BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
BẠCH VĂN DƢƠNG
MÃ SINH VIÊN: 1201091
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ
VÀ THỰC HIỆN THUỐC ĐIỀU TRỊ
UNG THƢ TẠI MỘT BỆNH VIỆN
CHUYÊN KHOA UNG BƢỚU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI – 2017
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
BẠCH VĂN DƢƠNG
MÃ SINH VIÊN: 1201091
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ
VÀ THỰC HIỆN THUỐC ĐIỀU TRỊ
UNG THƢ TẠI MỘT BỆNH VIỆN
CHUYÊN KHOA UNG BƢỚU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. ThS. Cao Thị Bích Thảo
2. ThS. Trần Thị Thúy
Nơi thực hiện:
Bạch Văn Dƣơng
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU – CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN ...................................................................................... 3
1.1. Một số khái niệm liên quan tới thuốc điều trị ung thƣ .................................... 3
1.2. Tổng quan về sai sót liên quan đến thuốc điều trị ung thƣ ............................. 4
1.2.1. Giới thiệu về sai sót liên quan đến thuốc ........................................................... 4
1.2.2. Sai sót liên quan đến giai đoạn chuẩn bị và thực hiện thuốc ............................. 6
1.3. Kỹ thuật xác định sai sót liên quan đến chuẩn bị và thực hiện thuốc ............ 9
1.4. Nguy cơ phơi nhiễm với thuốc độc hại ............................................................. 10
1.4.1. Phơi nhiễm nghề nghiệp với thuốc độc hại ....................................................... 11
1.4.2. Ảnh hưởng của phơi nhiễm với thuốc độc hại .................................................. 12
1.5. Các biện pháp thực hành an toàn trong quy trình chuẩn bị và thực hiện
thuốc điều trị ung thƣ ............................................................................................... 13
1.5.1. Biện pháp phòng tránh phơi nhiễm với thuốc độc hại ...................................... 13
1.5.2. Kỹ thuật vô khuẩn ............................................................................................. 16
1.5.3. Tiêu chuẩn thực hành trong quy trình chuẩn bị và thực hiện thuốc điều trị ung
thư................................................................................................................................ 18
1.6. Hoạt động chuẩn bị và thực hiện thuốc điều trị ung thƣ tại một bệnh viện
chuyên khoa Ung Bƣớu ............................................................................................ 18
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 21
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu......................................................................................... 21
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................... 21
2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu ............................................................................................ 23
4.2.2. Bàn luận về sai lệch trong giai đoạn thực hiện thuốc ....................................... 48
4.2.3. Bàn luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ sai lệch trong quy trình chuẩn bị
và thực hiện thuốc của điều dưỡng ............................................................................. 53
4.3. Bàn luận về vấn đề thực hiện các kỹ thuật vô khuẩn và các biện pháp bảo
hộ lao động ................................................................................................................. 57
4.3.1. Bàn luận về vấn đề thực hiện các kỹ thuật vô khuẩn ........................................ 57
4.3.2. Bàn luận về vấn đề thực hiện các biện pháp bảo hộ lao động .......................... 59
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ............................................................... 62
5.1. Kết luận ............................................................................................................... 62
Kết luận về đặc điểm sai lệch trong quy trình chuẩn bị và thực hiện thuốc điều trị
ung thư của điều dưỡng ............................................................................................... 62
Kết luận về đặc điểm thực hiện các kỹ thuật vô khuẩn và các biện pháp bảo hộ lao
động trong quy trình chuẩn bị và thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng ... 63
5.2. Đề xuất................................................................................................................. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Tiêu chuẩn thực hành trong giai đoạn chuẩn bị thuốc điều trị ung thư dựa
trên tiêu chuẩn của Hội ung thư dược Canada (CAPhO)
Phụ lục 2. Tiêu chuẩn thực hành trong giai đoạn thực hiện thuốc điều trị ung thư
dựa trên tiêu chuẩn của Hội dược sĩ Mỹ (ASHP)
Phụ lục 3. Một số khuyến cáo về thực hiện các kỹ thuật vô khuẩn trong thực hành
tiêm truyền
Phụ lục 4. Các thao tác của nhân viên y tế có thể dẫn đến phơi nhiễm với thuốc độc
hại
Phụ lục 5. Các khuyến cáo cần thực hiện trong quy trình cung cấp thuốc độc hại
nhằm hạn chế phơi nhiễm
Phụ lục 6. Phân loại sai lệch trong quy trình chuẩn bị và thực hiện thuốc
Phụ lục 7. Bảng khuyến cáo cách sử dụng thuốc điều trị ung thư
CAPhO
Hội Ung thư Dược Canada (Canada Association of Pharmacy in
Oncology)
CI
IARC
Khoảng tin cậy (Confidence Inteval)
Hội nghiên cứu ung thư quốc tế (International Agency for research on
cancer)
ICD10
Phân loại bệnh tật quốc tế (International Classification of Diseases)
ISMP
Viện thực hành an toàn thuốc Hoa Kỳ (Institute for Safe Medication
Practices)
ISOPP
Hiệp hội quốc tế của Uỷ ban tiêu chuẩn Dược học Ung thư
(International Society of Oncology Pharmacy Practitioners Standards
Committe)
ME
Sai sót liên quan đến thuốc (Medication errors)
3.1
Tên bảng
Tỉ lệ quan sát có sai lệch trong quy trình chuẩn bị và thực
Trang
28
hiện thuốc
2
3.2
Phân loại QS theo số lượng sai lệch
29
3
3.3
Tỉ lệ từng loại sai lệch trong chuẩn bị và thực hiện thuốc
30
4
3.4
8
3.8
Tỉ lệ không thực hiện các kỹ thuật vô khuẩn trong quy trình
40
chuẩn bị và thực hiện thuốc
9
3.9
Tỉ lệ thực hiện các biện pháp bảo hộ lao động trong quy
41
trình chuẩn bị và thực hiện thuốc
10
4.1
So sánh tỉ lệ từng loại sai lệch trong giai đoạn chuẩn bị
45
thuốc giữa các nghiên cứu
11
4.2
nhóm thuốc
54
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên
toàn thế giới. Theo thống kê của Hội nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), ước tính
mỗi năm có khoảng 14 triệu ca mới mắc, số người tử vong trong 5 năm khoảng 8,2
triệu bệnh nhân. Cũng theo tổ chức này, năm 2012 Việt Nam có khoảng 125 nghìn
ca ung thư mới mắc với số người tử vong trong 5 năm khoảng 94 nghìn người [42].
Để điều trị ung thư có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó hóa trị liệu
là một trong những phương pháp thường được sử dụng.
Việc sử dụng hóa trị liệu rất phức tạp do thuốc điều trị ung thư là thuốc có
chỉ số điều trị hẹp, độc tính cao dù ở liều điều trị và bệnh nhân ung thư là nhóm
bệnh nhân dễ xuất hiện các phản ứng có hại do họ có khả năng chịu đựng kém [59].
Mục tiêu của điều trị bằng thuốc là cải thiện chất lượng cuộc sống đồng thời giảm
thiểu các nguy cơ cho bệnh nhân. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng thuốc không
thể tránh khỏi xảy ra các sai sót. Những hậu quả của sai sót liên quan đến thuốc là
kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị và gây ra hậu quả nghiêm trọng cho
bệnh nhân, thậm chí dẫn tới tử vong [9]. Trong một nghiên cứu, sai sót trong sử
dụng thuốc điều trị ung thư là nguyên nhân phổ biến thứ hai trong các sai sót liên
quan đến thuốc có thể dẫn tới tử vong (chiếm 15,4% số trường hợp tử vong do sai
sót liên quan đến thuốc) [66].
Việc cung cấp thuốc điều trị cho bệnh nhân là một quá trình phức tạp. Sai sót
có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào và giai đoạn nào trong thực hành lâm sàng, từ
giai đoạn kê đơn của bác sĩ, cấp phát của dược sĩ đến giai đoạn chuẩn bị và thực
hiện thuốc của điều dưỡng [61]. Trong đó, chuẩn bị và thực hiện thuốc là công việc
có nguy cơ sai sót cao nhất trong công việc thực hành của điều dưỡng [44].
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về sai sót trong giai đoạn chuẩn bị và
2
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm liên quan tới thuốc điều trị ung thƣ
Thuốc điều trị ung thư là khái niệm đề cập đến nhiều loại thuốc được sử
dụng trong điều trị bệnh ác tính như thuốc gây độc tế bào, thuốc độc hại, điều trị
miễn dịch, điều trị nhắm mục tiêu đích, điều trị nội tiết [21].
Trong các nghiên cứu về sai sót liên quan đến thuốc điều trị ung thư thường
đề cập tới khái niệm thuốc gây độc tế bào, hóa trị liệu; nhưng trong các nghiên cứu
về an toàn của nhân viên y tế khi thao tác với thuốc điều trị ung thư thường dùng
khái niệm thuốc độc hại. Để hiểu rõ hơn về các khái niệm liên quan tới thuốc điều
trị ung thư, chúng tôi xin trình bày hai khái niệm phổ biến nhất trong những nghiên
cứu này trên thế giới là thuốc gây độc tế bào (cytotoxic drugs) và thuốc độc hại
(hazardous drugs).
Thuốc gây độc tế bào (cytotoxic drugs)
Thuốc gây độc tế bào (hóa trị liệu, thuốc điều trị ung thư) được sử dụng
trong lâm sàng để điều trị bệnh ung thư và một số bệnh khác. Thuốc gây độc tế bào
là các hoạt chất tác động đến sự lớn lên và sinh sôi của tế bào, hầu hết trong số đó
hoặc liên quan trực tiếp đến vật liệu di truyền trong nhân tế bào hoặc ảnh hưởng đến
sự tổng hợp protein của tế bào. Thông thường, tác động của thuốc gây độc tế bào
không phân biệt lên tế bào bình thường hay tế bào ung thư [9], [26].
Thuốc gây độc tế bào thường được dùng cho bệnh nhân suy giảm miễn dịch
và do hầu hết các loại thuốc này đều ức chế tủy, việc này có thể đặt bệnh nhân vào
nguy cơ phát triển nhiễm khuẩn nặng. Do đó, khi chuẩn bị thuốc gây độc tế bào
đường tiêm, kỹ thuật vô khuẩn phải thực hiện tốt để ngăn ngừa nhiễm khuẩn. Ngoài
ra, do hầu hết các hoạt chất đều có chỉ số điều trị hẹp, độ chính xác của quá trình
chuẩn bị thuốc phải được đảm bảo [26].
Thuốc độc hại (hazardous drugs)
kiểm soát bởi bệnh nhân, nhân viên y tế hoặc người sử dụng. Các biến cố như vậy
có thể liên quan đến quy trình thực hành chuyên môn và hệ thống chăm sóc sức
khỏe, bao gồm: kê đơn, quá trình chuyển giao đơn thuốc; ghi nhãn, đóng gói và
danh pháp; pha chế, cấp phát, phân phối; quản lý, giáo dục; giám sát và sử dụng
trên người bệnh‖ [61].
4
Một báo cáo của viện Y học Mỹ (Institue of Medicine) ước tính rằng khoảng
từ 44000 đến 98000 ca bệnh tử vong mỗi năm do sai sót y khoa, nhiều hơn do tai
nạn giao thông, do ung thư vú hay do bệnh AIDS. Tính riêng sai sót liên quan đến
thuốc xảy ra ở trong hoặc khi xuất viện, ước tính trên 7000 người tử vong mỗi năm.
Sai sót do thuốc thường xuyên xảy ra tại các bệnh viện và mặc dù không phải tất cả
đều gây thiệt hại cho bệnh nhân nhưng chi phí rất tốn kém [48]. Riêng đối với sai
sót về thuốc liên quan đến hóa trị liệu, một nghiên cứu đã ước tính rằng nếu các lỗi
bị ngăn chặn không được phát hiện ra, sẽ dẫn tới hậu quả là tổng chi phí ước tính
trong 12 tháng là 92907 euro, bao gồm 74% cho chi phí nằm viện và 26% cho chi
phí các thuốc bổ sung [68].
Nguyên nhân của sai sót liên quan đến thuốc được viện thực hành an toàn
thuốc Hoa Kỳ (ISMP - Institute for Safe Medication Practices) tổng kết dựa trên các
yếu tố hệ thống ảnh hưởng đến việc dùng thuốc, bao gồm thiếu thông tin về tình
trạng sức khỏe bệnh nhân; thiếu thông tin về thuốc; ghi nhãn thuốc không rõ ràng,
thiếu nhãn thuốc hoặc nhãn thuốc và bao bì nhìn giống nhau, tên thuốc không rõ
ràng, nhìn giống nhau hoặc nghe giống nhau; nhân viên y tế không được đào tạo
đầy đủ, năng lực và kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm kém; môi trường và điều kiện
làm việc không tốt (không gian chật hẹp, thiếu ánh sáng, nhiệt độ cao, không đủ
điều kiện bảo quản, công việc quá tải) [25].
Sai sót liên quan đến thuốc đối với thuốc điều trị ung thư có thể trở nên đặc
biệt nghiêm trọng do rất nhiều thuốc có chỉ số điều trị hẹp, độc tính cao dù ở liều
của bác sĩ, hướng dẫn của bệnh viện và nhà sản xuất [28], [36], [75].
Thực hiện thuốc là giai đoạn có nguy cơ sai sót cao nhất trong công việc thực
hành của điều dưỡng. Thực hiện 5 đúng (đưa đúng liều của đúng thuốc cho đúng
bệnh nhân vào đúng thời điểm bằng đường dùng đúng) là nền tảng để giảm thiểu sai
sót [44].
Về phân loại sai lệch trong chuẩn bị và thực hiện thuốc, các nghiên cứu đều
phân loại như sau: sai lệch trong chuẩn bị bao gồm sai thuốc, sai do bỏ lỡ thuốc, sai
liều do lỗi chuẩn bị, sai liều, sai do thêm liều, sai dạng bào chế, thuốc có nguy cơ bị
hỏng, sai kỹ thuật chuẩn bị, lỗi sai chuẩn bị khác và sai sót trong thực hiện thuốc
bao gồm sai do bỏ lỡ thuốc, sai thời điểm thực hiện thuốc, sai kỹ thuật thực hiện
6
thuốc, sai tốc độ thực hiện thuốc, sai đường dùng và lỗi sai thực hiện khác [9], [15],
[29], [36], [62], [81].
Trong nghiên cứu phối hợp đa ngành của Serrano – Fabia và cộng sự (2010)
về sai sót liên quan đến thuốc điều trị ung thư, sai sót trong chuẩn bị và thực hiện
thuốc chiếm tỉ lệ là 21,0% và 1,1% trong tổng số các sai sót. 70% (41/58 trường
hợp) sai sót trong giai đoạn chuẩn bị ảnh hưởng đến bệnh nhân (67,2% sai dung môi
tương hợp không cần can thiệp, 3,4% sai sót có tác động thực sự lên hiệu quả điều
trị do thiếu liều). Tỉ lệ này trong giai đoạn thực hiện thuốc là 66,6% (2/3 trường
hợp). Trong số các sai sót ảnh hưởng đến bệnh nhân, tỉ lệ lớn nhất (14,1%) thuộc về
sai sót trong chuẩn bị thuốc dùng đường tĩnh mạch, cụ thể là chuẩn bị thuốc với
dung môi khác với dung môi được quy định trong phác đồ [74].
Trong nghiên cứu của Ford và cộng sự (2006) về sai sót trong chuẩn bị và
thực hiện thuốc đường tĩnh mạch trong khoa ung thư, sai sót trong giai đoạn chuẩn
bị và thực hiện thuốc chiếm 38% và 41% tổng số sai sót, trong đó chỉ 2% sai sót
được đánh giá có thể dẫn tới biến cố bất lợi [36].
Trong một nghiên cứu về đặc điểm sai sót liên quan tới hóa trị liệu ở trẻ em
và không duy trì khả năng tập trung khi thực hành, không kiểm tra thứ tự thực hiện
thuốc và nhãn cảnh báo không đầy đủ, thiếu kiểm tra độc lập bởi dược sĩ thứ hai
trước khi thực hiện thuốc. Ngoài ra, sử dụng các thuốc ít quen thuộc hoặc đòi hỏi
thiết bị chuyên dụng có thể dễ dẫn tới sai sót hơn. Các thuốc cần nhiều bước trong
quá trình sử dụng thuốc cũng có thể tỉ lệ mắc lỗi cao hơn. Các yếu tố môi trường
như tiếng ồn, bị gián đoạn trong khi thực hiện một quy trình dùng thuốc và thiếu
ánh sáng cũng đóng góp vào lỗi này [10], [57].
Để hạn chế cơ hội xảy ra sai sót khi chuẩn bị và thực hiện thuốc, có thể giảm
thiểu các bước trong quy trình, cần có quy trình hướng dẫn tiêm phù hợp và sử dụng
các thiết bị kiểm soát tốc độ tiêm truyền [65], cải thiện chất lượng đào tạo nhân
viên, sử dụng các sản phẩm được chuẩn bị sẵn từ công ty dược [57], giới thiệu và
hướng dẫn các chương trình đào tạo cho điều dưỡng. Các nghiên cứu đã khẳng định
rằng đào tạo, xây dựng quy trình chuẩn và các hướng dẫn là cách tiếp cận thành
công để giảm thiểu tỉ lệ các sai sót liên quan đến thuốc, đặc biệt trong môi trường
thực hành có nguồn lực hạn chế [53], [63], [70]. Ngoài ra, kiểm tra chéo giữa hai
8
nhân viên y tế trong quá trình chuẩn bị và thực hiện thuốc cũng là một kỹ thuật thiết
yếu để giảm thiểu các sai sót liên quan đến thuốc [71].
1.3. Kỹ thuật xác định sai sót liên quan đến chuẩn bị và thực hiện thuốc
Có nhiều kỹ thuật phát hiện sai sót liên quan đến chuẩn bị và thực hiện thuốc
như kỹ thuật tự báo cáo – giấu tên, kỹ thuật tổng hợp hồ sơ bệnh án, kỹ thuật báo
cáo biến cố xảy ra, kỹ thuật phân tích biến cố nghiêm trọng, kỹ thuật quan sát trực
tiếp, kỹ thuật tự báo cáo sử dụng phương pháp phỏng vấn, báo cáo sự thay đổi của
điều dưỡng tham dự [34], [35]. Trong đó kỹ thuật quan sát trực tiếp được nhiều
nghiên cứu lựa chọn để thu thập dữ liệu về các sai sót trong chuẩn bị và thực hiện
thuốc.
Kỹ thuật quan sát trực tiếp (direct observation) là một kỹ thuật được phát
quả thu được từ phương pháp quan sát trực tiếp cũng cao hơn, bao gồm cả kết quả
cho các lỗi được đánh giá có tiềm năng đáng kể về mặt lâm sàng [35].
Tuy nhiên kỹ thuật này đòi hỏi người quan sát có một thể chất và tinh thần
tốt. Người quan sát phải được đào tạo kiến thức và chuyên môn, tên thuốc; có khả
năng đọc được chỉ định của người kê đơn, xác định được quy trình chuẩn bị và thực
hiện thuốc đúng để có thể phát hiện và phân loại sai sót. Để giảm thiểu ảnh hưởng
của người quan sát đến đối tượng quan sát (điều dưỡng), người quan sát phải công
bằng và tế nhị [9].
Baker và cộng sự (1966) [16] đã kiểm tra ảnh hưởng của người quan sát đến
đối tượng quan sát và giám sát tỉ lệ sai sót của điều dưỡng trong 5 ngày liên tiếp.
Nghiên cứu chỉ ra sự có mặt của người quan sát không ảnh hưởng đến tỉ lệ sai sót.
Nếu người quan sát công bằng và tế nhị thì đối tượng quan sát sẽ nhanh chóng cư
xử lại bình thường trong một đến ba giờ của lần quan sát ban đầu [9]. Để hạn chế
sai lệch của người quan sát các nghiên cứu thường lựa chọn người quan sát có kinh
nghiệm như dược sĩ và y tá [14].
1.4. Nguy cơ phơi nhiễm với thuốc độc hại
Đối với bệnh nhân ung thư, lợi ích của việc điều trị vượt xa so với nguy cơ
độc tính của các thuốc điều trị ung thư. Tuy nhiên, đối với những người khỏe mạnh,
nguy cơ phơi nhiễm với những thuốc này gây nên nguy cơ tiềm tàng đối với sức
khỏe và sinh sản trong tương lai. Do đó, nhận thức được ảnh hưởng của phơi nhiễm
nghề nghiệp và tuân thủ các hướng dẫn an toàn khi thao tác với thuốc điều trị ung
10
thư là chiến lược tốt nhất để bảo vệ người lao động tham gia vào công tác chăm sóc
sức khỏe nhân dân.
1.4.1. Phơi nhiễm nghề nghiệp với thuốc độc hại
Người lao động có thể bị phơi nhiễm với các thuốc độc hại ở bất kỳ thời
điểm nào trong quá trình sản xuất, vận chuyển, phân phối, giao nhận, lưu trữ, chuẩn
bề mặt bị ô nhiễm trong quá trình chuẩn bị, thực hiện thuốc hoặc tiêu hủy thuốc độc
hại. Xử lý chất dịch cơ thể hoặc quần áo, khăn, băng vết thương và vật liệu khác
cũng làm tăng nguy cơ phơi nhiễm [58]. Ngoài ra, nước tiểu, phân, chất nôn, mồ hôi
và bộ đồ giường, quần áo có thể bị ô nhiễm với các loại thuốc. Khả năng này có
nghĩa là nguy cơ không chỉ với y tá mà còn với người làm việc giặt đồ, dịch vụ vận
chuyển, gia đình và bạn bè của bệnh nhân [18].
Khi thực phẩm và đồ uống được chế biến, lưu trữ hoặc tiêu thụ trong khu
vực làm việc, chúng có thể dễ dàng bị nhiễm các tiểu phân thuốc có trong không
khí. Tương tự như vậy, hút thuốc lá, dùng mỹ phẩm và nhai kẹo cao su cũng có thể
dẫn đến phơi nhiễm thuốc gây độc tế bào qua đường tiêu hóa [58].
Các thao tác nghề nghiệp có thể dẫn đến phơi nhiễm với thuốc độc hại được
liệt kê trong Phụ lục 4 [60].
Các yếu tố ảnh hưởng đến phơi nhiễm nghề nghiệp với thuốc độc hại bao
gồm thao tác với thuốc, tần suất và thời gian thao tác với thuốc, con đường phơi
nhiễm, sự sẵn có của trang bị bảo hộ và tủ an toàn sinh học (BSC) hoặc tủ vô trùng
cách ly (isolator) trong khu vực chuẩn bị và người lao động không cân nhắc được sự
nguy hiểm lâu dài của phơi nhiễm [38].
1.4.2. Ảnh hưởng của phơi nhiễm với thuốc độc hại
Nhân viên tiếp xúc với các thuốc độc hại thường gặp phải các triệu chứng
cấp tính như kích ứng da, đau họng, ho, kích thích hoặc loét niêm mạc, kích thích
mắt hoặc họng, chóng mặt, đau đầu, rụng tóc, phản ứng dị ứng, tiêu chảy, buồn nôn
và nôn [17], [18], [67]. Phơi nhiễm nghề nghiệp có liên quan đến gia tăng đáng kể tỉ
lệ phá hủy ADN, vô sinh, sảy thai tự nhiên, sinh non, trẻ thiếu cân, bất thường thai
nhi, dị tật bẩm sinh ở trẻ trước khi sinh, thiểu năng học tập của con cái của y tá xử
lý hóa trị liệu trong thời gian mang thai, tăng nguy cơ bị bệnh bạch cầu và ung thư
khác, tăng các chỉ dấu sinh học của độc tính lên gen, thay đổi di truyền lâu dài [17],
[23], [31], bất thường hình thái tế bào hoặc đột biến gen [58], tăng số lượng sai hình
12
bảo vệ nhân viên y tế phòng tránh phơi nhiễm [58]. Nhân viên y tế thao tác với
thuốc độc hại cần được đào tạo ban đầu và liên tục theo tiêu chuẩn thực hành tốt
nhất bao gồm an toàn khi thao tác và xử trí sự cố tràn hoặc rò rỉ [30]. Nhân viên
không được ăn uống, nhai kẹo cao su, dùng mỹ phẩm hoặc trữ đồ ăn gần khu vực
chuẩn bị thuốc. Nhân viên đang mang thai hoặc dự định có thai hoặc đang cho con
bú nên được chuyển sang làm công việc khác không phải tiếp xúc với thuốc độc hại.
Nhân viên bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, viêm kết mạc, nhiễm khuẩn ngoài da,
13
đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch nên ngừng việc chuẩn bị thuốc nếu có thể.
Nhân viên nên có các khoảng giải lao trong thời gian chuẩn bị để duy trì khả năng
tập trung [21].
Trong lúc thao tác, nếu thuốc gây độc tế bào vô ý tiếp xúc với da hoặc quần
áo của người lao động thì ngay lập tức cởi bỏ quần áo, rửa kỹ da khu vực bị ảnh
hưởng bằng xà phòng và nước, sau đó tiếp tục rửa trong vòng 15 phút. Nếu thuốc
bắn vào mắt, cần rửa mắt bằng nước muối sinh lý, sau đó nhỏ mắt bằng dung dịch
thiosylfate 3%; còn trong trường hợp vô tình bị kim đâm hoặc chấn thương do vật
sắc nhọn, nên để vết thương chảy máu tự do, dưới vòi nước chảy nhẹ và rửa kỹ
bằng xà phòng [2], [30].
Hiện nay nhiều tổ chức trên thế giới đã xuất bản nhiều hướng dẫn thao tác an
toàn với thuốc độc hại nhằm giảm thiểu phơi nhiễm nghề nghiệp cho nhân viên y tế,
chủ yếu tập trung vào vấn đề áp dụng trang thiết bị bảo hộ, các biện pháp giám sát y
tế và giám sát môi trường [21], [26], [60].
Các trang phục bảo hộ được khuyến cáo sử dụng bao gồm:
Găng tay: Hai lớp găng tay nên được đeo trong bất cứ quá trình nào thao tác
với thuốc độc hại như tiếp xúc với vỏ hộp và lọ thuốc độc hại, chuẩn bị và thực hiện
thuốc độc hại, xử lý rác thải từ thuốc độc hại và rác thải từ bệnh nhân điều trị thuốc
này, lau dọn khi làm tràn thuốc [12] [54], [58]. Găng tay bảo vệ hiệu quả và chống
sau khi loại bỏ cần được xử lý cẩn thận và đúng cách như rác thải y tế để phòng
tránh lây nhiễm cho nhân viên khác và môi trường [12], [30].
Khẩu trang: Khẩu trang nên được dùng khi chuẩn bị và thực hiện thuốc, để
phòng bất kỳ trường hợp có nguy cơ bắn thuốc đồng thời ngăn ngừa ô nhiễm vi sinh
vật trong trường hợp yêu cầu vô khuẩn. Mặt nạ nên được đeo khi màn chắn bằng
kính của tủ an toàn sinh học (BSC) được nâng lên, làm sạch chỗ tràn thuốc độc hại
và khử trùng cả bên trong và bên ngoài tủ an toàn sinh học (BSC) [21]. Khẩu trang
phẫu thuật thông thường không bảo vệ nhân viên y tế tránh khỏi nguy cơ hít phải
các hạt khí dung [12].
Kính bảo hộ: Kính bảo hộ được khuyến cáo sử dụng khi có nguy cơ văng,
bắn thuốc độc hại có thể xảy ra. Trong hầu hết các trường hợp, màn chắn bằng kính
của tủ an toàn sinh học (BSC) nên được cung cấp đầy đủ để bảo vệ nhân viên y tế
khỏi nguy cơ dung dịch thuốc độc hại bắn và phun ra khi chuẩn bị thuốc [21].
15