Hướng dẫn học sinh khai thác atlat địa lý việt nam trang 25 du lịch - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC
ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRANG 25 – DU LỊCH

Người thực hiện: Lê Thị Hải Lan
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Địa lí

THANH HÓA, NĂM 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Trang

1. Lí do chọn đề tài

2

2. Mục đích nghiên cứu

3

3. Đối tượng nghiên cứu


16

2


I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân
lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu
hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ thông của
nước ta đã và đang được đổi mới mạnh mẽ. Mục tiêu giáo dục phổ thông đã
chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần
thiết cho học sinh. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng được đổi mới theo
hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, chống
lại thói quen học tập thụ động. Mà một trong những định hướng đổi mới phương
pháp dạy học đó là tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy
học trong nhà trường phổ thông.
Đối với bộ môn Địa lí, kênh hình (bản đồ, Atlat, biểu đồ, sơ đồ, tranh
ảnh…) có vai trò đặc biệt đối với việc dạy và học, là một trong những phương
pháp phát huy tính tự học của học sinh. Việc khai thác tốt kênh hình sẽ giúp học
sinh dễ dàng nhận thức được các sự vật, hiện tượng địa lí, thiết lập được các mối
nhân quả từ nội dung bài học.
Riêng đối với Atlat Địa lí Việt Nam, có thể được xem như cuốn “sách
giáo khoa đặc biệt”, mà nội dung của nó được thể hiện chủ yếu bằng bản đồ.
Đây là một tài liệu hữu ích không chỉ đối với học sinh mà còn cả với giáo viên.
Atlat giúp giáo viên trong đổi mới phương pháp dạy học, hỗ trợ học sinh tự học,
tự nghiên cứu, chuyển từ học thuộc lòng, ghi nhớ máy móc, thụ động sang chủ
động tìm tòi và tự lĩnh hội kiến thức.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng Atlat trong dạy và học vẫn còn rất
hạn chế. Nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc sử dụng Atlat trong giảng dạy,

1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Để đảm bảo
được điều đó, phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học
theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn
luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo cũng nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận
dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một
chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự
học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển
năng lực.”
Khoản 1. Điều 28, Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
4


khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 chỉ rõ: “Tiếp tục đổi
mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người
học”.
Đối với bộ môn Địa lí, một trong những phương pháp phát huy được tính tự
học của học sinh là sử dụng kênh hình như bản đồ, atlat, biểu đồ, sơ đồ, tranh
ảnh… Kĩ năng khai thác bản đồ nói chung và Atlat Địa lí Việt Nam nói riêng là
kĩ năng cơ bản của môn Địa lí. Nếu không nắm vững kĩ năng này thì khó có thể
hiểu và giải thích được các sự vật, hiện tượng địa lí, đồng thời cũng rất khó tự

được tầm quan trọng của thiết bị dạy học nói chung và Atlat địa lí nói riêng, nên
vẫn chưa quan tâm đúng mức đến việc sử dụng và khai thác Atlat khi học môn
địa lí. Giáo viên mới chỉ chú trọng truyền tải hết nội dung kênh chữ vì bài dài,
mà thường bỏ qua phần kênh hình. Các giáo án cũng chưa thể hiện được việc đã
khai thác Atlat trong dạy học, hệ thống câu hỏi chưa gắn với yêu cầu sử dụng
Atlat. Vì vậy bài học thường đem lại cảm giác nhàm chán, dài dòng, khiến học
sinh vừa ngại ghi chép vừa ngại học thuộc.
Xuất phát từ thực tế đó và từ kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi nhận
thấy rằng việc duy trì lối dạy học theo kiểu lấy thầy làm trung tâm, học trò thụ
động tiếp thu kiến thức, học vẹt trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay sẽ
khiến thầy trở nên “lạc hậu” trong mắt trò, và trò cũng không có cơ hội được thể
hiện sự chủ động, sự sáng tạo và năng lực tư duy của bản thân. Vì vậy, để kích
thích sự hứng thú, say mê của học sinh với bộ môn của mình và để giảm bớt áp
lực “phải học thuộc lòng mới làm được bài” tôi đã tăng cường việc sử dụng
kênh hình nói chung và Atlat Địa lí nói riêng trong các giờ học trên lớp, cũng
như đưa vào làm đề tài nghiên cứu khoa học để có thể cùng trao đổi, chia sẻ
kinh nghiệm với đồng nghiệp.
3. Các giải pháp thực hiện
3.1. Giới thiệu về Atlat Địa lí Việt Nam
Trước hết giáo viên cần giới thiệu khái quát về nội dung và cấu trúc của
cuốn Atlat Địa lí Việt Nam để học sinh có thể hình dung được và dễ dàng tìm
đến “địa chỉ” cụ thể mà các em muốn khai thác, tìm hiểu.
Nội dung chính của Atlat Địa lí Việt Nam bao gồm 29 trang (tính từ trang
2 đến hết trang 30) và được chia làm 3 phần, lần lượt từ cái chung đến cái riêng,
từ khái quát đến cụ thể, từ Địa lí tự nhiên đến Địa lí kinh tế - xã hội.
Phần thứ nhất: Hành chính (giới thiệu về các đơn vị hành chính cấp tỉnh,
thành phố của nước ta)
Phần thứ hai: Địa lí tự nhiên (bao gồm các thành phần tự nhiên như địa hình,
khí hậu, sông ngòi, đất, thực vật – động vật, khoáng sản và 3 miền tự nhiên).
6

đối tượng địa lí; phân tích mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí, phân tích mối
quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên với nhau (khí hậu và sông ngòi, đất và sinh vật,
cấu trúc địa chất và địa hình,…), giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế, dân cư và
kinh tế, kinh tế và kinh tế, tự nhiên - dân cư và kinh tế,…đánh giá các nguồn lực
phát triển ngành và vùng kinh tế; trình bày tiềm năng, hiện trạng phát triển của
một ngành, lãnh thổ; phân tích mối quan hệ giữa các ngành và các lãnh thổ kinh
7


tế với nhau; so sánh các vùng kinh tế; trình bày tổng hợp các đặc điểm của một
lãnh thổ.
Trong nhiều trường hợp, phải sử dụng kết hợp (hay “chồng xếp”) các
trang bản đồ Atlat để trình bày về một lãnh thổ địa lí cụ thể.
3.3. Hướng dẫn khai thác Atlat Địa lí Việt Nam trang 25 – Du lịch
Nội dung trang 25 – Du lịch thể hiện:
Tài nguyên du lịch tự nhiên ở nước ta bao gồm các di sản thiên nhiên thế
giới, vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển thế giới, hang động, nước khoáng,
biển và các thắng cảnh khác.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các di sản văn hóa thế giới, các di tích
lịch sử cách mạng, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, lễ hội truyền thống, làng nghề
cổ truyền.
Tình hình phát triển du lịch (số lượng khách, cơ cấu khách, doanh thu từ
du lịch…)
Các trung tâm du lịch trên nền phân tầng độ cao địa hình. Các trung tâm
du lịch được chia làm hai cấp: trung tâm du lịch quốc gia và trung tâm du lịch
vùng.
Để hướng dẫn học sinh tự phát hiện và khai thác những nội dung này, tôi
đã dùng một số phương pháp dạy học sau:
3.3.1. Sử dụng phiếu học tập
Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm lớn, yêu cầu các nhóm quan sát bản đồ

nhiên thế giới

- Vịnh Hạ Long
- Phong Nha Kẻ Bàng
- Hoàng Liên
- Ba Bể
- Tam Đảo
- Cát Bà
- Xuân Sơn
- Ba Vì
- Xuân Thủy
- Cúc Phương
- Bến En
- Pù Mát
- Vũ Quang
- Bạch Mã
- Chư Mom Ray
- Yok Đôn
- Chư Yang Sin
- Bù Gia Mập
- Bidoup- Núi Bà
- Phước Bình
- Cát Tiên

- Quảng Ninh
- Quảng Bình
- Lào cai
Vườn quốc gia
- Bắc Cạn
- Vĩnh Phúc

quyển thế giới
- Tây Nghệ An
- Nghệ An
- Cù Lao Chàm
- Quảng Nam
- Cát Tiên
- Đồng Nai- Bình
Phước- Lâm Đồng
- Kiên Giang
- Kiên Giang
- Cần Giờ
- TP Hồ Chí Minh
- Mũi Cà Mau
- Cà Mau
- Hang Chui
- Hà Giang
Hang động
- Tam Thanh
- Lạng Sơn
9


Nước khoáng

Du lịch biển

Thắng cảnh

- Tam Cốc- Bích Động
- Mỹ Lâm


- Ninh Bình
- Tuyên Quang
- Quảng Ninh
- Quảng Bình
- Bình Định
- Ninh Thuận
- Bà Rịa-Vũng Tàu
- Quảng Ninh
- Hải Phòng
- Thái Bình
- Ninh Bình
- Thanh Hóa
- Nghệ An
- Hà Tĩnh
- Quảng Bình
- Huế
- Huế
- Huế
- Đà Nẵng
- Quảng Ngãi
- Quảng Ngãi
- Bình Định
- Phú Yên
- Phú Yên
- Phú Yên
- Lào Cai
- Yên Bái
- Thừa Thiên- Huế
- Đà Nẵng

cổ truyền

- Di tích Mỹ Sơn
- Hang Pác Bó
- Điện Biên
- Nhà tù Sơn La
- Tân Trào
- Ải Chi Lăng
- Hoa Lư
- Quê hương Bác Hồ
- Địa đạo Vĩnh Mốc
- Khe Sanh
- Ba Tơ
- Buôn Ma Thuột
- Củ Chi
- Nhà tù Hà Tiên
- Nhà tù Phú Quốc
- Nhà tù Côn Đảo
- Đền Hùng
- Chùa Hương
- Phủ Giầy
- Hội Chọi Trâu
- Tháp Bà
- Katê
- Bà Chúa Xứ
- Ooc Om Boc
- Vạn Phúc
- Bát Tràng
- Đồng Kỵ
- Bầu Trúc

- Biên Hòa

3.3.2. Sử dụng hệ thống câu hỏi
* Câu hỏi tự luận
Câu 1: Dựa vào bản đồ Du lịch, Atlat Địa lí Việt Nam, em hãy nêu nhận xét về
tài nguyên du lịch của nước ta.

11


Trả lời: Tài nguyên du lịch của nước ta khá phong phú, bao gồm tài
nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, phân bố từ Bắc vào
Nam.
Câu 2: Nhận xét chung về mật độ các điểm du lịch và sự phân bố của chúng,
những nơi nào là trung tâm du lịch, ở đó có đặc điểm gì?
Trả lời: Mật độ các điểm du lịch tương đối dày, phân bố rộng khắp trên cả
nước. Những nơi có nhiều tài nguyên du lịch và chất lượng dịch vụ du lịch tốt
trở thành các trung tâm du lịch.
Câu 3: Các trung tâm du lịch của nước ta được phân thành mấy cấp? Nêu các tài
nguyên du lịch điển hình của các trung tâm du lịch.
Trả lời: Các trung tâm du lịch được chia làm hai cấp:
- Trung tâm du lịch quốc gia: 4 trung tâm
+ Hà Nội (tài nguyên du lịch điển hình là các làng nghề cổ truyền, lễ hội
truyền thống, di tích cách mạng và thắng cảnh)
+ Huế (di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử cách mạng, bãi biển, thắng cảnh)
+ Đà Nẵng (làng nghề cổ truyền, di tích lịch sử cách mạng, bãi biển, thắng cảnh)
+ Thành phố Hồ Chí Minh (làng nghề cổ truyền, di tích lịch sử cách
mạng, thắng cảnh)
- Trung tâm du lịch vùng: Lạng Sơn, Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Nha
Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cần Thơ.

du lịch quốc tế đến nước ta.
Trả lời:
- Khách du lịch quốc tế đến nước ta rất đa dạng, từ nhiều châu lục, khu
vực, quốc gia khác nhau. Điều này chứng tỏ Việt Nam là địa chỉ du lịch hấp dẫn,
được bạn bè quốc tế quan tâm.
- Trong cơ cấu khách du lịch quốc tế, đông nhất là du khách đến từ Trung
Quốc, Đông Nam Á, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kì…
- Trong giai đoạn 2000- 2007, cơ cấu khách du lịch quốc tế có sự thay đổi
+ Giảm tỉ trọng khách du lịch đến từ Trung Quốc, Đài Loan,
+ Tăng tỉ trọng khách du lịch đến từ Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Hoa Kì, Pháp, Ôxtrâylia.
* Câu hỏi trắc nghiệm
Câu 1: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 25, cho biết trung tâm du lịch nào
sau đây không phải là trung tâm du lịch quốc gia
A. Hà Nội
B. Đà Nẵng
C. Nha Trang
D. TP Hồ CHí Minh
Câu 2: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 25, cho biết các trung tâm du lịch
vùng ở phía Nam là
A. Đà Nẵng - Nha Trang - Vũng Tàu.
B. Đà Lạt, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ.
C. TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Nha Trang, Vũng Tàu.
13


D. TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Nha Trang, Huế.
Câu 3: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 25, cho biết điểm du lịch nào
thuộc khu vực Bắc Trung Bộ?
A. Cố đô Huế

C. Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Nha Trang, Mũi Né
14


D. Mỹ Khê, Mũi Né, Sa Huỳnh, Nha Trang
Câu 9: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 25, cho biết đâu là vườn quốc gia
thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long?
A. U Minh Thượng, U Minh Hạ, Tràm Chim, Cát Tiên.
B. Tràm Chim, Cần Giờ, Cát Tiên, Kiên Giang
C. U Minh Thượng, U Minh Hạ, Tràm Chim, Mũi Cà Mau
D. Tràm Chim, Cần Giờ, U Minh Thượng, U Minh Hạ.
Câu 10: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 25, cho biết các di tích lịch sử
cách mạng ở Trung du và miền núi Bắc Bộ là
A. Hang Pác Pó, Tân Trào, Ải Chi Lăng, Nhà tù Sơn La.
B. Hang Pác Pó, Tân Trào, Ảỉ Chi Lăng, Hoa Lư
C. Hang Pác Pó, Hoa Lư, Tân Trào, Quê hương Bác Hồ
D. Hang Pác Pó, Hoa Lư, Tân Trào, Cổ Loa.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Việc sử dụng phương tiện dạy học nói chung, và Atlat Địa lí Việt Nam nói
riêng, vào giảng dạy môn Địa lí với sự tham gia hướng dẫn của giáo viên đã
thực sự phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả cao trong dạy và học.
Về phía giáo viên: phần lớn giáo viên trong tổ, nhóm đi dự giờ đều có
nhận xét chung rằng việc tôi tăng cường sử dụng Atlat trong tiết dạy đã giúp
giảm thời gian truyền thụ kiến thức lí thuyết một cách khô cứng, nhàm chán.
Thay vào đó, phần nhiều thời gian dành cho các hoạt động tự học của học sinh.
Tiết học cũng trở nên sinh động, hứng khởi hơn. Kết quả giờ dạy tất cả giáo viên
trong nhóm đều xếp giờ dạy giỏi và khuyến khích tôi tăng cường áp dụng
phương pháp này.
Về phía học sinh: đa số học sinh hiểu bài, hứng thú tham gia các hoạt
động, làm việc tích cực. Các em đã có ý thức tự học, tự tìm tòi, vì vậy kiến thức

(105 học sinh)

Chưa biết
khai thác
0 học sinh
(0%)

Biết khai thác

Khai thác tốt

60 học sinh
(61,9%)

40 học sinh
(38,1%)

Sau khi dạy xong bài 31 “Vấn đề phát triển thương mại, du lịch”, có sử
dụng Atlat, tôi đã tiến hành kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức của học sinh với
câu hỏi: “Em hãy chứng minh rằng nước ta có nguồn tài nguyên du lịch phong
phú và phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam”.
Kết quả được trình bày trong bảng như sau:
Lớp
12A6,12A7, 12A8
(105 học sinh)

Giỏi
SL
35


các năng lực như: năng lực tự học, năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, sử
dụng bản đồ, sử dụng số liệu thống kê… Từ đó cũng giúp hình thành ở học sinh
phương pháp học tập mới, từ tiếp thu thụ động sang chủ động tìm tòi, phát hiện
kiến thức, phát huy hết khả năng tư duy và tính tích cực của mình.
Những kết quả trên cho thấy việc sử dụng Atlat có ý nghĩa rất lớn trong
việc nhận thức của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà
trường. Mặc dù trong phạm vi đề tài này tôi chỉ áp dụng ở trang 25- Du lịch,
nhưng phương pháp này có thể áp dụng ở nhiều trang khác trong Atlat Địa lí
Việt Nam. Từ đó giúp học sinh biết cách khai thác một trang bản đồ bất kì, biết

16


phân tích biểu đồ và rút ra những nhận xét cần thiết, đặc biệt là giúp học sinh
làm bài tốt hơn trong kì thi Trung học phổ thông quốc gia đang đến rất gần.
2. Kiến nghị
Thứ nhất: Các nhà trường cần trang bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị, đồ
dùng… để tạo điều kiện cho giáo viên trong việc nghiên cứu và sử dụng kênh
hình trong giảng dạy. Hiện nay do điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn, nên
hầu hết các trường trung học phổ thông đều chưa có phòng máy riêng, vì vậy
việc áp dụng các phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu đa năng, để tiện
cho việc chưa được phát huy. Vì vậy tôi xin có ý kiến đề xuất là mỗi trường nên
được trang bị phòng máy để đáp ứng nhu cầu học ngày càng cao của học sinh.
Thứ hai: đối với giáo viên, cần được bồi dưỡng thường xuyên các chuyên
đề về sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là sử dụng các hình ảnh động
khi hướng dẫn học sinh các kĩ năng khai thác kênh hình, Atlat.
Thứ ba: trong quá trình học tập, học sinh phải trang bị cho mình các đồ
dùng dạy học cần thiết, trong đó có Atlat Địa lí Việt Nam. Đồng thời phải tự lực
thực hiện các nhiệm vụ mà giáo viên đưa ra để thể hiện tính sáng tạo và khả
năng tư duy của chính mình.

18


Họ và tên tác giả: Lê Thị Hải Lan
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THPT Đặng Thai Mai
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá Năm học
giá xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
đánh giá
(Phòng, Sở,
(A, B,
xếp loại
Tỉnh...)
hoặc C)
1. Nâng cao kĩ năng xác định dạng Sở GD&ĐT
C
2008 - 2009
biểu đồ thích hợp trong thực
hành Địa lí ở trường THPT

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status