Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
I. Sự cần thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 21 đang diễn ra những
chuyển biến hết sức mau lẹ, những ngành nghề kinh doanh mới ra đời, sự xâm nhập
ngày càng nhiều của những doanh nghiệp nước ngoài. Kiểm toán là một lĩnh vực tiêu
biểu, tuổi đời chưa tròn 20 năm nhưng đây được coi là ngành có sức bật mạnh mẽ.
Cơ hội lớn để phát triển đang rộng mở với tất cả công ty kiểm toán ở VN, nhưng cơ
hội cũng chia đều cho tất cả không phân biệt là doanh nghiệp trong nước hay nước
ngoài, cạnh tranh là một điều tất yếu.
Người Việt Nam vẫn có thói quen dùng “hàng hiệu”, vậy để chiếm lĩnh được
thị trường, sản phẩm mà các công ty kiểm toán đưa ra phải thật sự có thương hiệu, và
lẽ dĩ nhiên thương hiệu được làm nên từ chất lượng của sản phẩm đó. Vấn đề đặt ra ở
đây là mặc dù đã xây dựng được tiêu chuẩn chất lượng mà dịch vụ kiểm toán của
mình phải đạt được nhưng liệu khi dịch vụ đó đến tay KH nó có thật sự có đáp ứng
được tiêu chuẩn đó hay không? KSCL hoạt động kiểm toán đó chính là chìa khóa dể
giải quyết vấn đề này.
Sự sụp đổ của Athur Andersen không còn là một điều xa vời nữa khi mà năm
2008 sự kiện BCKT về BCTC của Công ty CP Bông Bạch Tuyết mà trước đó nữa là
vụ bê bối xung quanh BCKT về BCTC của Công ty CP Đồ hộp Hạ Long, đã gióng
lên một tiếng chuông cảnh tỉnh tình trạng KSCL hoạt động kiểm toán lỏng lẻo ở Việt
Nam hiện nay, đặc biệt là đối với các Công ty kiểm toán Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên, qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH
Deloitte VN, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện quy trình kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Deloitte VN thực hiện” nhằm giới thiệu
về quy trình KSCL HĐKT BCTC đang được áp dụng tại Công ty. Đồng thời, mạnh
dạn đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KSCL kiểm toán
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
II. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, về yêu cầu thực tiễn đối với công tác
đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa quy trình KSCL hoạt
động kiểm toán do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam thực hiện.
IV. Nội dung của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận bao gồm ba phần:
Phần 1: Lý luận chung về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán Báo
cáo tài chính.
Phần 2: Thực trạng công tác kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
BCTC do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam.
Phần 3: Hoàn thiện quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
BCTC do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam thực hiện.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kế toán – kiểm toán trường
Đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là TS Tô Văn Nhật, cùng các anh chị trong công
ty TNHH Deloitte Việt Nam đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ để em hoàn thành tốt khóa
luận tốt nghiệp này.
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1. Khái quát về kiểm toán độc lập
1.1.1. Khái niệm về kiểm toán độc lập
“Kiểm toán” là thuật ngữ nghề nghiệp và là hoạt động nghiệp vụ đã xuất hiện
từ lâu trên thế giới và đuợc chấp nhận ở Việt Nam từ những năm đầu đổi mới. Nói về
kiểm toán sẽ là sự đề cập đến một lĩnh vực khá rộng, bởi nó song song tồn tại đối với
tất cả mọi loại hình kinh doanh, nghành nghề và lĩnh vực kinh doanh đặc biệt là trong
nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này tôi chỉ đề cập đến
loại hình kiểm toán độc lập, bởi đây là loại hình kiểm toán tuy ra đời sau nhưng lại có
vai trò qua trọng đối vói sự phát triển kinh tế, nó cũng mang đầy đủ nhất các sắc thía
của “kiểm toán”. Đặc biệt , đối với kiểm toán độc lập vấn đề kiểm soát chất lượng
luôn là một bài toán khó nhưng bắt buộc các công ty kiểm toán, các nhà hoạch định
chính sách phải tìm ra lời giải.
chính đồng thời làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế. Bằng các nghiệp vụ chuyên
môn, bằng các hoạt động khách quan và độc lập, kiểm toán đánh giá, xác nhận một
cách trung thực có căn cứ về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, qua đó nâng cao độ tin cậy của thông tin kinh tế tài chính do kế toán xử lý và
cung cấp, giảm bớt hoạt động thanh tra, kiểm tra mang nặng tính hành chính. Đồng
thời, kiểm toán sẽ đảm bảo sự trung thực, khách quan, tin cậy của các thông tin kinh
tế -tài chính khi cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin. Cũng thông qua quá
trình kiểm toán, KTV còn đưa ra những ý kiến kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn
thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính cũng như hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Thứ hai, hoạt động kiểm toán giúp doanh nghiệp tìm được tiếng nói chung, sự
tin cậy lẫn nhau, thẳng thắn trung thực trình bày về thực trạng tài chính của mình để
có thể đánh giá lựa chọn đối tác kinh doanh phù hợp. Hơn thế nữa, chi phí và thời
gian cho một cuộc kiểm toán cũng ít hơn chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra nếu phải
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
đàm phán để đánh giá, chứng minh tình hình tài chính của mỗi bên trước khi có
những thỏa thuận hợp tác kinh doanh.
Thứ ba, kiểm toán độc lập đóng vai trò quan trọng trong mở rộng quan hệ đối
ngoại, góp phần tạo lập và duy trì môi trường đầu tư thuận lợi minh bạch tin cậy, thúc
đẩy hoạt động đầu tư. Kiểm toán độc lập giúp các nhà đầu tư trong và ngoài nước có
điều kiện tiếp cận, tăng cường hiểu biết về luật pháp Việt Nam nói chung, luật pháp
kinh tế tài chính nói riêng, nguyên tắc và các quy định về kế toán, kiểm toán Việt
Nam. Ngoài ra, kiểm toán độc lập cũng giúp các nhà đầu tư trong nước hiểu được các
thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Đó là quá trình rút ngắn tiến trình mở cửa, hội nhập
kinh tế của Việt Nam.
Cuối cùng, với tư cách là một ngành dịch vụ hoạt động trong lĩnh vực tài
chính, kiêm toán độc lập góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế phát triển thị
trường dịch vụ tài chính tiền tệ vốn rất mới mẻ và nhiều tiềm năng ở Việt Nam trong
thời kỳ hội nhập sâu với kinh tế thế giới.
là đối tượng sử dụng dịch vụ, cho thấy các quan điểm về chất lượng kiểm toán hiện
nay như sau :
- Các quan điểm về chất lượng kiểm toán từ phía các đối tượng sử dụng dịch
vụ kiểm toán.
Theo kết quả điều tra 54 đối tượng khách hàng, cho thấy các quan điểm về
chất lượng của họ đều tập trung vào các vấn đề như sau: 98% trong số các khách
hàng được phỏng vấn đều cho rằng chất lượng kiểm toán thể hiện việc tuân thủ theo
đúng chuẩn mực kiểm toán, 85% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán thể hiện
ở việc các KTV có nhiều ý kiến tư vấn, góp ý cho khách hàng trong quá trình kiểm
toán, 44% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán là việc tính phí kiểm toán ở
mức thấp và hợp lý, 63% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán là việc KTV đáp
ứng được sự mong đợi của khách hàng, 85% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm
toán thể hiện ở tính chuyên nghiệp của KTV.
Cũng theo kết quả điều tra trên thì đa số các khách hàng đều cho rằng mong
muốn của họ đối với KTV là có được ý kiến chính xác, trung thực, khách quan về các
thông tin tài chính đã được kiểm toán, đồng thời trong những trường hợp cần thiết,
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
đưa ra các hướng dẫn giúp khách hàng lập được báo cáo tài chính phù hợp với các
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý
của họ. Các khách hàng cho rằng giá phí kiểm toán không thể hiện chất lượng kiểm
toán, tuy nhiên cũng không muốn việc để có được ý kiến kiểm toán mà phải bỏ ra
khoản chi phí với bất cứ giá nào.
Một số khách hàng mà chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước và các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh mong muốn rằng, kiểm toán sẽ là sự đảm bảo chắc chắn
rằng mọi sai sót, gian lận hoặc bất cứ điểm bất hợp lý nào trong công tác kế toán đều
được phát hiện và báo cáo lại Ban giám đốc, đồng thời đưa ra phương án sửa đổi
chỉnh lý hoặc tiến hành các bước kiểm tra bổ sung nhằm đưa ra ý kiến chấp nhận
toàn bộ đối với báo cáo tài chính.
Do vậy có thể khái quát quan niệm về chất lượng kiểm toán theo góc độ của
đặt ra cho mục tiêu quản lý của bản thân các công ty kiểm toán nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh.
- Dưới góc độ của người làm công tác quản lý hoạt động kiểm toán
Chất lượng kiểm toán được thể hiện tại Chuẩn mực kiểm toán số 220- Kiểm
soát chất lượng hoạt động kiểm toán “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ
thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin
cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được
kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”. Theo tôi, khái niệm này
chỉ giới hạn trong phạm vi ý kiến kiểm toán, là kết quả của hoạt động kiểm toán mà
không tính đến quá trình thực hiện kiểm toán. Thực tế, kiểm toán là một ngành khoa
học độc lập, một nghề nghiệp được thừa nhận trong xã hội đồng thời cũng là một
ngành cung cấp dịch vụ trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động kiểm toán và kết quả
hoạt động kiểm toán có những ảnh hưởng nhất định đối với nền kinh tế. Do vậy, cần
phải thừa nhận rằng, chất lượng hoạt động kiểm toán vừa là cái làm nên phẩm chất,
giá trị của hoạt động kiểm toán vừa là chất lượng dịch vụ kiểm toán.
Kết hợp giữa mục đích, ý nghĩa của kiểm toán trên cơ sở nhìn nhận trên mọi
góc độ, có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về chất lượng kiểm toán như sau:
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
“Chất lượng kiểm toán là mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy
vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán, đồng
thời thoả mãn về mong muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao
hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời
gian định trước và giá phí thích hợp”.( Theo tác giả Ngô Đức long)
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán:
Trên cơ sở thống nhất định nghĩa chất lượng kiểm toán như đã nêu ở mục trên,
các chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán như sau:
- Mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của
những người sử dụng kết quả kiểm toán
thư hẹn kiểm toán và chí phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp.
Một trong các yêu cầu của thông tin tài chính là tính kịp thời, các thông tin
không được cung cấp đúng lúc sẽ trở nên không có giá trị sử dụng, đồng thời có thể
gây nhiều khó khăn trong việc đưa ra các quyết định quản lý hoặc bỏ lỡ các cơ hội
kinh doanh. Mặc dù kiểm toán không phải là kênh cung cấp thông riêng biệt, nhưng
nó là một khâu thẩm định trong hệ thống cung cấp thông tin. Do vậy mọi chậm trễ
trong quá trình kiểm toán do nguyên nhân của việc tổ chức, giám sát quản lý cuộc
kiểm toán thiếu hiệu quả hoặc bất cứ lý do gì khác từ phía công ty kiểm toán dẫn đến
sự chậm trễ không theo đúng kế hoạch đặt ra trong hợp đồng kiểm toán/ hay Thư hẹn
kiểm toán đều làm ảnh hưởng đến uy tín và giá trị của dịch vụ của công ty kiểm toán.
Về giá phí kiểm toán, đây cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng
kiểm toán. Phí dịch vụ kiểm toán xác định trên cơ sở thời gian cần thiết để các KTV
thực hiện công việc kiểm toán và đơn giá giờ công làm việc của KTV. Việc xác định
và giảm thiểu thời gian kiểm toán mà vẫn đảm bảo thu thập được đầy đủ các bằng
chứng kiểm toán thích hợp sẽ là điều kiện để giảm thiểu giá dịch vụ cho khách hàng.
Đó chính là sự thể hiện và là một trong các chỉ tiêu đánh giá chất lượng kiểm toán.
Chất lượng là khái niệm tương đối, biến đổi theo thời gian, không gian, theo
sự phát triển của nhu cầu xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ở nước ta, kiểm
toán độc lập hình thành và phát triển chưa lâu, hành lang pháp lý đang từng bước
hoàn thiện (các chuẩn mực kiểm toán đã và đang tiếp tục được nghiên cứu và công
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
bố), và sự hiểu biết về kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán còn hạn chế. Do vậy
sự đánh giá về chất lượng kiểm toán vẫn còn nhiều bất cập và thiếu cơ sở theo đó lý
luận về chất lượng kiểm toán cần tiếp tục nâng cao và hoàn thiện.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán:
Hoạt động kiểm toán độc lập thực chất là hoạt động cung cấp dịch vụ do vậy
nó cũng chịu những ảnh hưởng từ các nhân tố bên trong doanh nghiệp và nhân tố bên
ngoài của nền kinh tế, có thể khái quất lại như sau:
Nhóm các yếu tố bên trong: Là các yếu tố trong phạm vi của công ty kiểm
phục vụ khách hàng của công ty kiểm toán.
- Các yếu tố về điều kiện phương tiện làm việc: Đây là những yếu tố quan
trọng giúp các KTV thực hiện tốt công việc của mình một cách hiệu quả. Các yếu tố
này có thể kể như: máy tính, fax, mạng máy tính nội bộ, phương tiện liên lạc… Mặc
dù không tham gia trực tiếp tạo nên chất lượng kiểm toán nhưng những yếu tố này có
tác động tích cực trong chính sách thu hút nhân viên của công ty, mặt khác yếu tố này
cũng làm tăng thêm hình ảnh chuyên nghiệp của công ty kiểm toán trước khách hàng,
tạo niềm tin nơi khách hàng về tính chuyên nghiệp của kiểm toán.
Nhóm các yếu tố bên ngoài: Là những yếu tố bên ngoài công ty kiểm toán có
ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán, bao gồm:
- Nhu cầu của nền kinh tế:
Không có sản phẩm dịch vụ nào cung cấp cho thị trường lại không nhằm đáp
ứng nhu cầu nào đó của nền kinh tế. Do vậy ở bất cứ trình độ nào, với mục đích sử
dụng gì chất lượng sản phẩm, dịch vụ bao giờ cũng bị chi phối, bị ràng buộc bởi hoàn
cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế. Ảnh hưởng của nhu cầu của
nền kinh tế đối với chất lượng kiểm toán thể hiện qua:
Đòi hỏi của thị trường: Ở những thị trường khác nhau có những đòi hỏi khác
nhau và đối tượng khác nhau thì yêu cầu khác nhau … . Mặc dù kiểm toán cho đối
tượng nào đi chăng nữa thì công việc kiểm toán cũng phải tuân theo pháp luật và các
chuẩn mực nghề nghiệp. Tuy nhiên các điều kiện riêng của từng đối tượng này là
không giống nhau, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác với doanh nghiệp
nhà nước và khác với công ty cổ phần, .. Luật pháp điều chỉnh đối với các đối tượng
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
này không giống nhau, hệ thống quản lý, kiểm soát nội bộ của họ cũng rất khác nhau
và mục đích sử dụng kiểm toán cũng không thống nhất. Điều này thực sự sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng kiểm toán.
Trình độ kinh tế, xã hội: Muốn có được sản phẩm có chất lượng phải dựa trên
cơ sở phát triển của nền kinh tế, xã hội. Thực tế không thể đánh giá hoặc so sánh chất
lượng kiểm toán ở Việt nam với chất lượng kiểm toán ở các nước phát triển như Anh,
Cơ chế kiểm quản lý chất lượng hữu hiệu sẽ đảm bảo cho sự phát triển có chất lượng
và hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Tổ chức quản lý chất lượng có thể là các tổ
chức nghề nghiệp độc lập, ví dụ ở Việt Nam hiện nay có Hiệp hội kiểm toán viên
hành nghề Việt Nam (VACPA) chính thức hoạt động tư năm 2006. Đây chính là một
trong những bước đi quan trọng của Chính phủ nhằm tăng cường kiểm soát chất
lượng hoạt động kiểm toán ở nước ta.
1.3. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
1.3.1. Khái niệm kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
Chất lượng hoạt động kiểm toán là một yếu tố định tính, khó xác định một
cách chính xác trong những trường hợp cụ thể. Do vây, KSCL hoạt động kiểm toán
cũng là một quy trình khá phức tạp với những cách hiểu, cách xây dựng và thực hiện
rất đa dạng.
Theo Từ điển Thuật ngữ Kế toán - Kiểm toán, kiểm soát chất lượng HĐKT
được hiểu là “Các chính sách và các quy trình do một hãng thông qua để đảm bảo
một cách tương đối rằng tất cả các cuộc kiểm toán do hãng tiến hành được thực hiện
theo đúng mục đích và các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán đã được quy định trong
các chuẩn mực kiểm toán quốc tế”. Khái niệm này là chưa đầy đủ do nó chỉ đề cập
tới trách nhiệm của các công ty kiểm toán (hãng) trong việc xây dựng và thông qua
các chính sách hay quy trình kiểm soát chất lượng mà không đảm bảo việc tuân thủ
thực hiện các chính sách đó, bên cạnh đó nó cũng chưa đề cập đến vai trò của Nhà
nước và các hiệp hội nghề nghiệp.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán KSCL hoạt động kiểm toán là việc “KTV và công ty kiểm toán phải thực
hiện các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng đối với toàn bộ hoạt động kiểm
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
toán của công ty kiểm toán và đối với từng cuộc kiểm toán” để “đảm bảo tất cả các
cuộc kiểm toán đều được tiến hành phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt Nam chấp nhận nhằm không ngừng
nâng cao chất lượng của các cuộc kiểm toán”. Tuy nhiên, đây cũng chưa hẳn là một
Bên cạnh đó, với tư cách là một sản phẩm dịch vụ nên mục tiêu thứ hai của
kiểm soát chất lượng là bảo đảm dịch vụ cung cấp thỏa mãn được những nhu cầu của
khách hàng. Hoạt động kiểm soát phải nắm bắt được sự phản hồi từ phía khách hàng
về mức độ thỏa mãn đối với chất lượng dịch vụ nhận được, từ đó không ngừng nâng
cao chất lượng HĐKT.
Cuối cùng, KSCL hoạt động kiểm toán còn là một bộ phận trong hệ thống
KSNB của các công ty kiểm toán, nên nó đồng thời phải đảm bảo các mục tiêu về
hiệu năng quản lý.
Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có hai hình thức KSCL hoạt động kiểm
toán chính, bao gồm: KSCL từ bên trong và KSCL từ bên ngoài.
Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài: là quá trình kiểm soát chất lượng dịch vụ
kiểm toán mà công ty kiểm toán đã cung cấp cho khách hàng được thực hiện bởi các
tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước. Kiểm soát
hoạt động kiểm toán từ bên ngoài đối với công ty kiểm toán sẽ làm tăng độ tin cậy
của chất lượng hoạt động kiểm toán. Sự cần thiết đối với hoạt động kiểm soát chất
lượng từ bên ngoài đã được Liên đoàn kế toán quốc tế khẳng định trong báo cáo về
chính sách của hội đồng như sau: “…quan trọng là tất cả các công ty hành nghề kế
toán mà cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ có liên quan phải đối mặt với khả
năng công việc của họ sẽ bị kiểm tra”.
Tùy thuộc vào từng quốc gia mà việc kiểm soát này do các tổ chức khác nhau
thực hiện: có thể là hội nghề nghiệp, ủy ban quốc gia về kiểm toán hay cơ quan chức
năng của Nhà nước nhưng có thể được tiến hành theo các hình thức chủ yếu như sau:
Kiểm tra bắt buộc đối với công ty kiểm toán: Quá trình này được thực hiện bởi
các cơ quan chức năng của Nhà nước hoặc các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
Kiểm soát chéo: Là sự kiểm tra được thực hiện giữa các công ty kiểm toán với
nhau. Việc chọn lựa các công ty thực hiện kiểm soát có thể do công ty bị kiểm soát
chỉ định hoặc các hiệp hội, cơ quan chức năng chỉ định.
Việc kiểm soát từ bên ngoài không chỉ nhằm phục vụ cho người bên ngoài mà
vai trò của KSCL hoạt động kiểm toán cũng phải được nhìn nhận một cách thích
đáng. Đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao đối với thông tin và chất lượng hoạt động kiểm
toán, tăng niềm tin của khách hàng, đồng thời nâng cao uy tín nghề nghiệp cho công
ty kiểm toán thì KSCL hoạt động kiểm toán ra đời là một vấn đề cấp bách và cần
thiết cho một nền kinh tế hội nhập. Thực tế cho thấy tại nhiều nước trên thế giới,
KSCL hoạt động kiểm toán đã được hình thành và trở thành hoạt động có tính chất tự
nguyện từ giữa những năm 1970 và trở thành hoạt động bắt buộc vào những năm
1980. Kiểm soát chất lượng HĐKT đóng vai trò quan trọng đối với đơn vị được kiểm
toán và bản thân công ty kiểm toán thể hiện ở những điểm sau:
+ Giúp nâng cao chất lượng của dịch vụ kiểm toán cung cấp cho khách hàng,
thỏa mãn nhu cầu sử dụng kết quả kiểm toán của các đối tượng quan tâm.
+ Giúp công chúng nhận thức tốt về chất lượng dịch vụ nghề nghiệp của các
công ty kiểm toán. Từ đó, họ có thể lựa chọn được các công ty kiểm toán có chất
lượng cao.
+ Góp phần vào việc tổ chức tốt công tác kiểm toán và hoàn thiện phương
pháp làm việc.
+ Đánh giá việc áp dụng các quy tắc và chuẩn mực nghề nghiệp
+ Thông qua hoạt động kiểm soát chất lượng HĐKT, các công ty kiểm toán sẽ
thấy được những khuyết điểm có thể gây tổn hại đến công việc và uy tín của mình.
Từ đó, đưa ra những giải pháp điều chỉnh, sửa chữa.
+ Thông báo cho các cấp nghề nghiệp biết về những vấn đề mà các công ty
kiểm toán đã gặp phải khi tiến hành các nghiệp vụ của họ và như vậy sẽ giúp các cấp
này đưa ra được những quyết định trên cơ sở ý thức được mọi vấn đề.
Tóm lại, KSCL kiểm toán đó là cách duy nhất và hữu hiệu nhất giúp các công
ty kiểm toán tồn tại và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay. Bài học từ
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
sự sụp đổ của Athur Andersen là minh chứng rõ nét nhất về sự cần thiết phải tạo lập
và thực hiện một quy trình KSCL hoạt động kiểm toán hiệu quả.
1.3.4. Quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
kiểm tra viên được lựa chọn, chương trình kiểm tra sẽ được thiết lập. Chương trình
này bao gồm cách thức chọn ra một số hồ sơ kiểm toán để kiểm tra và nội dung của
từng công việc cụ thể, thời gian thực hiện gắn với trách nhiệm của từng thành viên
khi thực hiện kiểm tra hồ sơ kiểm toán.
Thực hiện kiểm tra: Bước này được chia thành hai bước nhỏ liên tiếp là kiểm
tra cơ cấu và kiểm tra kỹ thuật. Sau khi kết thúc kiểm tra kỹ thuật, nhóm kiểm tra
viên phải lập báo cáo về chất lượng HĐKT. Báo cáo kiểm tra ngoài những đánh giá
về chất lượng HĐKT còn có thể bao gồm những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng
kiểm toán.
Giám sát sau kiểm tra: Bước này nhằm mục tiêu theo dõi việc thực hiện các
kiến nghị và sự tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp của công ty kiểm toán sau khi
kết thúc kiểm tra.
Đối với một cuộc kiểm toán cụ thể
Quy trình kiểm tra chất lượng cho một cuộc kiểm toán cụ thể bao gồm kiểm
tra chất lượng trước cuộc kiểm toán, kiểm tra chất lượng trong quá trình kiểm toán và
kiểm tra chất lượng sau cuộc kiểm toán. Kiểm tra chất lượng cho từng cuộc kiểm
toán không thuộc trách nhiệm của một nhóm kiểm tra viên cụ thể mà được tiến hành
bởi tất cả các thành viên trong nhóm kiểm toán và các thành viên của BGĐ chịu trách
nhiệm đến chất lượng HĐKT. Việc tra xét theo trình tự của cuộc kiểm toán giúp cho
quá trình kiểm tra được chặt chẽ, kịp thời để có biện pháp nâng cao chất lượng của
cuộc kiểm toán.
- Kiểm soát chất lượng trước cuộc kiểm toán
Trong giai đoạn này hoạt động kiểm soát phải đảm bảo cuộc kiểm toán tuân thủ
các quy định về đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán. Nếu hợp đồng được
chấp nhận và ký kết thì công ty có trách nhiệm chuẩn bị các yếu tố cần thiết cho cuộc
kiểm toán cả về các điều kiện vật chất kỹ thuật và nhân sự nhóm kiểm toán.
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
- Kiểm soát chất lượng trong quá trình kiểm toán
Đây là một hoạt động kiểm soát nội bộ và tùy từng công ty kiểm toán khác nhau
về hoạt động kinh doanh của khách hàng.
+ BCTC được lập phù hợp với Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán, Chế độ và
các quy định tài chính khác của doanh nghiệp.
Thủ tục kiểm soát cuối cùng trong quá trình kiểm toán là soát xét ý kiến kiểm
toán:
+ Ý kiến kiểm toán đưa ra rõ ràng và phù hợp với các chuẩn mực kiểm toán có
liên quan.
+ Bản ghi nhớ tổng hợp tất cả các quyết định đặc biệt được đưa ra trong suốt
quá trình kiểm toán.
Công việc kiểm soát trên là soát xét chi tiết do trưởng nhóm kiểm toán và các
KTV thực hiện. Sau đó, soát xét tổng thể sẽ được tiến hành bởi thành viên BGĐ thực
hiện và không thể ủy thác cho trưởng nhóm kiểm toán hoặc bất cứ một thành viên
nào của nhóm kiểm toán.Trong giai đoạn soát xét tổng hợp, việc soát xét tập trung
vào các vấn đề sau: BCTC; những ghi chú của các sự kiện đặc biệt hoặc các vấn đề
nảy sinh được ghi chép trong bảng tổng hợp và các bằng chứng để chứng minh việc
soát xét chi tiết đã được hoàn thành; các bằng chứng kiểm toán của các phần hành có
rủi ro cao, tính phù hợp của các cơ sở dẫn liệu hiện có; bảng tổng hợp các sự kiện
được soát xét; tất cả các giấy tờ làm việc được thực hiện bởi chủ nhiệm kiểm toán; ý
kiến kiểm toán, các thông tin phát hành kèm theo BCKT.
- Kiểm soát chất lượng sau cuộc kiểm toán
Thủ tục này chủ yếu được thực hiện thông qua việc đánh giá sự hài lòng của
khách hàng và tiến hành kiểm soát chéo giữa các nhóm kiểm toán.
Việc thực hiện đánh giá sự hài lòng của khách hàng diễn ra ngay sau khi cuộc
kiểm toán kết thúc hoặc được tiến hành đồng thời với tất cả các khách hàng sau mùa
kiểm toán. Mục đích của công việc này là thu thập các phản hồi từ phía khách hàng,
đánh giá sự hiểu biết của công ty kiểm toán về những nhu cầu của khách hàng và
mức độ đáp ứng những mong đợi đó. Từ đó, công ty kiểm toán đề ra những biện
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A
Khóa luận tốt nghiệp
pháp để nâng cao chất lượng phục vụ, duy trì các khách hàng thường xuyên và phát
Viện kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (American Institute of Certified Public
Accountant - AICPA) ban hành. AICPA đã ban hành chuẩn mực kiểm toán số 25
(SAS 25, AU 161) yêu cầu mỗi công ty kiểm toán phải xây dựng các chính sách và
quy trình kiểm soát chất lượng riêng cho mình tùy theo quy mô và bản chất dịch vụ
của công ty.
Tại Anh và Ireland, các tổ chức kiểm toán phải thực hiện chương trình kiểm
soát tuân thủ kiểm toán hàng năm. Việc kiểm soát này nhằm mục đích đảm bảo các tổ
chức kiểm toán đã tuân thủ các văn bản chỉ đạo kiểm toán của Viện KTV chuyên
nghiệp Anh và xứ Wales.
Tại Trung Quốc, hệ thống kiểm soát chéo đã được áp dụng và thực thi. Các
công ty phải được kiểm soát ít nhất mỗi năm một lần. Công ty kiểm soát được lựa
chọn do công ty bị kiểm soát chỉ định hoặc do Viện kế toán viên công chứng Trung
Quốc gửi đến một đội ngũ kiểm soát.
Tại Việt Nam, trước kia Bộ tài chính đảm nhận việc kiếm soát chất lượng
kiểm toán. Điều này gây ra nhiều hạn chế đối với công tác kiểm soát chất lượng do
thiếu tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa. Tuy nhiên hiện nay, công tác kiểm soát
chất lượng đã giao cho Hiệp hội nghề nghiệp thực hiện nên hứa hẹn công tác kiểm
soát chất lượng HĐKT sẽ có nhiều ý nghĩa hơn.
Về mặt chính sách, ngày 14/3/2003, Chuẩn mực kiểm toánViệt Nam số 220 về
Kiểm soát chất lượng HĐKT (Phụ lục) đã ra đời. Nhà nước đã có quy định về kiểm
soát chất lượng HĐKT để các công ty kiểm toán nghiên cứu và xây dựng quy trình
kiểm soát chất lượng cho mình để phù hợp với điều kiện của từng công ty. Hàng
năm, Bộ tài chính thông báo cho các công ty kiểm toán để kiểm soát chất lượng định
kỳ. Tuy nhiên, việc kiểm soát chỉ ở mức sơ bộ, chưa khái quát được hết chất lượng
HĐKT. Đồng thời, kết quả kiểm soát vẫn chưa được sử dụng hiệu quả để nâng cao
chất lượng dịch vụ cung cấp.
Trần Thị Thu Trang Kiểm toán 47A