

VQG: Vườn quốc gia


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại khu vực
nghiên
cứu.....................................................................................................................21
Bảng 3.2. Thành phần loài côn trùng nước thu được ở các điểm nghiên
cứu.......................... 23

NỘI DUNG ........................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
1.1. Giới thiệu tổng quan vê đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu ............................... 3
1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới ....................................... 3
1.3. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam ........................................ 9
1.4. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước tại vườn Quốc gia Tam Đảo ............. 12
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN ....................................... 14
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................................................. 14
2.1. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................... 14
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu ..................................................................... 14
2.2.1. Thời gian nghiên cứu .................................................................................. 14
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu ................................................................................... 14
2.3. Nội dung nghiên cứu ...................................................................................... 15
2.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 15
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên .................................................... 15
2.4.2. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm................................. 16
2.4.3. Một số chỉ số Đa dạng sinh học .................................................................. 16
2.4.4. Xử ly số liệu ................................................................................................ 18
2.5. Một số đặc điểm tự nhiên của Vườn quốc gia Tam Đảo ............................... 18
2.5.1. Vị trí địa ly .................................................................................................. 18
2.5.2. Địa hình ....................................................................................................... 18
2.5.3. Thổ nhưỡng ................................................................................................. 18


2.5.4. Khí hậu ........................................................................................................ 19
2.5.5. Diện tích, kiểu rừng..................................................................................... 19
2.5.6. Hệ động vật và thực vật............................................................................... 19
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.............................. 21
3.1. Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu .............................. 21
3.1.1. Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) .................................................. 27

Thầy giáo Khuất Văn Quyết - Trưởng phòng thí nghiệm Thực vật học và các cán bộ
giảng dạy tổ Thực vật - Vi sinh đã tạo điêu kiện cho tôi sử dụng một số thiết bị tại
phòng thí nghiệm Thực vật học góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luận đúng thời gian.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Phương Thùy


LƠI CAM ĐOAN

Tôi xin khẳng định kết quả khóa luận “Nghiên cứu đa dạng sinh học Côn trùng
nước thuộc đai cao dưới 200m tại suối Thác Bạc, vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh
Vĩnh Phúc” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS.
Nguyễn Văn Hiếu, giảng viên Khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2. Đê tài này chưa từng công bố ở đâu và hoàn toàn không trùng với công
trình nghiên cứu của các tác giả khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm vê nghiên cứu của mình.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Phương Thùy


MỞ ĐẦU
1. Ly do chọn đê tài

3. Ý nghĩa khoa học và y nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đê tài sẽ cung cấp những dẫn liệu đa dạng sinh học vê loài côn trùng nước tại
đai cao dưới 200m thuộc địa phận suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đê tài sẽ góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu vê côn trùng nước sau này tại suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh
Phúc.

2


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TAI LIỆU
1.1. Giới thiệu tổng quan vê đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu
Côn trùng nước là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức
ăn: vừa là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 vừa là nguồn thức ăn của của cá và
nhiêu loài động vật có xương sống khác.
Khác với nhóm côn trùng trên cạn, các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả
trong môi trường nước và trong môi trường cạn.
1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới
Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt
ở những nước phát triển. Đã có rất nhiêu công trình nghiên cứu liên quan đến từng bộ
của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu vê phân loại học (Eaton, 1871, 1883 1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973, 1975; Kawai, 1961, 1963), sinh thái
học (Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972; McCafferty, 1991) đến những nghiên
cứu vê ứng dụng (Morse, 1984) [16]. Đặc biệt đã có nhiêu nghiên cứu vê các nhóm
côn trùng nước gắn bó chặt chẽ với đời sống con người mà đa phần là tác nhân gây
bệnh hoặc tác nhân truyền bệnh cho người và động vật như: ruồi, muỗi,… Điển hình
là các nghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984; Merritt
và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 [16].

của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758). Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở
châu Âu và xếp chúng vào một nhóm là Ephemera [19].
Nghiên cứu vê Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình là
các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920,
1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự (1935) [5].
Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42 họ và
hơn 400 giống của bộ Phù du. Các nghiên cứu vê Phù du, đặc biệt là phân loại học
vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiêu loài chưa được mô tả, nhất là ở các khu vực nhiệt
đới [11].
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên vê Phù du được thực hiện
bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage (1921,
1924) [21].
Gần đây, các công trình nghiên cứu đê cập đến khả năng sử dụng Phù du là
sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiêu loài thuộc bộ Phù du rất nhạy
4


cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa và Soldan
(1991), Bufagni (1997) [21].
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùng sống
trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành. Vòng đời của chúng trải qua 3 giai đoạn:
trứng, thiếu trùng, con trưởng thành. Thiếu trùng thường sống trong nước, chủ yếu ở
vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn. Bộ Chuồn
chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộ Zygoptera
(Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô). Phân bộ
Anisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố
ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao
Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983). Hai phân bộ còn lại
phân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng

Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú. Những nghiên
cứu vê hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956,
1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [15].
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911,
1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932), đặc biệt là
Ulmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951, 1955, 1957). Ông đã cung
cấp những thông tin cơ bản vê Cánh lông ở khu vực nghiên cứu này. Cánh lông ở
Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955). Ở Philippin,
Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này. Tiếp
đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng. Trong khi đó các
hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành. Đặc biệt trong giai đoạn
gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâm như:
Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol (1986,
1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 - 1998, 2002-2004), Malicky và
Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000), Mey (1989, 1990, 1995 - 1999,
2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994), Ismail (1993, 1996),
Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong (2003) [15]. Ismail (1993,
1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng Cánh lông tại một số nước ở
khu vực Đông Nam Á [17].

6


Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lông
cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka được
nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang, 1963),
Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987). Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu
đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này
được nhiêu nhà khoa học quan tâm tìm hiểu. Do đó, các công trình liên quan đến giai
đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) [15]. Ở

[17].
* Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu vê bộ Hai cánh đã được rất nhiêu các nhà khoa học công bố,
đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich &
Hortle (1989). Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã
tổng hợp một danh lục khá đầy đủ vê thành phần loài của bộ Hai cánh ở miên Ấn Độ
- Mã Lai. Khóa định loại tới họ và g iống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa định
loại được xây dựng bởi Harris (1990) [17].
* Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửa
sống ở nước (Dudgeon, 1999). Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưu
thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ở khu
vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [18].
Các công trình nghiên cứu vê bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớm
bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972, 1973)
[17]. Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae được
nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới châu Á
đã được nhiêu tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991, 1992), Sites
và cộng sự (1997) [18]. Merritt & Cummins (1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây
dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc Mỹ và
Trung Quốc [16] [17].
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha và
Leptopodomorpha. Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sống
trên bê mặt của nước. Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới có
khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen và cộng sự, 2005). Theo
Bendell (1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xem
như những sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước [27].
8



9


cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo vê bộ Phù du ở
nước ta [20].
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu vê Phù du ở Vườn Quốc gia Ba Vì,
Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ. Trong đó có một loài ghi nhận
lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858) [8]. Trong khoảng thời
gian này, tác giả cũng tiến hành điêu tra thành phần loài Phù du ở một số Vườn Quốc
gia khác ở Việt Nam [9] [10].
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Nghiên cứu vê khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn và
chưa thành hệ thống. Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trưởng thành.
Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm đầu thập
niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp:
Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điêu tra khu hệ động vật Đông
Dương. Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae
và Agrionidae. Trong 139 loài, Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là
Merogomphus [1].
Nguyễn Xuân Quynh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại các
nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng
khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [4].
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu vê bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu
trong thơi gian gần đây. Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick
(1988), Stark và cộng sự (1999) [13], nhưng tất cả các mẫu vật đêu ở giai đoạn
trưởng thành. Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số
loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điêu tra vê
sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam. Thêm vào
đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng

* Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh
vảy và bộ Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu vê bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh
(Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn.
Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng với các
công trình nghiên cứu vê khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh
(2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [19]; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn
Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã [14], Nguyễn
Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống
nước ngọt thường gặp ở Việt Nam [4].
Những nghiên cứu đầu tiên vê khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầu vào
những năm đầu của thế kỷ XX. Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae (Hemiptera) được
mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903 thuộc Bắc Việt Nam. Tiếp
theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được mô tả bởi Andersen (1975, 1980,

11


1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999),
Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993) [30].
Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của các
loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam. Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu vê bộ
Cánh nửa ở nước ta [30].
1.4. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước tại vườn Quốc gia Tam Đảo
VQG Tam Đảo có hệ thống suối phong phú, là điêu kiện thuận lợi cho côn
trùng nước phát triển. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã có nhiêu công trình
nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở đây với nhiêu hường nghiên cứu khác nhau.
Cao Thị Kim Thu (2002), đã phân loại được 4 họ: Leuctridae, Nemouridae,
Peltoperlidae và Perlidae thuộc bộ Cánh úp Vườn quốc gia Tam Đảo. Tác giả đã xây
dựng khóa định loại và mô tả một số đặc điểm của loài thu được [2].


Lamelligomphus

formosanus (Matsumura in Oguma, 1926); Leptogomphus tamdaoensis (Karube,
2014) [30].

13


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THƠI GIAN
VA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng côn trùng nước thuộc đai cao dưới 200m tại suối Thác
Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
Được thực hiện từ tháng 03/2016 đến tháng 05/2018. Mẫu vật sử dụng trong
nghiên cứu được thu vào tháng 11/2016. Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được
bảo quản và lưu trữ tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông
nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Tiến hành thu mẫu tại 5 điểm nghiên cứu thuộc đai cao dưới 200m tại khu vực
suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh. Các điểm nghiên cứu được đánh số thứ tự
từ T1 đến T5 theo độ cao giảm dần so với mực nước biển.
Trước khi tiến hành thu mẫu, tôi ghi lại một số đặc điểm sinh cảnh chính của
các điểm thu mẫu:
Điểm 1 (ky hiệu T1) Đô cao 194m.
Tọa đô N: 2126,220’ E:
10537,649’
Dọc 2 bên bờ suối có nhiêu cây bụi nhỏ và trung bình. Nước suối tương đối

cứu.
- Sự phân bố của côn trùng nước theo tính chất dòng nước chảy.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Thu mẫu theo phương pháp của Nguyễn Xuân Quynh, 2004 [5]. Quá trình thu
mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand net). Thu mẫu định
lượng bằng cách sử dụng lưới Surber (50cm x 50cm, kích thước mắt lưới 0,2mm).
Tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân đạp phía
trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước). Ở nơi có nhiêu bụi cây dùng vợt
tay để thu mẫu. Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước được thì nhấc đá
và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu. Thu mẫu định tính
được thực hiện ở cả nơi nước chảy và nước đứng. Ở nhiêu nơi có cây bụi thủy sinh
dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ
hoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay.
15


Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 2 mẫu: 1 mẫu ở nơi nước
đứng và 1 mẫu ở nơi nước chảy. Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất.
Do các cá thể côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và
nhặt qua mẫu ngay tại thực địa. Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 80 0,
ghi etiket đầy đủ và đem vê lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại Phòng thí
nghiệm Động vật, Khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2.
2.4.2. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay. Dùng panh nhặt các
đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong đó, mẫu sau khi nhặt cho
vào lọ và bảo quản trong cồn 800.
Phương pháp phân tích:
+ Dụng cụ phân tích gồm: kính soi nổi, đĩa petri, kim nhọn, panh.

Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là
số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài. Do vậy, số
lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loài càng
ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài được xác định thông qua hàm
số Shannon - Weiner.
Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét vê mức độ đa dạng theo các cấp sau đây
[2]:
- Nếu chỉ số đa dạng > 3: ĐDSH tốt và rất tốt
- Nếu chỉ số đa dạng từ 1 - 3: ĐDSH khá
- Nếu chỉ số đa dạng < 1: ĐDSH kém và rất kém.
Chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen) được chúng tôi sử dụng để
đánh giá mức độ giống nhau vê thành phần loài của các điểm nghiên cứu. Chỉ số này
được tính theo công thức:

K

2c
a
b

Trong đó: a: số loài trong điểm thu mẫu thứ nhất
b: số loài trong điểm thu mẫu thứ hai
c: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu
K nhận giá trị từ 0 đến 1. Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau vê thành
phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn. Các giá trị của K tương ứng với mức
tương đồng như sau [2]:
0,00 - 0,20: gần nhau rất ít
0,21 - 0,40: gần nhau ít
0,41 - 0,60: gần nhau
0,61 - 0,80: gần nhau nhiêu

VQG Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo. Đây là dãy
núi có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam
Đảo Nord 1.592m. Địa hình ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia
cắt sâu, dày bởi nhiêu dông phụ gần như vuông góc với dòng chính [31].
2.5.3. Thổ nhưỡng
Điêu tra, nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy VQG Tam Đảo có bốn loại
đất chính gồm đất Feralit mùn vàng phát triển trên đá macma axít, xuất hiện ở độ cao
từ 700 m trở lên, có diện tích 8.968 ha; đất feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status