Khảo sát hoạt động lựa chọn và sử dụng thuốc tại bệnh viện lao bệnh phổi tỉnh phú thọ năm 2012 - Pdf 29


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐỖ PHAN THƯ KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN VÀ
SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN LAO &
BỆNH PHỔI TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2012


Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động
viên, khích lệ tôi rất nhiều để tôi có thêm sự nhiệt tình và say mê trong
nghiên cứu khoa học.

Hà nội, tháng 03 năm 2014
Học viên
Đỗ Phan Thư

MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1. TỔNG QUAN 2
1.1 Một số khái niệm 2
1.1.1. Danh mục thuốc thiết yếu 2
1.1.2. Danh mục thuốc chủ yếu 2
1.1.3. Danh mục thuốc bệnh viện 2
1.1.4. Mô hình bệnh tật 3
1.1.5. Phân tích ABC 3
1.1.6. Phân tích VEN 3
1.2. Hoạt động lựa chọn thuốc 4
1.2.1. Căn cứ lựa chọn thuốc 4
1.2.2. Tình hình lựa chọn thuốc ở các bệnh viện Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay 6
1.3. Hoạt động sử dụng thuốc 7
1.3.1. Quy trình sử dụng thuốc 7
1.3.2. Tình hình sử dụng thuốc ở các bệnh viện Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay 9

3.1.3. So sánh sự phù hợp của danh mục thuốc bệnh viện xây dựng với
mô hình bệnh tật và nhu cầu sử dụng 27
3.2. Thực trạng hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh
Phú Thọ năm 2012 29
3.2.1. Tình hình tiêu thụ thuốc năm 2012 29
3.2.2.Hoạt động chẩn đoán, theo dõi 34
3.2.3. Hoạt động kê đơn thuốc 35
3.2.4. Hoạt động cấp phát thuốc 42
3.2.5. Hoạt động giám sát sử dụng thuốc của Hội đồng thuốc và điều trị,
hoạt động của Tổ dược lâm sàng và Tổ thông tin thuốc 44
Chương 4. BÀN LUẬN 47
4.1. Lựa chọn thuốc 47
4.2. Sử dụng thuốc 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

ADR Adverse Drug Reactions
(Phản ứng có hại của thuốc)
AFB Acid Fast Bacillus
(Trực khuẩn kháng acid)
BVL&BP Bệnh viện Lao và Bệnh phổi
DMTBV Danh mục thuốc bệnh viện
DMTCY Danh mục thuốc chủ yếu
DMTTY Danh mục thuốc thiết yếu
DLS Dược lâm sàng
GĐBV Giám đốc bệnh viện
HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị
HSBA Hồ sơ bệnh án
KHTH Kế hoạch tổng hợp

3.15 Cơ cấu VE/N trong nhóm A 30
3.16 Cơ cấu thuốc thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập
khẩu trong nhóm A
30
3.17 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nhóm tác dụng dược lý 31
3.18 Tỷ lệ tiêu thụ thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu 32
3.19 Tỷ lệ tiêu thụ thuốc mang tên gốc, tên biệt dược 32
3.20 Tỷ lệ tiêu thụ thuốc đơn thành phần và đa thành phần 33
3.21 Tỷ lệ tiêu thụ thuốc uống và thuốc tiêm 33
3.22 Tỷ lệ các chỉ tiêu về chẩn đoán, theo dõi 34

STT Tên bảng Trang

3.23 Tỷ lệ các chỉ tiêu về cách ghi đơn thuốc 35
3.24 Số thuốc trung bình trong một đơn 36
3.25 Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc 36
3.26 Tỷ lệ đơn kê có kháng sinh 37
3.27 Tỷ lệ đơn có vitamin 37
3.28 Tỷ lệ thuốc được kê có trong DMTTY 38
3.29 Tỷ lệ các chỉ tiêu về chỉ định thuốc trong HSBA 38
3.30 Số ngày nằm viện trung bình 39
3.31 Tỷ lệ thuốc được kê nằm trong DMTBV 39
3.32 Số thuốc trung bình cho một bệnh nhân một ngày 40
3.33 Số thuốc kháng sinh trung bình cho một bệnh nhân một
ngày
40
3.34 Số thuốc tiêm trung bình cho một bệnh nhân một ngày 41
3.35 Kết quả hoạt động giám sát sử dụng thuốc của HĐT&ĐT 44
3.36 Kết quả hoạt động của tổ thông tin thuốc 45
3.37 Các thuốc nghi ngờ gây ADR 45

viện không những phải cung ứng đủ thuốc mà còn phải đảm bảo lựa chọn
và sử dụng thuốc như thế nào cho hiệu quả, an toàn và hợp lý. Hội đồng
thuốc và điều trị bệnh viện được thành lập theo quy định tại Thông tư số
08/BYT-TT ngày 04/7/2007 của Bộ Y tế, có vai trò quyết định trong việc
xây dựng danh mục thuốc bệnh viện và giám sát hoạt động sử dụng thuốc
tại bệnh viện. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số bệnh viện danh mục
thuốc và hoạt động sử dụng thuốc còn nhiều bất cập. Tại bệnh viện Lao và
Bệnh phổi tỉnh Phú Thọ cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu về lĩnh vực
này. Vì vậy, để góp phần tìm hiểu sự phù hợp giữa danh mục thuốc bệnh
viện xây dựng với thực tế sử dụng và thực trạng hoạt động sử dụng thuốc
tại bệnh viện; đề tài: "Khảo sát hoạt động lựa chọn và sử dụng thuốc tại
bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Phú Thọ năm 2012" với các mục tiêu
sau:
1. Mô tả thực trạng hoạt động lựa chọn thuốc tại bệnh viện Lao và
Bệnh phổi tỉnh Phú Thọ năm 2012.
2. Mô tả thực trạng hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện Lao và
Bệnh phổi tỉnh Phú Thọ năm 2012.
2
Chương 1. TỔNG QUAN

1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Danh mục thuốc thiết yếu
Danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY) là Danh mục thuốc thiết yếu
của Việt Nam được Bộ Y tế Ban hành lần thứ V kèm theo Quyết định số
17/2005/QĐ-BYT ngày 01/7/2005, bao gồm: Danh mục thuốc thiết yếu tân
dược với tổng số 355 tên thuốc của 314 hoạt chất và Danh mục thuốc thiết
yếu y học cổ truyền; gồm có: Danh mục thuốc chế phẩm và Danh mục vị

thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào
chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện.
Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75-80% tổng giá trị tiền;
Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15-20% tổng giá trị tiền;
Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5-10 % tổng giá trị tiền;
Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10-20% tổng số sản phẩm,
hạng B chiếm 10-20% và còn lại là hạng C chiếm 60-80%.
1.1.6. Phân tích VEN
Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động
mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để
mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các
thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau:
Thuốc V (Vital drugs): là thuốc dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc
các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh,
chữa bệnh của bệnh viện.

4
Thuốc E (Essential drugs): là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh
ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình
bệnh tật của bệnh viện.
Thuốc N (Non- Essential drugs): là những thuốc dùng trong trường
hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả
điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương
xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.
1.2. Hoạt động lựa chọn thuốc
1.2.1. Căn cứ lựa chọn thuốc
Kết quả của việc lựa chọn thuốc trong cung ứng thuốc bệnh viện thể
hiện ở việc xây dựng được DMTBV hợp lý. HĐT&ĐT phải thống nhất
được tiêu chuẩn các thuốc đưa vào danh mục căn cứ vào tiêu chí sẵn có của
WHO, chính sách thuốc Quốc gia, các văn bản hướng dẫn của Bộ y tế trên

Việc lựa chọn DMTTY góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh
và giúp quản lý tốt hơn các loại thuốc (bao gồm cả cải thiện chất lượng kê đơn
thuốc) đồng thời tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực y tế.
DMTTY là cơ sở để xây dựng DMTCY sử dụng tại cơ sở khám chữa
bệnh. Đối với các bệnh viện, HĐT&ĐT xây dựng danh mục thuốc sử dụng
trong bệnh viện đáp ứng nhu cầu điều trị trình giám đốc phê duyệt [3].
1.2.1.5. Danh mục thuốc chủ yếu
DMTCY được Bộ y tế ban hành trên cơ sở DMTTY của Việt Nam
và Tổ chức y tế thế giới hiện hành, có hiệu quả tốt trong điều trị. Mục đích
của ban hành DMTCY nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, đáp

6
ứng nhu cầu điều trị của người bệnh và phù hợp với khả năng kinh tế của
người bệnh và khả năng chi trả của Bảo hiểm y tế [4].
1.2.1.6. Trình độ chuyên môn, khả năng kinh phí của bệnh viện
DMTBV cần được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình
thực tế điều trị, phù hợp với khả năng kinh phí của bệnh viện và khả năng
ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật điều trị [33].
1.2.2. Tình hình lựa chọn thuốc ở các bệnh viện Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
Việc xây dựng một danh mục thuốc phù hợp sẽ mang lại nhiều lợi
ích cho bệnh viện nói riêng cũng như toàn xã hội nói chung [22]. Trong
hoạt động lựa chọn thuốc, các bệnh viện đã được nghiên cứu đều tiến hành
xây dựng danh mục thuốc mỗi năm một lần. Quy trình xây dựng danh mục
thuốc tại các bệnh viện này đều đầy đủ, rõ ràng theo hướng dẫn của WHO
và các quy định liên quan của Bộ y tế. Tuy nhiên chỉ một số rất ít bệnh viện
áp dụng phương pháp khoa học (ABC/VEN,DDD) để đánh giá tình hình sử
dụng thuốc và tìm ra các thuốc bị lạm dụng, các thuốc cần ưu tiên mua.
Được xây dựng trên một nền tảng tốt và quan điểm nghiêm túc về vai trò
của việc lựa chọn thuốc, danh mục thuốc của các bệnh viện được đánh giá

cho bệnh nhân đúng thuốc mà họ cần. Tất cả các hoạt động lựa chọn, mua
thuốc, cấp phát đều là những tiền đề cần thiết cho sử dụng thuốc hợp lý. Sử
dụng thuốc hợp lý đòi hỏi bệnh nhân phải được nhận thuốc đúng với tình
trạng bệnh, đúng liều, đúng thời gian với chi phí thấp nhất đối với họ và
cộng đồng của họ.
Tuân thủ
điều trị
Chẩn đoán,
Theo dõi
Kê đơn
Cấp phát

SỬ DỤNG
THUỐC

8
1.3.1.1. Chẩn đoán, theo dõi
Thầy thuốc phải khai thác tiền sử dùng thuốc, tiền sử dị ứng, liệt kê
các thuốc người bệnh đã dùng trước khi nhập viện trong vòng 24 giờ và ghi
diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ bệnh án để chỉ định sử dụng
thuốc hoặc ngừng sử dụng thuốc [9].
1.3.1.2. Kê đơn thuốc
Kê đơn thuốc là việc làm thường xuyên, có tính chất chuyên nghiệp
của bác sỹ. Mỗi khi khám xong cho một bệnh nhân nào đó, người thầy
thuốc thường có định hướng chẩn đoán xem họ mắc bệnh gì và sau đó là kê
đơn thuốc.
Việc kê đơn thuốc phải thực hiện đúng Quy chế kê đơn và dựa trên

và cộng sự tại bệnh viện Nhân Dân 115, sau can thiệp tỷ lệ thuốc nhóm N
(không thiết yếu) giảm 1,4% nhưng vẫn ở mức cao 14,34%[20].
Kê đơn, chỉ định dùng thuốc cho bệnh nhân vẫn còn một số tồn tại ở
các bệnh viện công lập. Nghiên cứu tại khoa khám bệnh, bệnh viện Nhân
dân 115 từ tháng 7/2007 đến tháng 2/2008, số thuốc trung bình trong một
đơn không cao nhưng số thuốc không thiết yếu trong một đơn thuốc lại quá
cao (47,17% tổng số thuốc). Nghiên cứu thực hiện quy chế kê đơn trong
điều trị ngoại trú tại bệnh viện Phổi trung ương năm 2009 cho thấy, chỉ có
35,0% đơn thuốc ghi rõ ràng, chính xác địa chỉ bệnh nhân, 62,0% ghi tên
thuốc theo tên hoạt chất, 83% ghi đầy đủ hàm lượng, nồng độ, số lượng
thuốc. Cũng tại bệnh viện này, kết quả khảo sát hồ sơ bệnh án (HSBA) cho
thấy chỉ có 33,3% bệnh án thực hiện đúng quy chế thuốc gây nghiện và chỉ
có 2 trong số 18 bệnh án khảo sát thực hiện đúng quy chế thuốc hướng tâm

10
thần [26]. Tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2008 - 2010, số thuốc trung bình
trong một đơn là 4,4, số thuốc kê tên gốc chỉ chiếm tỷ lệ 20% tổng số
thuốc. 95% ghi đơn liều dùng, thời gian dùng nhưng chưa có hướng dẫn cụ
thể. Tỷ lệ kê thuốc đúng số ngày chiếm 95%. Quy định kê đơn thuốc gây
nghiện và hướng tâm thần chưa được thực hiện tốt khi 70,4% bệnh án có
ghi số ngày sử dụng thuốc gây nghiện và không có bệnh án nào thực hiện
ghi số lượng thuốc gây nghiện bằng chữ và ghi số 0 trước số lượng thuốc
hướng tâm thần nhỏ hơn 10 [25]. Một số bệnh viện tuyến Trung ương đã
thực hiện kê đơn điện tử để nâng cao chất lượng kê đơn, chỉ định thuốc. Ví
dụ việc kê đơn tại bệnh viện Nhân dân 115 còn nhiều bất cập, các sai sót
trong đơn chiếm tỷ lệ cao như: các đơn thuốc có sai sót thông tin bệnh nhân
chiếm 98%, các đơn thuốc thiếu kê chẩn đoán theo ICD và các hoạt chất là
100%, các đơn thuốc sai sót ghi tên thuốc là 40,4%, đơn thiếu thời điểm
dùng thuốc chiếm tỷ lệ 54%. Để cải thiện bất cập này, can thiệp kê đơn
điện tử được thực hiện. Can thiệp kê đơn điện tử với việc thiết lập quy trình

mỗi ngày. Các dược sĩ lâm sàng mới chỉ thực hiện bước đầu nhiệm vụ của
mình: Mới chỉ giám sát được việc kê đơn thuốc của bác sĩ qua đơn bảo
hiểm y tế và các phiếu lĩnh, chứ chưa thể hiện được vai trò tư vấn thực sự
trong việc lựa chọn thuốc. Công tác TTT còn mang tính chất bị động, chỉ
trả lời thông tin khi có yêu cầu của bác sĩ, điều dưỡng. Việc chủ động cung
cấp TTT cho tuyến dưới còn nhiều hạn chế [25], [26].

12
1. 4. Vài nét về bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Phú Thọ
1.4.1. Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Phú
Thọ
Bệnh viện Lao và Bệnh phổi (BVL&BP) tỉnh Phú Thọ là bệnh viện
chuyên khoa tuyến tỉnh, hạng III có quy mô 100 giường bệnh; trực thuộc
Sở Y tế tỉnh Phú Thọ. Bệnh viện có nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho nhân
dân mắc bệnh Lao và Bệnh phổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Về công tác chỉ
đạo tuyến, BVL&BP tỉnh Phú Thọ giám sát hoạt động chương trình chống
lao tại các Trung tâm Y tế huyện, thị, thành trong toàn tỉnh đồng thời
thường xuyên hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị này.
1.4.2. Mô hình tổ chức của bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Phú Thọ
năm 2012


khám
bệnh

Khoa
Cận
lâm
sàng

Các
khoa
lâm
sàng
(3
khoa)
Khoa
Dược

- HĐT&ĐT
- Hội đồng khoa học
- Hội đồng điều dưỡng - Đảng ủy bệnh viện
- Công đoàn bệnh viện
13
Bộ máy tổ chức của bệnh viện gồm có Ban giám đốc 3 người; 4
phòng chức năng và 6 khoa, trong đó có 3 khoa lâm sàng. Bệnh viện có các

Thọ năm 2012 là 81 người. Trong đó có 10 bác sĩ có trình độ chuyên khoa
cấp I, chiếm tỷ lệ 12,3%; có 4 bác sĩ chưa có trình độ sau đại học, chiếm tỷ
lệ 4,9%; chỉ có 1 dược sĩ đại học, chiếm tỷ lệ 1,2% và chưa có dược sĩ có
trình độ sau đại học. 14
1.4.4. Tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh
Phú Thọ năm 2012
Bảng 1.2. Số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh
tại BVL&BP tỉnh Phú Thọ năm 2012
Đối tượng Số lượt Tỷ lệ (%)
Bệnh nhân điều trị nội trú có bảo hiểm y tế 834
20,0

Bệnh nhân điều trị nội trú không có bảo
hiểm y tế
231
5,5

Bệnh nhân có bảo hiểm y tế được kê đơn
cấp thuốc điều trị ngoại trú
1.137
27,2

Bệnh nhân không có bảo hiểm y tế được kê
đơn mua thuốc điều trị ngoại trú
1.122
19,0


Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều
trị và các nhu cầu đột xuất khác.
Là đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của HĐT&ĐT.
Thực hiện công tác DLS, TTT, tư vấn về sử dụng thuốc, theo dõi,
báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc.
Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược
tại các khoa trong bệnh viện.
Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường
Đại học, Cao đẳng và Trung học về dược.
Tham gia chỉ đạo tuyến.
Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu.
Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc.
Quản lý hoạt động của Quầy thuốc bệnh viện.

Trích đoạn Hoạt động kê đơn thuốc Hoạt động cấp phát thuốc Hoạt động giám sát sử dụng thuốc của Hội đồng thuốc và điều trị, Sử dụng thuốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status