Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TÉ
TRỬỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
VŨ ĐỨC MINH
ĐẶC ĐIỂM TAI NẠN THƯƠNG TÍCH, KIẾN THỨC
Sơ CẤP CỨU BAN ĐẦU VÀ MỘT SỐ YẾU Tố LIÊN QUAN
CỦA NGƯ DÂN XÃ LẬP LỄ - THỦY NGUYÊN - HẢI PHÒNG
-2014
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TÉ CÔNG CỘNG
Người liướng Ilẫn khoa học:
1.
PGS.TS. Ngô Thị Nhu
2.
GS.TS. Lưoug Xuân Hiến
THÁI BÌNH-2014
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình hai năm được học tập và nghiên cứu tại trường đại học
Y-Dược Thái Bình, đê hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được sự giúp
học tập và nghicn cứu.
Thái Bỉnh, năm 2014
Vũ Đức Minh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghicn cứu khoa học của cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quá nêu trong Luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các
công trình nghicn cứu khác.
Học viên thực hiện luận văn
Vũ Đức Minh
5 KTCC
BC
BCHTUW ĐCSVN
BHYT
BYT
ĐTNC
HA
TNTT
THCS
THPT
UBND
VT
VTPM
CTPM
ầ
u
Ban chấp hành
Trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam
Bảo hiểm y tế Bộ Y
tế
Đ
ố
i
t
ư
ợ
n
g
n
g
h
i
ê
n
c
ứ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển mạnh mẽ kinh tế biền đã và đang thu hút rất nhiều lực lượng
lao động biển từ các ngành và các địa phương có biển. Theo báo cáo của Bộ Y Te
trong Hội nghị: “Triển khai thực hiện nghị quyết 04- BCHTƯW Đảng cộng sản
Việt Nam về chiến lược biến Việt nam đến năm 2020 và nhiệm vụ của ngành Y
tế”cà nước hiện có trên 6 triệu người đang làm việc trong các ngành kinh tế biển
trong số đó có trên 5 triệu lao động của ngành thủy sán đang ngày đêm bám biển
khai thác hải sán đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền biển đáo cúa Tồ quốc [29]
Tuy nhiên trong quá trình đánh bắt hải sản xa bờ các ngư dân phải sống, lao
động vất vả, tập trung dài ngày trong điều kiện môi trường khắc nghiệt cùa biển cả
như: tàu thuyền chật hẹp, sóng to, gió lớn, tiếng ồn, rung sóc, nhiệt độ cao, thiếu
thốn nhiều thứ đặc biệt là thiếu nước ngọt, dinh dưỡng mất cân đối. Điều kiện
chăm sóc sức khóe rất thiếu thốn và khó khăn, nhiều thảm họa luôn đe dọa sự an
toàn tính mạng. Theo báo cáo của Bộ Y tế cho biết chỉ tính riêng ngành thủy sản,
cơn bão số 5 năm 1997 đã cướp đi sinh mạng của 3000 người, 1300 người bị
thương, cơn bão Chan Chu năm 2006 đã cướp đi sinh mạng của 246 ngư
dân[29]Tình hình tai nạn thương tích (TNTT) đang có diễn biến phức tạp. Năm
2006 theo tác giả Khúc Xuyền và cộng sự cho biết tỷ lệ tai nạn thương tích ở ngư
dân đánh bắt hải sản chung cả nước là 8,1%; trong đó ở miền Nam có tỷ lệ cao
nhất là 15,5%; miền Trung là 7,1% và miền Bắc thấp hơn cả là 3,8% [35], Theo
tác giả Lê Hồng Minh (2011) tỷ lệ tai nạn thương tích của ngư dân đánh bắt hải
sán ở một số tỉnh phía nam Việt nam là 11,8% [13].
Với đặc thù riêng là cấp cứu trên biển khó khăn hơn nhiều so với đất liền là
phải cấp cứu trong điều kiện sóng to, gió lớn, quãng đường vận chuyển về các cơ
sở y tế mất thời gian dài nên việc vận chuyển nạn nhân về tuyến sau hoặc chi viện
từ tuyến sau cho tuyến trước gặp rất nhiều khó khăn.Bởi vậy khi có tai nạn xảy ra
các ngư dân chi biết đối phó bằng những kinh nghiệm ít ỏi của bản thân, tự cứu
15
TNTT là những thương tổn thực thể trên cơ thể người do tác động của những
năng lượng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hóa học, hoặc phóng xạ) với những mức
độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người. Ngoài ra, TNTT còn là
những sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống. Ví dụ như thiếu ôxy trong
trường hợp đuối nước, bóp nghẹt, giám nhiệt độ trong môi trường cóng lạnh.
1.1.2.
Phân loại mức độ tai nạn thương tíchỊ33J
Có 5 mức độ:
- Tử vong do TNTT: Tai nạn thương tích là nguyên nhân chính làm cho
người bị nạn từ vong.
- TNTT rất nặng: Người bị nạn có di chứng hoặc mất chức năng một cơ
quan hay một phần cơ thể
- TNTT nặng: Sau khi bị nạn, nạn nhân nằm viện hoặc dùng thuốc điều trị
liên tục 10 ngày trong viện hoặc lâu hơn
- TNTT khá nặng: Sau khi bị nạn, nạn nhân nằm viện 1 - 9 ngày
- TNTT nhẹ: Nghi làm, nghi học hoặc không sinh hoạt bình thường ít nhất 1
ngày do TNTT
TNTT là một vấn đề lớn hiện nay về sức khỏe và Y tế Công cộng. Trên Thế
giới mỗi ngày có khoáng 16.000 người chết vì các loại TNTT, kèm theo mỗi
trường hợp tử vong lại có hàng trăm người bị thương tích ở các mức độ khác nhau.
[17]
Tại Việt nam trong giai đoạn 2005- 2009 theo điều tra của Bộ Y tế , có
31.052-38.482 trường hợp tử vong do TNTT trong 1 năm, chiếm khoáng 11% của
tổng số tử vong chung.Mức độ TNTT rất đa dạng. Theo điều tra của Bộ Y tế về
tình hình TNTT ở 4 tinh thành phố (Hái dương, Hưng yên, Huế, Long An) năm
đặc điểm gần giống như chòng chành theo chiều dọc. Lúc này người ở trên tàu
phải chịu lực tác động của lực kéo chìm của tàu và lực nâng lên của sóng nên
trọng lượng cứa cơ thế lúc tăng, lúc giám. Khi tàu nhô lên đỉnh sóng thủy thủ có
cảm giác “người như bị nhấc bống lên, chân như rời khòi boong tàu”, còn khi tàu
chìm xuống chân sóng thì cám giác như “Chân đè và ấn mạnh vào mặt boong tàu”.
17
Khi lao động đánh bắt hải sản do tàu chòng chành cơ thể mất cân bằng nên
thao tác khó chính xác rất dễ sáy ra tai nạn như va đập vào thành tàu, các ngư cụ
va đập vào cơ thể. Đặc biệt vận hành tời để kéo ngư cụ khi tàu chìm xuống chân
sóng và nổi lên tạo lực ngược chiều tác động trực tiếp lên tời rất dề gây tai nạn do
tời đứt, dây tời quấn.
1.2.2.
Anh hưởng của giông, gió, hão
Biển là nơi hình thành các cơn áp thấp, giông, bão hậu quả gây nên những
trận biền động với độ cao của sóng rất lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến các
hoạt động sán xuất cũng như sự an toàn người lao động. Theo báo cáo của Bộ Y tế
cho biết chỉ tính riêng ngành thủy sản, cơn bão số 5 năm 1997 đã cướp đi sinh
mạng của 3000 người, 1300 người bị thương, cơn bão Chan Chu năm 2006 đă
cướp đi sinh mạng của 246 ngư dân [29],
1.2.3.
Anh hưởng của môi trường lao động trên tàu
Ngoài ảnh hưởng của môi trường tự nhiên các ngư dân còn phải chịu nhiều
tác động của môi trường trên tàu đến sức khỏe không những trong lúc lao động mà
mắc cạn cũng như các thương tích do các trang thiết bị đánh bắt cá và sự chuyến
động của tàu. Các TNTT khi tàu đồ ở cáng chiếm khoảng 30% trong ngành công
nghiệp đánh bắt cá trong số 5.074 vụ tai nạn từ năm 1996 đến năm 2005.
Nghicn cứu tỷ lộ mắc và hoàn cảnh dẫn đến thương tích ở các ngư dân
Iceland giai đoạn 2001-2005, tác giả Sigvaldason K và cộng sự (2010) [60] bằng
cách thu thập số liệu tại khoa cấp cứu bệnh viện trường đại học Tồng hợp
Landspitali bao gồm hoàn cánh dẫn đến tai nạn, loại tàu, kinh nghiệm, nhiệm vụ
thực hiện và điều kiện thời tiết,... Kết quả nghiên cứu cho thấy có 17 vụ tai nạn
chết nguời xảy ra trong giai đoạn 2001- 2005, trong đó có 14 vụ tai nạn xảy ra trên
tàu, với tần suất 54/100.000 nguời/năm, 1.787 vụ TNTT chủ yếu ở mức độ trung
bình.
Trong giai đoạn 1994-1996, Tomaszunas s và cộng sự (1997) điều tra 1.103
thuyền viên và ngư dân về điều kiện làm việc, tình trạng sức khỏe, cơ cấu bệnh tật
19
và TNTT thấy 7,8 % người được hỏi phàn nàn ràng sự an toàn và sức khỏe của
người làm việc trên tàu không đạt yêu cầu. Tỷ lệ TNTT là 114,5/1.000 người/ năm.
[55]
Tác giả Jaremin B (2005) [38]cho thấy trong giai đoạn 1960- 1999, trong
số 25.525 thuyền viên có 668 trường họp tử vong trên 405 tàu cùa Balan. Trong đó
66% là do các TNTT (đuối nước, mất tích và các tai nạn khác). Tỷ lệ tử vong do
TNTT cao gấp 5 lần so với tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch. Các tác giả cho rằng
mặc dù các tàu đã được hiện đại hóa, nhưng các yếu tố nguy cơ của môi trường
vẫn có tác động mạnh đến tỷ lệ tử vong. Các nhóm có nguy cơ tử vong cao là ngư
dân, thủy thủ đi biển dài ngày, thuyền viên làm việc trên boong tàu và lứa tuổi
dưới 40 tuổi. Các tác giả cho rằng cần tập trung công tác phòng chống thảm họa và
tai nạn lao động hàng hải.
Driscoll TR và cộng sự (1994) [57]điều tra hoàn cảnh và nguyên nhân gây
1.4.Những tai nạn hay gặp trên biến
1.4.1.
Đắm tìm thuyền [7]
Là một trong những tai nạn hay gặp nhất dẫn tới tử vong hoặc đế lại những
di chứng hết sức nặng nề [6,7,57], Nghiên cứu cúa Lincoln J và cs (1999) cho thấy
90% tử vong trong ngành đánh bắt cá của Alaska là do đuối nước và đắm tàu[42].
Trên thế giới đắm tàu vần tiếp tục sảy ra và là nguyên nhân gây tứ vong chú
yếu,gần đây nhất là vụ chìm phà ở Hàn Quốc làm gần 300 người tứ nạn.
Nạn nhân đắm tàu, thuyền đều bị mất ôxy nặng, thiếu ôxy tiên phát hoặc
thứ phát dẫn tới phù não và rối loạn tri thức cũng lại là nguyên nhân làm cho nạn
nhân lại bị chìm ngập trong nước thêm một lần nữa. Thiếu ôxy gây tác hại cho cơ
thể nói chung và đặc biệt đến hệ tim mạch vốn đã bị suy yếu do hạ thân nhiệt.
Nạn nhân đắm tàu thuyền đều bị hạ thân nhiệt do trên biến nhiệt độ dao động
ở mức 20- 25 độ c do đó đa số nạn nhân bị mất nhiều năng lượng, hiện tượng này
càng tăng khi sự dẫn nhiệt của nước lớn hơn 25 lần so với không khí. Quá trình
sinh nhiệt cúa cơ thế không thế bù trừ được, nạn nhân bị lạnh, thân nhiệt trung
ương giảm. Thân nhiệt hạ làm chậm lại các phản ứng của tế bào, có thể dần tới
21
chết lâm sàng rồi trở thành chết vĩnh viễn nếu không được điều trị. Thân nhiệt hạ
làm cho hệ tim mạch hoạt động không hiệu quả. Ban đầu huyết áp và tần sổ tim
tăng tạm thời, sau đó lại giảm dần. Hạ thân nhiệt dề làm cho rung tim càng nhiều
nếu thân nhiệt giảm nghiêm trọng và kéo dài. Các rối loạn khác kèm theo như:
- Hô hấp tăng khi thân nhiệt bắt đầu giảm, sau đó tần số thở giảm dần. Vận
chuyền ôxy giảm mặc dầu nhu cầu của tế bào có thể giảm, có thể sảy ra nhiễm
toan tế bào gắn liền với chuyển hóa yếm khí.
phải khí độc, các tổn thương do sức ép, chấn thương, vết thương,...
1.4.2.
Bệnh giảm áp [16]
Bệnh giảm áp là một bệnh, một tai biến đặc hiệu, nghiêm trọng chiểm tỷ lệ
cao trong các tai biến lặn. Bệnh không những có tỷ lệ tử vong cao mà còn làm tàn
phế mất sức lao động cho nhiều thợ lặn và thiệt hại đáng kể về kinh
tế.
Khi lặn dưới nước sâu người ta ở vào môi trường áp suất cao, không khí hít
vào phổi cũng có áp lực cao tương ứng, các khí trơ không tham gia chuyển hóa
nên có thể tan, tích lũy và đạt trạng thái bão hòa trong cơ thể tương ứng với áp
suất môi trường xung quanh. Ớ áp suất không khí bình thường lượng Nitơ hòa tan
trong cơ thể gần 1 lít, ở 2at lượng Nitơ trong cơ thố bão hòa là 2 lít. Sau thời gian
làm việc dưới sâu thợ lặn trở lại mặt nước. Trong quá trinh giảm áp sự hòa tan của
khí xảy ra theo quá trình ngược lại. Độ hòa tan giảm, các khí thải bớt ra ngoài cơ
thế qua đường phối. Nếu áp suất giảm chậm Nitơ từ các mô vào máu, tới phổi rồi
thải ra ngoài. Khi giảm áp nhanh Nitơ không vận chuyển kịp tới phổi giải phóng ra
ngoài sẽ tích lại trong cơ thể. Khi quá bão hòa tới mức nhất định sẽ hình thành các
bọt khí, các bọt khí hình thành to dần gây tắc mạch chèn ép các tế bào nhất là các
tế bào thần kinh gây liệt, rối loạn hoạt động cơ vòng,... Đó là nguyên nhân của
bệnh giảm áp. Trong bệnh giám áp bợt khí hình thành nhiều ở vùng nào sẽ gây tốn
thương vùng đó và có biểu hiện lâm sàng tương ứng. Các mô tùy sống (chủ yếu
phần ngực và thắt lưng), sự cung cấp máu kém, có nhiều chất mờ dề tích tụ Nitơ
23
(dung lượng nitơ hòa tan trong mỡ lớn gấp 5 lần trong máu) dễ hình thành bọt khí.
Do vậy tổn thương tùy sổng gây liệt thường gặp và là tổn thương nặng nề trong
để rất gần với nơi nghỉ và sinh hoạt của các ngư dân, chỉ một sơ xuất nhỏ như tàn
thuốc, tia lửa điện,... đều có thể kích hoạt gây cháy nổ và nguy cơ tổn thương do
bỏng nhiệt là rất lớn. Theo thống kê chưa đầy đú năm 2013 sảy ra 9 vụ cháy tàu
trong cả nước làm thiệt hại nhiều tài sản, nhiều ngư dân bị thương.
1.4.3.1.
Tác nhân và phân loại bỏng
- Tác nhân gây bỏng: Bỏng do sức nóng ướt, bỏng do sức nóng khô, bòng
do hoá chất, bòng điện ...
- Phân loại độ sâu:
+ Bòng nông
Bóng độ 1: Viêm da cấp vô khuẩn.
Bỏng độ 2: Bỏng biểu bì.
Bóng độ 3: Bóng trung bì.
+ Bỏng sâu
Bỏng độ 4: Bòng toàn bộ lóp da.
Bóng độ 5: Bóng các lớp sâu dưới lớp cân nông.
- Cách tính diện tích bỏng dựa vào 3 cách tính:
Luật số 9 của Wallace.
Gan bàn tay người bị bòng.
Các con số 1,3, 6, 9, 18.
1.4.3.2.
Diễn biến lâm sàng của bỏng
Đa số bóng nông, diện tích hẹp thì tiên lượng nhẹ, chỉ cần chăm sóc tại chỗ
là khỏi. Bỏng nặng diễn biến qua các giai đoạn:
- Giai đoạn đầu: sốc bòng trong 48 giờ đầu. Các cơ quan bị ảnh hướng của
sốc là: Não, gan, thận, trong đó thận nặng nề nhất. Cơ thể dề bị viêm thận do sốc
áo bị cháy hoặc bị nước sôi ngấm vào nếu bị bòng điện phải tìm mọi cách cắt
luồng điện, kéo người bị nạn ra khỏi vùng nguy hiềm làm hô hấp nhân tạo, xoa
bóp tim ngoài lồng ngực,... Neu bị bỏng trong các đám cháy lớn, phải tìm cách
đưa người bị nạn đến ngay chồ thoáng khí, theo dõi tình trạng thở của nạn nhân,
hút sạch dòm, báo đảm lưu thông khí. Khi bị bỏng do acid cởi bò quần áo giày