Pháp luật việt nam về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - Pdf 44

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH NINH

PHáP LUậT VIệT NAM Về KIểM SOáT HợP ĐồNG THEO MẫU
TRONG LĩNH VựC TRUYềN HìNH TRả TIềN NHằM BảO Vệ QUYềN LợI
NGƯờI TIÊU DùNG

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH NINH

PHáP LUậT VIệT NAM Về KIểM SOáT HợP ĐồNG THEO MẫU
TRONG LĩNH VựC TRUYềN HìNH TRả TIềN NHằM BảO Vệ QUYềN LợI
NGƯờI TIÊU DùNG
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN TH VN ANH

H NI - 2017



Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông
qua việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền
hình trả tiền......................................................................................... 8

1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng ................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền và các loại dịch vụ
truyền hình trả tiền ............................................................................. 11
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng theo mẫu .................................... 15
1.1.4. Khái niệm, đặc trưng cơ bản của hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền ...................................................................... 20
1.2.

Khái quát chung về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền ................................................................... 22

1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết của việc ban hành pháp luật kiểm soát
hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền...................... 22
1.2.2. Khái quát chung về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền ở Việt Nam và ở một số nước trên thế giới ........ 25
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 34


Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM
SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG LĨNH VỰC
TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG .......................................................................... 35
2.1.

Nội dung pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong


Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền ............... 71


3.2.1. Hoàn thiện chế định hợp đồng theo mẫu ........................................... 71
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền ............................................................................. 73
3.2.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin
cho người tiêu dùng ............................................................................ 76
3.2.4. Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hình thức của hợp đồng theo
mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền .............................................. 77
3.2.5. Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung của hợp đồng trong
lĩnh vực truyền hình trả tiền ............................................................... 79
3.2.6. Hoàn thiện pháp luật về việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về
hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền...................... 82
3.3.

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình
trả tiền ............................................................................................... 83

3.3.1. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ......... 83
3.3.2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật
về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ....................................................... 83
3.3.3.

Tăng cường vai trò của các thiết chế thực hiện quản lý nhà nước

Số hiệu

Tên bảng

Bảng 2.1: Kết quả phát triển thuê bao PayTV tại Việt Nam

Trang
54


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người trong đó có quyền của người tiêu dùng là mục
tiêu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân ở nước ta. Xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa không nhằm mục đích nào khác là phục vụ lợi ích của toàn thể
nhân dân lao động. Trong đó, nhân dân có quyền được hưởng một cuộc sống
vật chất đầy đủ, được sử dụng những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng để
nâng cao đời sống, đáp ứng những nhu cầu cần thiết phục vụ cuộc sống của
người dân. Trong quá trình đó, không thể không nhắc đến vai trò của Doanh
nghiệp, một lực lượng quan trọng, tác động toàn diện đến các mặt của đời sống
kinh tế - xã hội, đến sự phát triển bền vững của đất nước. Các hàng hoá, dịch vụ
do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và cung cấp ngày càng phong phú, đa
dạng về chủng loại và chất lượng không ngừng nâng cao
, đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu sử dụng đa dạng và phong phú của người tiêu dùng. Mô ̣t trong số
các dịch vụ đang dần trở thành nhu cầu thiết yếu trong quá trình sinh hoạt của
người tiêu dùng hiê ̣n nay đó là dich
̣ vu ̣ Truyề n hiǹ h trả tiề. n
Ở Việt Nam, dịch vụ truyền hình trả tiền mới thâm nhập và phát triển

- Trên thế giới, hợp đồng theo mẫu đã được sử dụng rất nhiều và phổ
biến. Ở Việt Nam, loại hợp đồng này cũng đã được áp dụng ngày một nhiều
trong thực tiễn hoạt động giao dịch hàng hóa, dịch vụ giữa doanh nghiệp và
người tiêu dùng. Các doanh nghiệp ngày càng lạm dụng vị thế để sử dụng
ngày càng nhiều dạng hợp đồng theo mẫu với những điều khoản không có lợi
cho người tiêu dùng. Chính vì thế mà thông qua việc nghiên cứu đề tài này,
giúp tác giả có một cái nhìn tổng quát về việc kiểm soát loại hợp đồng này.
Từ đó có những nhận định, đóng góp không chỉ về nội dung mà còn cả thực
tiễn thực thi pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu nói chung và hợp
đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nói riêng.
- Hiện nay, qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, pháp luật về kiểm soát
hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền vẫn còn tồn tại một số

2


hạn chế, bất cập. Quá trình thực thi pháp luật trên thực tiễn còn gặp phải một
số khó khăn nhất định, vì vậy, thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả đưa ra
một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao công tác thực thi
pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
trên thực tế.
- Thông qua viê ̣c đánh giá nghiên cứu các quy định và cơ chế thực thi
pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới sẽ giúp ta tiếp thu những kinh
nghiê ̣m quý báu nhằ m kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền
hình trả tiền góp phần công tác đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp đề
tài: “Pháp luật Việt Nam về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”. Tuy nhiên
trong quá trình tìm hiểu tác giả nhận thấy cũng đã có một số công trình có nội

: “Pháp luật

Việt Nam về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả
tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” làm luận văn thạc sĩ luật học
với mong muốn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề vướng mắc trong quá trình
thực hiện pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền
hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nghiên cứu ki ̃ những quy
đinh
̣ của pháp luật để từ đó đề xuất một vài ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật
Việt Nam trong việc điều chỉnh nội dung này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn
việc thực hiện pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo thực
hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, luận văn đưa ra những mục tiêu cụ
thể sau:

4


Thứ nhất, làm rõ cơ sở khoa học, lý luận chung về hợp đồng theo mẫu.
Thứ hai, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật kiểm soát
hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng.
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng hệ thống pháp luật quy định về kiểm
soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng.

Đề tài mang ý nghĩa nghiên cứu chuyên sâu cho việc xây dựng những
quy phạm pháp luật liên quan đến kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền , là cơ sở khoa học cho việc áp dụng các quy phạm
pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thực tiễn nhằm ổn định mối
quan hệ giữa thương nhân và người tiêu dùng, cũng như tạo môi trường thuận
lơ ̣i trong viê ̣c bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài không mở rộng phạm vi nghiên cứu các nội dung về kinh tế,
chính trị, thương mại trong lĩnh vực truyền hình trả tiền mà chỉ tập trung
nghiên cứu các quy định pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam.
Thực tiễn thực hiện các quy định về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền ở Việt Nam từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về thực
hiện quyền của con người nói chung và quyền của người tiêu dùng nói riêng.
Trên cơ sở phương pháp luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, luận văn có sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp
logic, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và
phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp hệ thống được sử dụng nhằm để phân loại, tập hợp các

6


nội dung liên quan đến pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền, pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT
HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH
TRẢ TIỀN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1. Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông
qua việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng
Người tiêu dùng là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các chủ thể dùng sản
phẩm hoặc dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế mà không nhằm mục đích kinh
doanh kiếm lợi. Khái niệm người tiêu dùng được dùng trong nhiều văn cảnh khác
nhau vì thế cách dùng và tầm quan trọng của khái niệm này có thể rất đa dạng.
Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các nước trên thế
giới có ba cách quy định khác nhau về khái niệm người tiêu dùng:
Cách thứ nhất: Chỉ quy định người tiêu dùng là thể nhân (hoặc cá
nhân) [3, tr.3]. Cách quy định này thể hiện rõ luật bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối
với cá nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với
cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật bảo vệ NTD không cần thiết
phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ. Có thể kể đến quy định tại bản
Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành từ năm
1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999; quy định của Pháp luật Hoa Kỳ;
quy định của Pháp luật Pháp; quy định của pháp luật Nhật Bản…[3, tr.3].
Trong bản Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng
ban hành từ năm 1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999, khái niệm người
tiêu dùng không được giải thích một cách rõ ràng. Tuy nhiên, theo bản hướng
dẫn này người tiêu dùng được hưởng 8 quyền sau đây: (1) quyền được thỏa
mãn những nhu cầu cơ bản, (2) quyền được an toàn, (3) quyền được thông tin,

8




Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng có một số điểm hạn chế bởi lẽ theo
quy định của pháp luật thì pháp nhân có nhiều loại bao gồm cả doanh nghiệp
và các cơ quan tổ chức khác trong xã hội. Các đối tượng này họ cũng có hoạt
động tiêu dùng thông thường mà không phải các quan hệ mua bán của họ đều
là các quan hệ thương mại. Do đó trong quan hệ tiêu dùng họ cũng không
phải là những người chuyên nghiệp và cũng như các cá nhân, họ cũng không
có sẵn nguồn lực để đối phó với những hành vi vi phạm từ phía nhà sản xuất
và cũng rất cần tới sự bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD.
Cách thứ hai là quy định NTD bao gồm cả thể nhân và pháp nhân.
Trong số này, phải kể đến pháp luật của Ấn Độ và Đài Loan (Trung Quốc).
Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ năm 1986 có một số quy định như
sau (Điều 2(1d) và 2(1m)): Điều 2(1d): “Người tiêu dùng là bất cứ người nào
mua … hàng hóa… mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích
thương mại khác.” Điều 2(1m) giải thích chữ “người” (nhân) ở đây được hiểu
bao gồm: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã
hội. Quy định này tuy có vẻ hơi rộng và có thể có quan điểm cho rằng nó sẽ
làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ NTD. Tuy nhiên cách quy định này đã
khắc phục được hạn chế của cách quy định thứ nhất vì không phải lúc nào
pháp nhân cũng là người đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm từ
phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật bảo vệ NTD không bảo
vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối
tượng khá lớn trong xã hội bị xâm phạm, gây thiệt hại chung cho toàn xã hội.
Cách thứ ba là không nêu rõ chỉ là cá nhân hay gồm cả cá nhân và pháp
nhân. Cách quy định này chỉ nói là “người nào” hoặc “những ai”. Điều 3 của
Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 của Malaysia quy định: “người tiêu
dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích sinh hoạt
cá nhân hoặc sinh hoạt gia đình… và không gồm việc mua hoặc sử dụng hàng



11


truyền hình thay thế Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg nêu trên đã đưa ra khái
niệm dịch vụ truyền hình trả tiền như sau “dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch
vụ do doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền cung
cấp cho người sử dụng dịch vụ có áp dụng biện pháp kỹ thuật để quản lý,
kiểm soát và ràng buộc điều kiện thu tín hiệu”.
Như vậy, qua hai định nghĩa nêu trên có thể hiểu dịch vụ truyền hình
trả tiền là dịch vụ do doanh nghiệp được phép cung cấp dịch vụ cho người
sử dụng và có thu phí, đặc điểm chính yêu cầu của phương thức thực hiện
truyền hình trả tiền là phải có khả năng đáp ứng được việc truyền dẫn được
nhiều kênh truyền hình, các dịch vụ giá trị giá tăng và đặc biệt là phải có
khả năng quản lý được các chương trình đến từng đầu thu giải mã (cần có
hệ thống khóa mã).
Trên thế giới, truyền hình trả tiền đang chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu
so với các hình thức kinh doanh khác, nhiều nước còn vượt cả doanh thu
quảng cáo vì lợi thế của nó. Truyền hình trả tiền xuất hiện manh nha ban đầu
vào năm 1982, đến năm 1984. Teleclup - đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình
trả tiền đầu tiên - chính thức hoạt động mạnh tại Zurich, Thụy Sĩ. Đến năm
1985, số lượng thuê bao của Teleclub đã lên đến 40.000 thuê bao. Năm 1986,
lần đầu tiên truyền hình trả tiền có mặt tại Cộng hòa Liên bang Đức. Tại Mỹ
vào cuối năm 1987 số lượng hộ gia đình sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiến
đã lên tới 30%.
Cách đây 10 năm ở Việt Nam chủ yếu xem truyền hình analog miễn phí
(Free TV) thì đến nay truyền hình trả tiền (Pay TV) đã phát triển chóng mặt
và dịch vụ ngày càng hoàn thiện. Dịch vụ truyền hình trả tiền mới thâm nhập
và phát triển tại Việt Nam trong hơn 10 năm qua. Đây là một loại hình dịch
vụ hoàn toàn mới nhưng đã có bước phát triển vượt bậc không chỉ về chất

dọc (720×576), trong khi đó truyền hình HD-TV có 2 độ phân giải chủ yếu:
1920 điểm ảnh chiều ngang và x 1080 điểm chiều dọc (1920×1080) hoặc

13


1280 điểm ảnh chiều ngang và 720p điểm ảnh chiều dọc (1280×720). Chính
vì thế, số lượng các chi tiết ảnh của HDTV cao hơn nhiều so với SDTV, nên
HDTV sẽ cho các hình ảnh có độ phân biệt chi tiết cao hơn rất nhiều so với
SDTV trên các màn hình có kích thước lớn có hỗ trợ HDTV.
- Truyền hình theo yêu cầu là dịch vụ truyền hình trả tiền thực hiện việc
lưu trữ các chương trình, kênh chương trình truyền hình trả tiền và cung cấp đến
thuê bao truyền hình trả tiền theo yêu cầu của thuê bao truyền hình trả tiền
- Dịch vụ truyền hình IPTV là một hệ thống dịch vụ truyền hình kỹ
thuật số được phát đi nhờ vào giao thức Internet thông qua một hạ tầng mạng,
mà hạ tầng mạng này có thể bao gồm việc truyền thông qua một kết nối băng
thông rộng. Một định nghĩa chung của IPTV là truyền hình, nhưng thay vì qua
hình thức phát hình vô tuyến hay truyền hình cáp thì lại được truyền phát hình
đến người xem thông qua các công nghệ sử dụng cho các mạng máy tính
- Truyền hình trên điện thoại di động mobile TV: các thuê bao sẽ được
thoải mái xem các kênh truyền hình trên thiết bị di động. Chỉ cần bạn đang sở
hữu một chiết smartphone có hỗ trợ streaming có thể chạy được video clip và
hoạt động 2 chiều đã được đăng ký dịch vụ 3G trở lên của các mạng di động,
là bạn có thể đăng ký sử dụng dịch vụ tiện ích Mobile TV
- Truyền hình cáp là dịch vụ truyền hình trả tiền sử dụng cáp quang
hoặc cáp đồng trục để truyền tín hiệu nên gần như không bị ảnh hưởng bởi
các tác nhân như thời tiết hay môi trường âm thanh xung quanh, hình ảnh rõ
nét, âm thanh tốt, hỗ trợ nhiều kênh. Cáp tín hiệu sẽ phải kết nối qua Settop-box (DVB-C2) trước khi đến tivi. Đối với gia đình sử dụng nhiều tivi,
tín hiệu truyền hình này có thể được chia ra để sử dụng nhưng chất lượng
hình ảnh sẽ bị giảm đi.

tiêu dùng. Cũng chính từ lý do này, để giảm bớt thời gian cho mỗi giao dịch,
một số tổ chức lớn, những công ty chuyên cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho
một số lượng lớn khách hàng thường sử dụng các loại hợp đồng được soạn

15


sẵn thành từng mẫu nhất định và áp dụng hàng loạt. Những hợp đồng này
được gọi là hợp đồng theo mẫu hay trong pháp luật của một số nước còn có
tên là hợp đồng gia nhập hoặc hợp đồng hàng loạt.
Trên thế giới, hợp đồng theo mẫu đã được sử dụng rất nhiều và phổ
biến, được quy định bằng tên gọi khác nhau cũng như tồn tại ở nhiều hình
thức khác nhau. Một số quốc gia chú trọng đến yếu tố hình thức thì quan niệm
đây là dạng hợp đồng mẫu (standard form contract) - tức là hợp đồng soạn
sẵn, áp dụng cho nhiều đối tượng và sẽ không được thương lượng lại các điều
khoản của hợp đồng. Một số quốc gia khác lại chú trọng đến yếu tố phương
thức giao kết nên đặt tên loại hợp đồng này là hợp đồng gia nhập (adhesion
contract) - tức là hợp đồng do một bên soạn thảo, quyết định mọi nội dung có
liên quan và bên còn lại chỉ việc ký/từ chối ký hoặc trả lời đồng ý/không đồng
ý. Cũng có một số quốc gia chú trọng về tính ứng dụng của hợp đồng nên
quan niệm đây là những hợp đồng hàng loạt (boilerplate contract)[8].
Các quốc gia khác nhau có cách định nghĩa hợp đồng theo mẫu khác
nhau. Xét từ khía cạnh Luật bảo vệ người tiêu dùng, các quốc gia vùng lãnh
thổ đưa ra khái niệm hợp đồng theo mẫu gồm có: Québec, Thái Lan,
Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Hồng Kông, Ấn Độ,
Nga, Nauy, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Québec, Anh,…[8].
Điều 1379 Bộ luật Dân sự Québec năm 1991 đã định nghĩa hợp đồng
theo mẫu như sau: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng khi mà các quy định chủ
yếu được áp đặt hoặc chuẩn bị bởi một bên theo ý kiến của họ và những điều
khoản đó không thể được tự do thảo luận. Tất cả các hợp đồng không phải

biết về những nội dung của hợp đồng. Trình tự, thể thức công khai
hợp đồng theo mẫu thực hiện theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định cụ thể hơn, rõ ràng và minh
bạch hơn về hợp đồng theo mẫu khi hợp đồng này phải được công khai để bên
đề nghị được biết hoặc phải biết, trình tự, thể thức công khai hợp đồng thực

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status