Một số giải pháp giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua hoạt động góc cho trẻ lớp mẫu giáo lớn b trường mầm non đông anh, huyện đông sơn, tỉnh thanh hóa - Pdf 44

MỤC LỤC
TT
I MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3.

Đối tượng nghiên cứu

4.
II

Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG

TIÊU ĐỀ

1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng
2.1 Thuận lợi
2.2 Khó khăn
2.3 Kết quả khảo sát
3. Các giải pháp
3.1 Giải pháp 1: Cung cấp kiến thức và kỹ năng thực hành về giáo
dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm
3.2 Giải pháp 2: Đổi mới về cách bố trí, sắp xếp, bổ sung đồ dùng
đồ chơi cho các góc chơi nhằm giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh
an toàn thực phẩm
3.3 Giải pháp 3: Chú trọng khai thác góc chơi theo hướng mở linh
hoạt để giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm
3.4 Giải pháp 4: Thay đổi nội dung và phương pháp hướng dẫn


15
15-17
17-18
17-18
18
19
20


I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu GDMN là hình thành cho trẻ những yếu tố nhân cách đầu tiên
của con người. Để đạt được mục tiêu giúp trẻ phát triển toàn diện thì ta cần phải
kết hợp hài hoà giữa nuôi dưỡng chăm sóc sức khoẻ và giáo dục đó là điều tất
yếu, đặc biệt là giáo dục về dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm trong
trường mầm non thông qua các hoạt động hàng ngày [1]. Trong những năm gần
đây, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường. Các loại thực phẩm sản
xuất, chế biến trong nước và nước ngoài nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều
chủng loại. Việc sử dụng các chất phụ gia trong sản xuất trở nên phổ biến. Cùng
với sự phát triển của xã hội thì sự ô nhiễm môi trường, sự lạm dụng hoá chất
trong trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất, việc sử dụng các loại phẩm màu, đường
hóa học đang bị lạm dụng trong pha chế nước giải khát, sản xuất bánh kẹo, chế
biến thức ăn sẵn… đang có chiều hướng gia tăng. Nhiều loại thịt bán trên thị
trường không qua kiểm duyệt thú y, nhiều đồ uống giả, không đảm bảo chất
lượng đang ở mức báo động.
Từ thực trạng như hiện nay nên trên phạm vi cả nước vấn đề về an toàn
thực phẩm vẫn còn nhiều thách thức, các vụ ngộ độc thực phẩm với quy mô lớn
xảy ra thường xuyên ở các khu công nghiệp và các bếp ăn tập thể….
Tháng 4 hàng năm được coi là “Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an

mới có sự hiểu biết đầy đủ về vấn đề dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm,
biết lựa chọn ăn uống đúng cách một cách thông minh và tự giác, có hiểu biết về
những hành vi có lợi cho sức khỏe để đảm bảo cho sức khỏe của mình và của
cộng động.
Do đó việc đưa các nội dung giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực
phẩm vào trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non là một
việc làm rất cần thiết, tạo ra sự liên thông về giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ từ lứa tuổi mầm non đến các cấp học sau.
Từ trước tới nay, trong các chương trình chăm sóc giáo dục trẻ (Cải tiến,
cải cách, đổi mới) đều có đưa một số gợi ý về nội dung giáo dục dinh dưỡng - vệ
sinh an toàn thực phẩm ở một số hoạt động chăm sóc, hoạt động tự phục vụ,
hoạt động học và hoạt động chơi. Tuy nhiên, một trong các chương trình này thì
nội dung giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa được đề cập
một cách rõ nét. Trong những năm gần đây theo xu thế đổi mới của giáo dục
mầm non thì việc đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm
vào kế hoặch giáo dục cũng đã được chú trọng hơn. Song, giáo viên cũng chỉ
chú trọng đến vấn đề chăm sóc là chủ yếu và qua đó để lồng ghép nội dung giáo
dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm, vì vậy hiệu quả của nội dung giáo
dục này còn chưa cao [3].
Giáo dục dinh dưỡng - Vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ Mẫu giáo lớn,
ngoài lồng ghép, tích hợp vào các giờ học, các hoạt động như: Hoạt động ngoài
trời, hoạt động chiều, giờ đón - trả trẻ....thì giáo dục thông qua hoạt động góc
mang lại hiệu quả rất cao, hoạt động ở các góc mang tính vui chơi, tự nguyện rất
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi trẻ.
Ở đây trẻ được trải nghiệm hết mình, tích cực tham gia các hoạt động để
khám phá, để thoả mãn tính tò mò, để bắt chước công việc nội trợ của người lớn,
qua đó trẻ sẽ lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng về dinh dưỡng - Vệ sinh an toàn
thực phẩm một cách chủ động, sáng tạo và thích thú. Và trong chương trình giáo
dục mầm non mới thì giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm là một
phần riêng biệt và được thể hiện rất rõ nét trong nội dung của lĩnh vực giáo dục

Phương pháp hệ thống hóa
Tôi tiến hành nghiên cứu đọc sách và hệ thống hóa những vấn đề lý luận
về Dinh dưỡng - Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trẻ mầm non. Sưu tầm tư
liệu, hình ảnh qua thông tin thực tế ở các lớp.
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Thông qua việc trẻ hoạt động ở các góc.
Phương pháp đàm thoại: Trao đổi trực tiếp với trẻ trong quá trình
trẻ chơi.
Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu, thông tin thu được thông qua việc sử dụng các phép tính toán học.
* Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tham khảo các bài viết, ý kiến của cán bộ quản lý, của đồng nghiệp về vấn đề
mình đang thực sự quan tâm để xây dựng bài viết hoàn chỉnh.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lý luận
Đối với trẻ Mầm non vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ vì thế hoạt
động góc có vai trò rất quan trọng và được phân bổ như một hoạt động chính
trong ngày, thông qua giờ hoạt động góc giúp trẻ rèn luyện trí nhớ, khả năng
quan sát, kỹ năng phân biệt, so sánh, phát triển sự giao lưu qua lời nói, làm giàu
vốn từ cho trẻ....nhằm giúp trẻ khắc sâu kiến thức, giúp trẻ hiểu thêm về nội
dung bài học, phát triển trí tuệ ở trẻ một cách toàn diện [4].
Mặt khác, thông qua hoạt động góc trẻ sẽ được thực hành, tiếp thu một số
kiến thức về dinh dưỡng như: cách chế biến, cách chọn thức ăn giàu dinh dưỡng.
Và giúp trẻ biết sử dụng đồ dùng phục vụ việc ăn uống và biết chế biến một số
thức ăn đơn giản, từ đó hình thành ở trẻ thói quen ăn uống tốt, thích thú các món
ăn do mình tạo ra
Trẻ ở độ tuổi Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi tôi đang phụ trách đặc điểm tâm sinh
lý của trẻ đã được phát triển mạnh nhưng chưa hoàn thiện. Trẻ đã biết bắt trước
và mô phỏng được cuộc sống thực của người lớn.

thiết bị cho nhà trường. Nề nếp, chất lượng của nhà trường ổn định và ngày càng
phát triển vững chắc đã tạo được lòng tin cho lãnh đạo và nhân dân địa phương.
Trường MN Đông Anh là trường luôn đi đầu thực hiện các chương trình
mới, việc thực hiện các chuyên đề cũng như thực hiện đổi mới phương pháp
giáo dục đã thấm nhuần đến từng cán bộ giáo viên. 100% các lớp trong nhà
trường thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới từ quản lý đến giáo viên
đã nắm vững nội dung chương trình và có nhiều kinh nghiệm trong chỉ đạo thực
hiện. Môi trường hoạt động trong và ngoài lớp được chú trọng đầu tư.
Trường đạt Chuẩn quốc gia mức độ 1, đạt chuẩn Phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ em 5 tuổi năm 2013. 100% trẻ trong lớp được đánh giá theo Bộ
chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, được học chương trình giáo dục mầm non mới.….
Nhà trường tạo mọi điều kiện để bản thân được học các chuyên đề hàng
năm, được tham khảo nhiều tài liệu, sách báo… những thông tin trên mạng đã
giúp cho bản thân có nhiều kiến thức để viết đề tài.
Được sự ủng hộ của các bậc phụ huynh học sinh đã phối hợp chu đáo,
nhiệt tình trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Lớp lớn B tôi chủ nhiệm được BGH ưu tiên về phòng nhóm lớp, có đầy
đủ các trang thiết bị hiện đại như: máy tính, mày chiếu, ti vi, đầu đĩa, băng hình
4


các loại, đồ dùng đồ chơi đầy đủ phục vụ cho chương trình GD Mầm non mới
của Bộ Giáo Dục. Phòng học rộng rãi, thoáng mát, có đủ ánh sáng cho trẻ hoạt
động. Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp là 100%, 100% trẻ ăn bán trú tại trường.
Đa số các cháu có cùng độ tuổi, cháu đi học đều và ngoan, lễ phép, biết
vâng lời cô giáo.
Bản thân tôi về trình độ đạt trên chuẩn, Khả năng ứng dụng công nghệ
thông tin tốt, có kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động chăm sóc - nuôi
dưỡng và giáo dục trẻ.
2.2. Khó khăn

NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ

SỐ TRẺ
ĐẠT

TỈ
LỆ

Số trẻ chọn trò chơi với nội dung Giáo dục dinh dưỡng – Vệ

17

47%

sinh an toàn thực phẩm.

2

Số trẻ hào hứng tham gia chơi và chơi có sáng tạo.

15

41%

3

Hiểu biết và kỹ năng của trẻ về dinh dưỡng và Vệ sinh an
toàn thực phẩm:

20

xào, rán, nướng...)
Ví dụ: Kể được ít nhất 5 loại canh: canh hến, canh cua, canh
rau cải thịt, canh cà chua trứng, canh bí nấu xương…

18

50%

3.5 Biết một số công thức làm các món ăn thông thường như: Pha
nước cam, pha nước chanh, pha sữa, cách trang trí bàn ăn, tỉa
quả, cắm hoa…
3.6 Biết mô phỏng cách làm một số món ăn thong thường qua chơi
như: nấu cơm, luộc rau, nấu canh, xào thịt, xào rau, nấu cháo…

16

44%

20

55%

3.7 Biết cách chọn thực phẩm sạch qua trò chơi đi chợ, bán hàng…

16

44%

4


12
33%
tay, rửa mặt, đánh răng, chải tóc, mặc quần áo, ăn uống sạch
sẽ, văn minh…)
* Nhận xét:
Qua khảo sát thực tế về chất lượng trẻ của lớp tôi phụ trách, tôi nhận thấy:
Về kiến thức và kỹ năng của trẻ:
- Ưu điểm: Đa số trẻ nhận biết được cần ăn uống tốt và ăn chín uống sôi,
không kén chọn thức ăn. Số trẻ nhận biết đủ 4 nhóm thực phẩm chiếm tỉ lệ cao,
nhiều trẻ gọi được tên các món ăn thông thường. Đa số trẻ nhận thức đúng và có
6


thói quen vệ sinh cá nhân tốt, chủ động thực hiện.
- Hạn chế: Các món xào, rán, nướng nhiều trẻ không kể được hoặc chỉ
kể được 1-2 món. Đặc biệt công thức làm các món ăn đơn giản và mô phỏng
cách làm các món ăn này nhiều trẻ còn lúng túng khi kể, khi thực hiện và lẫn lộn
giữa các thao tác.
Số trẻ chọn chơi các trò chơi có nội dung Giáo dục dinh dưỡng - Vệ sinh
an toàn thực phẩm còn ít, đặc biệt là trẻ trai. Trẻ ít hào hứng và sáng tạo khi chơi
ở các góc do kỹ năng chơi còn nghèo nàn và góc chơi không hấp dẫn..
Khi chơi trò chơi bán hàng, trẻ mới chú ý đến các thao tác nêu tên thực
phẩm muốn mua, mặc cả trả tiền và mang thực phẩm về. Chưa chú ý đến cách
chọn thực phẩm sạch, chọn thực phẩm theo thực đơn cần nấu….
Khi thực hiện các thao tác vệ sinh cá nhân ở các thời điểm trong ngày
hoặc mô phỏng trong khi chơi nhiều trẻ còn lúng túng và lẫn lộn thứ tự các thao
tác.
Từ thực tế trên tôi đã suy nghĩ và thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:
3. Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục dinh dưỡng Vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua hoạt động góc cho trẻ lớp Mẫu giáo
lớn B, trường mầm non Đông Anh.

mình cùng các cô nhà bếp như nhặt rau, phụ giúp chuẩn bị gia vị để nấu…

Ảnh: Trẻ thực hành và lắng nghe kiến thức Dinh dưỡng - VSATTP
Như vậy: Sau khi sử dụng biện pháp với các hoạt động dạo chơi tham
quan, hoạt động ngoại khóa… lớp tôi phụ trách đã thu được kết quả đáng trân
trọng đó là tạo cho trẻ sự hứng thú, thoải mái khi tham gia, trẻ thích trải nghiệm
thực tế, hiểu sâu kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, biết giữ gìn vệ sinh
phòng nhóm lớp, giữ gìn vệ sinh thân trẻ. Trẻ có kỹ năng về vệ sinh an toàn thực
phẩm. Ngoài ra trẻ còn biết giữ gìn vệ sinh trong gia đình trẻ và qua đó trẻ có
thể thiết kế được một số món ăn đơn giản mà trẻ biết và biết được tác dụng, lợi
ích của những món ăn đó, trẻ đã biết thế nào là ăn đủ, ăn đúng và ăn sạch và trẻ
cũng đã chủ động hơn trong ăn uống, trong sinh hoạt.
Biện pháp 2: Đổi mới về cách bố trí, sắp xếp, bổ sung đồ dùng đồ chơi
cho các góc chơi nhằm giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hàng năm lớp tôi được sự quan tâm của BGH nhà trường, phụ huynh đầu
tư trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho các góc, tuy nhiên số lượng có
hạn và chưa đảm bảo phong phú, vì vậy tranh thủ những lúc như giờ hoạt động
chơi tự chọn, giờ giải lao, tôi hướng dẫn các cháu ở lớp cùng cô tự làm đồ chơi
phục vụ giờ học, giờ chơi phù hợp theo chủ đề và đủ chủng loại: Tranh ảnh,
hình ảnh, các con vật, cây cỏ, hoa lá... Sưu tầm tranh có hình ảnh đẹp, tận dụng
các hình ảnh ở lốc lịch, bìa, hoạ báo, ảnh cũ...Vừa trang trí lớp vừa làm đồ dùng
đồ chơi. Từ nguyên liệu, phế liệu mà tôi sưu tầm cũng như tuyên truyền với phụ
huynh sau khi dùng xong không còn công dụng thì gom lại mang đến lớp cho
giáo viên làm đồ dùng đồ chơi, khi đó tôi sẽ rửa sạch và tận dụng, sáng tạo ra
những sản phẩm hữu ích thiết thực phục vụ cho hoạt động góc cũng như các
hoạt động học khác được phong phú mà vẫn đảm bảo an toàn về vệ sinh sạch
sẽ...
8



Cùng với trẻ làm các loại đồ chơi: Bồi quả từ giấy, nhuộm màu cho phù
hợp, làm các loại bảng cài, các loại lô tô, các đồ dùng phục vụ trò chơi như lọ
hoa từ chai nước rửa bát và nhiều loại đồ chơi từ các phế liệu như: Bàn ghế, ô tô
ghép từ vỏ hộp sữa, lon bia, bếp, khay đựng thực phẩm từ vỏ hộp bánh, làm các
loại hoa, bình hoa từ ống hút…

Ảnh: Trẻ làm đồ chơi cùng cô
Yêu cầu khi lựa chọn nguyên vật liệu để thiết kế đồ chơi cho trẻ phải đảm
bảo an toàn tuyệt đối, màu sắc đẹp, thu hút sự chú ý đối với trẻ, không gây độc
hại, không sắc nhọn, kích thước không quá to, hoặc quá nhỏ mà phải dễ cầm đối
với trẻ, tiện bảo quản, dễ phục hồi có tính sáng tạo từ một loại vật liệu có thể tạo
hình thành nhiều đồ chơi khác nhau và phải đảm bảo yêu cầu cung cấp kiến thức
giúp trẻ phát triển trí thông minh cho trẻ.
Vận dụng cách bố trí, sắp xếp, bổ sung đồ dùng đồ chơi cho các góc chơi
nhằm giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm tôi thấy việc đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao bữa ăn cho trẻ trong trường có hiệu quả rõ rệt:
Từ cách sắp xếp cô thường xuyên giáo dục và dạy trẻ về các thói quen vệ sinh
an toàn thực phẩm dẫn đến trẻ có ý thức hơn biết trong khi chơi biết giữ gìn đồ
dùng đồ chơi sạch sẽ, gọn gàng, trong khi ăn trẻ ăn ngon miệng hơn và hết suất.
Trẻ nhận biết được thế nào là một bữa ăn hợp lý đặc biệt là trẻ biết vệ sinh văn
minh trong bữa ăn.
10


Biện pháp 3: Chú trọng khai thác góc chơi theo hướng mở linh hoạt để
giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm
Sắp xếp các góc chơi trong lớp phải phù hợp với không gian, cắt dán các
hình ảnh trang trí phù hợp đặc điểm, tính chất từng góc chơi, tạo cho góc chơi
thêm hấp dẫn và nổi bật thu hút sự chú ý của trẻ.
Cụ thể: Góc học tập - sách bố trí ngay gần cửa lớp hoặc cửa sổ với mục

thôn, tôi đã biết khai thác thế mạnh riêng của mình đó là: Nguồn đồ chơi từ thiên
nhiên dồi dào sẵn có, gần gũi đời sống của trẻ, khả năng sáng tạo của cô và sản
phẩm của chính trẻ, làm tốt công tác tuyên truyền phối kết hợp trong giáo dục
với phụ huynh để giảm thời gian sưu tầm cho cô. Với cách làm như vậy tôi đã
huy động được phụ huynh tham gia tạo môi trường hoạt động cho trẻ, tiết kiệm
được kinh phí và công sức, trẻ hào hứng, tích cực, sáng tạo tham gia làm đồ chơi
cùng cô và thích thú khi chơi với những đồ chơi do cha mẹ, cô giáo và chính
mình làm ra.
Biện pháp 4: Đổi mới nội dung và phương pháp hướng dẫn trẻ chơi
nhằm giáo dục dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua hoạt động
góc.
Có thể tổ chức cho trẻ chơi trò chơi có nội dung Giáo dục dinh dưỡng –
Vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhiều góc chơi như:
Góc phân vai: Cửa hàng thực phẩm, Nhà hàng ăn uống, chơi gia đình,
người đầu bếp tí hon …
Góc xây dựng: Xây dựng trường MN, gia đình hoặc doanh trại bộ đội…có
bếp một chiều, có vườn rau theo ô dinh dưỡng, có mô hình VAC, có hệ thống
nước, nhà vệ sinh hợp lý, mô hình nhà ở nông thôn xanh - sạch - đẹp…
12


Góc học tập - sách: Nhà biên soạn sách tí hon, Thi chọn thực phẩm theo
yêu cầu, Người nội trợ thông thái…
Góc nghệ thuật: Cắm hoa, tỉa quả, bàn ăn của bé, vẽ, tô màu về các thực
phẩm theo nhóm chất dinh dưỡng, làm bưu thiếp về hoa, quả, con vật…
Góc thiên nhiên - cát - nước: Trồng cây, gieo hạt, in khuôn các loại con
giống theo các nhóm thực phẩm, tạo mô hình VAC trên cát.
Ví dụ: Trò chơi “Nhà biên soạn sách tí hon”: Cùng trẻ sưu tầm nhiều
loại sách báo có hình ảnh phong phú, giấy gam trắng hoặc tận dụng giấy loại
một mặt để đóng thành quyển.

sau khi ăn…qua đó đã hình thành, rèn luyện cho trẻ những thói quen vệ sinh tốt
trong chế biến, trong ăn uống và trẻ sẽ ứng dụng trong cuộc sống thực của
trẻ…ngoài ra trẻ còn biết thêm nhiều món ăn và cách chế biến các món ăn đó
(có thể là đúng hoặc chưa thực sự đúng chúng ta vẫn chấp nhận sau đó mới
hướng dẫn, bổ sung sau, miễn là trẻ chơi say mê, hứng thú và có sáng tạo)
13


Ảnh: Nhóm chơi nấu ăn ở Góc chơi Phân vai
Hoặc trò chơi “Thi chọn thực phẩm theo yêu cầu”: Từng đội 6 - 8 trẻ
chơi với nhau, chia làm 2 đội chơi, cô hoặc một trẻ làm trọng tài điều khiển trò
chơi.
Sử dụng bảng cài gồm 4 - 5 dãy băng để giắt lô tô. Cho trẻ bật qua các
vòng tròn lên tìm thực phẩm cầu giắt vào đúng theo yêu cầu quy định ở hình ảnh
được gắn phía ngoài hàng ngang hay phía trên của hàng dọc ở bảng.
Ví dụ: Hình ảnh phía trên của hàng dọc là nhóm thực phẩm giàu chất đạm
nhiệm vụ của trẻ là tìm những thực phẩm giàu chất đạm giắt tiếp xuống phía
dưới
Bảng cài này không vẽ hoặc dán cố định các hình ảnh mà sử dụng theo
dạng động: Có thể thay hình ảnh theo mục đích sử dụng, như vậy có thể sử dụng
với nhiều trò chơi, nhiều hoạt động của trẻ, đội nào trong thời gian 3 phút, tìm
và gắn đúng, nhiều số lô tô hơn đội đó sẽ dành phần thắng.
Những lần đầu tôi hướng dẫn hoặc chơi cùng trẻ, các lần sau để trẻ tự
chơi và khuyến khích trẻ sáng tạo sau các lần chơi, đưa ra những ý tưởng
chơi mới. Tôi luôn tôn trọng ý tưởng chơi của trẻ và giúp trẻ thực hiện được ý
tưởng ấy trọn vẹn hơn, hay hơn.
Với cách tổ chức có kết hợp động - tĩnh như vậy tôi đã gây được hứng thú
cho trẻ, nhiều trẻ thích chơi ở các góc, say mê sáng tạo ra nhiều trò chơi mới và
qua đó trẻ ngày càng có kiến thức sâu rộng và được rèn luyện kỹ năng thực hành
dinh dưỡng - Vệ sinh an toàn thực phẩm tốt hơn.

phối kết hợp tốt với giáo viên và nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục
trẻ.
4. Hiệu quả đạt được
4.1. Đối với trẻ:
Sau 1 năm thực hiện đưa nội dung Giáo dục dinh dưỡng - Vệ sinh an toàn
thực phẩm vào tổ chức hoạt động góc cho trẻ tại lớp mình, hiệu quả của các góc
chơi đã có nhiều chuyển biến. Kết quả cụ thể như sau:
Thời điểm khảo sát: Tháng 3 năm 2017
( Tổng số 36 trẻ)
TT

1

NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ

SỐ
TRẺ
ĐẠT

Số trẻ chọn trò chơi với nội dung Giáo dục dinh dưỡng – Vệ

36

sinh an toàn thực phẩm.

2
3

Số trẻ hào hứng tham gia chơi và chơi có sáng tạo.


3.4

3.5

3.6
3.7

thức ăn không sạch, cần rửa sạch và gọt vỏ hoa quả trước khi
ăn…
Số trẻ nhận biết đủ 4 nhóm thực phẩm, các chất dinh dưỡng
được cung cấp qua các thực phẩm này. Các thực phẩm từ
nguồn động vật, thực vật
Gọi được tên một số món ăn thông thường (Cơm, cháo, canh,
xào, rán, nướng...)
Ví dụ: Kể được ít nhất 5 loại canh: canh hến, canh cua, canh
rau cải thịt, canh cà chua trứng, canh bí nấu xương…
Biết một số công thức làm các món ăn thông thường như: Pha
nước cam, pha nước chanh, pha sữa, cách trang trí bàn ăn, tỉa
quả, cắm hoa…
Biết mô phỏng cách làm một số món ăn thông thường qua chơi
như: nấu cơm, luộc rau, nấu canh, xào thịt, xào rau, nấu cháo…
Biết cách chọn thực phẩm sạch qua trò chơi đi chợ, bán hàng…

4
Nhận thức và kỹ năng của trẻ về vệ sinh cá nhân
1.1 Trẻ có nhận thức đúng, cần phải thực hiện các thao tác vệ sinh
cá nhân ở các thời điểm trong ngày: trước trong và sau khi ăn,
sau khi đi vệ sinh và sau khi ngủ dậy, trước khi đi ngủ…
1.2 Trẻ có thói quen vệ sinh cá nhân tốt, chủ động thực hiện ở các
thời điểm, không cần nhắc nhở.

36
36

36
36

36

100
%
100
%
100
%
100
%

* Nhận xét:
Về kiến thức và kỹ năng của trẻ
100% trẻ nhận biết được cần ăn uống tốt và ăn chín uống sôi, không kén
chọn thức ăn, số trẻ nhận biết đủ 4 nhóm thực phẩm chiếm tỉ lệ cao, nhiều trẻ
gọi được tên các món ăn thông thường.
Các món xào, rán, nướng nhiều trẻ kể được tới 7- 8 món. Đặc biệt công
thức làm các món ăn đơn giản và mô phỏng cách làm các món ăn này nhiều trẻ
đã tương đối thành thạo khi kể, khi thực hiện và thực hiện đúng tuần tự các thao
tác.
Số trẻ chọn chơi các trò chơi có nội dung giáo dục - Vệ sinh an toàn thực
phẩm nhiều hơn, số trẻ trai tham gia tương đối nhiều. Trẻ hào hứng và sáng tạo
hơn khi chơi ở các góc do kỹ năng chơi đã phong phú, thành thạo hơn và góc
chơi hấp dẫn hơn..

Chính việc làm này nhà trường đã phát huy được chính nội lực của giáo
viên, không cần mất nhiều thời gian chuẩn bị nội dung bồi dưỡng mà sử dụng
chính kinh nghiệm thực tế của lớp tôi, người thực hiện sẽ có sức thuyết phục cao
từ đó giáo viên dễ hiểu hơn, hiệu quả sẽ cao hơn.
III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm
Với những kết quả đã đạt được trong việc thực hiện công tác giáo dục
dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, qua việc hướng dẫn tổ chức
hoạt động góc, tôi nhận thấy để thực hiện tốt hoạt động góc, vai trò chỉ đạo của
giáo viên là rất quan trọng. Giáo viên cần:
- Nắm bắt cụ thể, sát thực tình hình thực tiễn ở địa phương, lớp mình phụ
trách để kịp thời đưa ra những biện pháp phù hợp. Khảo sát cần có các tiêu chí
cụ thể, thực hiện trên diện rộng ở cả 3 đối tượng: Khá, trung bình và yếu.
- Xây dựng và tổ chức cho trẻ hoạt động ở các góc đã tạo nên hứng thú
cho trẻ và góp phần đáng kể cho kết quả chung của chuyên đề vì vậy cần được
tiếp tục thực hiện ở thời gian tiếp theo.
+ Việc sắp xếp, trang trí các góc chơi cần lưu ý tới đặc điểm, tính chất của
từng góc để bố trí cho phù hợp. Khi trang trí nên sử dụng hình thức động để khai
thác sự sáng tạo của trẻ và tiết kiệm thời gian công sức (sao cho làm 1 lần, sử
dụng được nhiều lần với nhiều nội dung khác nhau).
17


+ Nội dung chơi ở các góc cần lưu ý kết hợp trò chơi động và tĩnh, có thể
gắn kết nhiều góc chơi với nhau, nhiều nội dung chơi với nhau trong hoạt động
góc, sự phân chia giữa các góc chơi chỉ là tương đối đối với trẻ nhưng cần
khuyến khích tính độc lập sáng tạo của trẻ, lưu ý chọn các trò chơi có nội dung
Giáo dục dinh dưỡng - Vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ để đưa vào các chủ
điểm cho thích hợp. Với cách tổ chức như vậy sẽ gây được hứng thú cho trẻ khi
chơi, say mê sáng tạo ra nhiều trò chơi mới và qua đó trẻ ngày càng có kiến thức

HIỆU TRƯỞNG

Lê Thị Mùi

Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Đông Sơn, ngày 07 tháng 3 năm 2017
Người viết

Nguyễn Thị Vân
18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status