MỤC LỤC
1. Mở đầu:.........................................................................................................…1
1.1. Lý do chọn đề tài:........................................................................................12
1.2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................…2
1.3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.......................................................................2
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm...................................................2-3
2.2. Thực trạng...................................................................................................3-4
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.........................................4-12
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm .....................................................12-13
3. Kết luận, kiến nghị..........................................................................................13
3.1. Kết luận................................................................................................ ..13-14
3.2. Kiến nghị ........................................................................................ .......14-15
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.
“Trẻ con như búp trên cành
Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan”
(Trích trong Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, Hà nội)
Trẻ em được ví như những chồi non mới nhú của cây. Để chồi non được
lớn lên khỏe mạnh rất cần được bàn tay chăm sóc của con người, cây mới
trưởng thành đơm hoa kết trái được tốt. Sinh thời Bác Hồ luôn dành cho các em
nhỏ tình yêu thương và sự quan tâm đặc biệt, với Bác trẻ em là những mầm non,
những người chủ tương lai của đất nước. Bác nói: “ cái mầm có xanh thì cây
mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ có được nuôi
dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường, tự lập”.
Bởi vậy đi đôi với sự giáo dục là sự chăm sóc đầy trách nhiệm của nhà
trường, điều đó có một ý nghĩa quan trọng đối với việc chuẩn bị tâm thế sẵn
sàng đi học cũng như tập cho trẻ làm quen vớ những sinh hoạt gần gũi với hoạt
1
Chính vì vậy trong năm học 2018 - 2019 tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp chỉ
đạo công tác vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường Mầm non Trung Lý,
Mường lát”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Khi nói đến sức khỏe chúng ta phải biết sức khoẻ là một trạng thái thoải
mái, đầy đủ của con người về thể chất, tinh thần và xã hội. Khoẻ về thể chất là
liên quan đến bệnh tật, di truyền, dinh dưỡng, luyện tập. Tinh thần thể hiện sự
thoải mái trong cuộc sống, sự yêu thương, sự an toàn tâm lý, có niềm tin. Chúng
ta cần coi trọng sức khoẻ, vì mọi người có sức khoẻ thì công tác sẽ tốt, trẻ có
khoẻ thì học hành mới tốt, bố mẹ mới yên tâm gửi các cháu để công tác. Trường
học cần có một môi trường an toàn để trẻ học tập, vui chơi mà không có các
nguy cơ xảy ra tai nạn, nơi đó trẻ khoẻ mạnh, sức đề kháng cao giúp trẻ phòng
tránh được mọi bệnh tật. Trong cuộc sống này, không có gì quan trọng cho
chúng ta bằng chính con người chúng ta, một thân thể không bệnh tật, một tâm
hồn thoải mái, yên tĩnh đó là hạnh phúc của con người. Nếu như chúng ta may
mắn được sở hữu một sức khỏe tốt thì đồng nghĩa với việc chúng ta đang là chủ
lắm vững những thành công về mọi lĩnh vực. Sức khỏe là vốn quý của con
người, đặc biệt là đối với trẻ mầm non, vì nếu trẻ có sức khỏe tốt thì trẻ mới có
thể tham gia vào các hoạt động trong ngày một cách tích cực và thoải mái, mới
có thể là tương lai của đất nước.
Chính vì điều đó nên công tác vệ sinh an toàn thực phẩm có ý nghĩa to lớn
trong giáo dục mầm non.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu tại trường Mầm non Trung lý với 28 nhóm lớp/ 574 học sinh
và 29 giáo viên giảng dạy.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp trao đổi trực tiếp qua thực tiễn.
cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển đã dẩn đến các vụ ngộ độc thực phẩm.
Các bệnh do thực phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức
ăn mà còn là các bệnh mạn tính do nhiễm và tích lũy các chất độc hại từ môi
trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể,
trong đó có bệnh tim mạch và ung thư.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá các chương trình hành
động đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên toàn cầu đã xác định
được nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em là các bệnh đường ruột, phổ biến
là tiêu chảy. Đồng thời cũng nhận thấy nguyên nhân gây các bệnh trên là do thực
phẩm bị nhiễm khuẩn. Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế, trong 10 nguyên
nhân gây tử vong thì nguyên nhân do vi sinh vật gây bệnh đường ruột đứng thứ
2.
Đối với Ngành giáo dục nói chung, bậc học Mầm non là nơi tập trung
đông trẻ, bản thân trẻ còn nhỏ, chưa nhận thức được đầy đủ về dinh dưỡng và vệ
sinh, an toàn thực phẩm, nếu để xảy ra ngộ độc thực phẩm ở lứa tuổi này thì hậu
quả sẽ khôn lường. Vì vậy công tác chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ tại nhà trường vô cùng quan trọng, là nhiệm vụ hàng đầu
trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường mầm non.
Như chúng ta đã biết thực phẩm là nguồn mang lại các chất bổ dưỡng
nuôi cơ thể mà không có phương thuốc nào thay thế được mà nay lại chứa cả
những chất độc hại, làm cho mọi người lo âu, thực phẩm hàng ngày có an toàn
hay không nhất là đối với trẻ nhỏ được gửi vào trường bán trú thì đa số phụ
huynh thường lo lắng, không an tâm khi con trẻ vào trường được chăm sóc tập
thể và nơi tập trung nhiều trẻ nhỏ. Vì vậy làm thế nào để đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm, để tạo uy tín đối với phụ huynh để 100% phụ huynh an tâm
gửi con đến trường ngày một đông hơn.
Là một cán bộ quản lý trong nhà trường, bản thân tôi thực sự băn khoăn,
trăn trở làm thế nào để đảm bảo an toàn tuyết đối cho trẻ tại trường mầm non,
đặc biệt là làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm. Vì thế, Tôi đã quyết định chọn đề tài này.
75
9
25
Mẫu giáo
538
430
80
108
20
427
79
111
21
Khi bắt đầu thực hiện đề tài này tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
Đội ngũ giáo viên trong nhà trường tuổi đời bằng nhau, trẻ khỏe, nhiệt
tình luôn học hỏi để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
Nhà trường có các trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc tổ chức bán
trú, có đầy đủ bảng biểu trong nhà bếp theo quy định.
Có đầy đủ bộ lưu mẫu thức ăn cho cả cô và trẻ. Thực hiện nghiêm túc việc
lưu mẫu thức ăn hàng ngày, xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa, Thực hiện
tốt khâu giao nhận thực phẩm, cập nhật sổ sách nuôi đầy đủ, rõ ràng, biết tận
dụng thực phẩm sẵn có ở địa phương giàu chất dinh dưỡng để chế biến món ăn
cho trẻ.
Nhân viên dinh dưỡng đã được qua đào tạo chuyên ngành chế biến món
ăn.
Thực hiện ký kết hợp đồng thực phẩm: (gạo, trứng, thịt, cá, tôm, rau
quả…) với các đơn vị có đủ giấy tờ hợp lệ, có uy tín và đã được UBND xã, Y tế
xã kiểm duyệt. Về mặt pháp lý các đơn vị đó chịu trách nhiệm trước pháp luật
khi có vấn đề vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ví dụ: Nội dung chọn thực phẩm tươi sạch thì cung cấp cho giáo viên,
nhân viên biết:
+ Nếu là thực phẩm sống: Chỉ lựa chọn những thực phẩm còn tươi mới,
không bị dập nát, không có mùi, màu lạ.
+ Nếu là thực phẩm chín: Không mua khi thấy bày bán gần nơi cống rãnh,
bụi bẩn, bùn lầy, nước đọng, để lẫn lộn thực phẩm sống và chín, không có dao
thớt dùng riêng, không có giá kê cao, không có dụng cụ che đậy, màu sắc loè
loẹt không tự nhiên và không có đồ bao gói.
+ Nếu là thực phẩm bao gói sẵn: Không mua khi không có nhãn hàng hoá,
có nhãn mác nhưng không ghi hạn dùng, không ghi rõ nơi sản xuất.
+ Nếu là đồ hộp: Không mua khi hộp không có nhãn mác, không có hạn
sử dụng, không ghi rõ cơ sở sản xuất, hộp phồng, méo, rạn, nứt, han rỉ.
- Thực hiện vệ sinh phòng bệnh trong các nhóm lớp ở trường mầm non
như:
+ Vệ sinh môi trường: Vệ sinh không khí, giữ sạch nguồn nước, xử lý chất
thải...
+ Vệ sinh nhóm lớp: Phòng học, đồ dùng, đồ chơi, nhà bếp...
+ Vệ sinh cá nhân: Vệ sinh cá nhân cán bộ, giáo viên, nhân viên trong
toàn trường.
+ Vệ sinh trẻ: thao tác rửa tay, lau mặt, đi tiểu tiện...
Những nội dung trên tôi chỉ đạo tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau
như giảng trực tiếp, nghiên cứu tài liệu, thảo luận, dự thực hành...
Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, cập nhập thông tin về vệ sinh an toàn thực
phẩm thường xuyên cho giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng trong toàn trường.
Đặc biệt, là tập luyện bồi dưỡng và chỉ đạo thực hiện tốt các công tác
nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh nhóm lớp, cá nhân
và vệ sinh môi trường.
Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia học tập, tập huấn bồi dưỡng chuyên
môn hè, các lớp bồi dưỡng chuyên đề. Đối với giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng ,
những người trực tiếp tiếp xúc với trẻ hàng ngày, những người trực tiếp chế biến
chính, người nấu phụ, người tiếp phẩm, sơ chế thực phẩm, vệ sinh dụng cụ.
Bếp ăn có bảng thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày và
công khai tài chính cụ thể rõ ràng.
Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng nghiêm túc khâu vệ sinh nhà bếp theo
lịch hàng ngày, tuần và tháng.
Ví dụ: Hàng ngày, khi nấu nướng xong phải dọn dẹp, sắp xếp đồ dùng,
dụng cụ vào đúng nơi quy định, lau chùi quét dọn sạch sẽ, mở quạt thông gió,
mở các cửa sổ để thông gió cho khô, thoáng nhà bếp trước khi đóng cửa ra về.
- Vệ sinh đồ dùng, dụng cụ nhà bếp:
Bát ăn và nơi để thức ăn phải thoáng có lưới để ngăn không cho ruồi,
nhặng, muỗi, chuột đậu hoặc xà vào thức ăn.
Tủ bát hàng ngày phải được lau sạch, chỗ úp bát, thìa trẻ phải khô ráo,
không úp trực tiếp xuống bàn hoặc xuống tủ. Bát thìa của trẻ dùng bằng inox,
không dùng loại nhựa tái sinh và phải được hấp tráng nước sôi trước khi ăn.
Có đầy đủ dụng cụ chế biến thức ăn sống, chín riêng, dụng cụ dùng xong
phải được rửa sạch phơi khô, trước khi dùng phải rửa lại.
6
Ví dụ: Bát, dĩa, đũa, thìa… phải được rửa sạch giữ khô, ống đựng thìa đũa
phải thoáng khô sạch. Các dụng cụ như soong, nồi phải được rửa sạch, sau đó
phải treo cất đúng nơi quy định.
Thức ăn nấu chín được chia vào các dụng cụ bằng inox, không dùng loại
nhựa tái sinh, có nắp đậy hoặc phải có lòng bàn tránh ruồi nhặng bâu vào nhiễm
bẩn, tuyệt đối không dùng vải để che đậy, phủ trực tiếp lên thức ăn.
Chậu rửa, giá kệ úp dụng cụ: rổ rá, thớt, xoong nồi phải được kê cao ráo,
thông thoáng và thoát nước.
Bàn chế biến và chia thức ăn được làm bằng inox và đá sạch để không
thấm nước và dễ cọ rửa.
xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi vệ
sinh, qua mỗi công đoạn chế biến. Có khăn lau tay riêng và được giặt phơi khô
hàng ngày.
Phải tuân thủ đúng quy trình sử dụng dụng cụ chế biến thức ăn theo một
chiều, không tuỳ tiện sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống
chín lẫn lộn. Không được ho, khạc nhổ khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi nếm,
thức ăn còn thừa phải đổ đi.
Khi chia ăn cho trẻ phải đeo khẩu trang và chia bằng dụng cụ, không dùng
tay bốc, chia thức ăn. Thực hiện nghiêm túc việc cân, đong chia thức ăn cho trẻ
đảm bảo định lượng.
Nhân viên nhà bếp 6 tháng phải khám sức khoẻ định kỳ, được bố trí nơi
thay quần áo và vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho
trẻ.
- Vệ sinh cá nhân đối với giáo viên tại lớp:
Chỉ đạo các giáo viên rửa tay bằng xà phòng trước khi chia ăn và cho trẻ
ăn, sau khi đi vệ sinh. Đầu tóc, quần áo gọn gàng, đeo khẩu trang khi chia thức
ăn và cho trẻ ăn, có dụng cụ chia thức ăn riêng, không dùng tay bốc. Chuẩn bị
đủ bàn ghế, khăn ướt lau tay, đĩa đựng thức ăn rơi vãi cho trẻ. Định kỳ 6 tháng
cũng khám sức khoẻ có xét nghiệm như nhân viên dinh dưỡng.
- Vệ sinh cá nhân trẻ:
+ Tăng cường kiểm tra các nhóm lớp thực hiện nghiêm túc chế độ sinh
hoạt trong ngày phù hợp với từng độ tuổi, chú trọng công tác chăm sóc nuôi
dưỡng và các thời điểm vệ sinh cho trẻ.
Ví dụ: Trẻ phải được rửa tay trước khi ăn bằng xà phòng dưới vòi nước
chảy, rửa xong lau khô. Dạy trẻ biết rửa tay sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn,
nhắc nhở cha mẹ trẻ hàng tuần cắt móng tay, móng chân cho trẻ.
+ Dạy trẻ có thói quen biết giữ vệ sinh ăn uống:
8
Chỉ đạo nhân viên nhà bếp tuyệt đối không nhận thực phẩm không rõ
nguồn gốc, quá hạn sử dụng (đối với những mặt hàng kho), không nhận thực
phẩm chế biến sẵn, thực phẩm đông lạnh, thực phẩm không rõ nguồn gốc, nơi
sản xuất, giấy phép đăng ký chất lượng…Đặc biệt, không nhận thực phẩm
không đảm bảo chất lượng như rau không xanh tươi, cá thịt không tươi…
Nhân viên nhà bếp khi tiếp nhận thực phẩm phải ghi rõ ngày, giờ nhận
thực phẩm, tên thực phẩm, ghi rõ số lượng, tình trạng thực phẩm, sổ kiểm thực 3
bước,...Những thực phẩm bị dập nát có dấu hiệu không tươi, nghi ngờ hỏng,
không đảm bảo chất lượng, không đúng với hợp đồng thì không được tiếp nhận
và chế biến dùng cho trẻ. Các phẩm màu phụ gia thực phẩm không rõ nguồn
gốc, không nằm trong danh mục cho phép của Bộ Y tế thì không được dùng
trong trường mầm non.
Khi giao nhận thực phẩm, ngoài nhân viên nhà bếp còn có đại diện của
nhà trường, nhân viên y tế, kế toán, đại diện giáo viên trên lớp cùng kiểm tra
thực phẩm.
Thực hiện nghiêm túc kiểm thực 3 bước (kiểm tra trước khi nhận thực
phẩm,
Trước khi nấu và kiểm tra trước khi ăn).
Khâu bảo quản lưu giữ tại kho và tủ lạnh của bếp ăn nhà trường đảm bảo
vệ sinh, không để thực phẩm quá hạn, ẩm mốc, kém chất lượng. Các hộp đựng
hoặc chai, lọ đựng gia vị, thực phẩm phải có nhãn tên, không cất giữ chung với
các loại hoá chất diệt côn trùng, xà phòng, xăng dầu hoả với kho thực phẩm.
Chỉ đạo chế biến và bảo quản thực phẩm.
Nhân viên nuôi dưỡng chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng món
ăn thơm ngon, ngon, đẹp, phù hợp với trẻ, đảm bảo an toàn. Thức ăn phải được
chế biến nấu chín kỷ, nấu xong cho trẻ ăn ngay.
Thực hiện nghiêm túc quy định về lưu mẫu thức ăn: Hàng ngày, nhân viên
nuôi dưỡng phải lưu mẫu thức ăn theo đúng quy định 24 h. Mẫu thức ăn phải
liên quan đến các dịch bệnh đối với cộng đồng, và cán bộ giáo viên, nhân viên
trong toàn trường được biết để có các biện pháp, kế hoạch phù hợp với nhóm
lớp của mình. Qua đó càng nâng cao nhận thức của đội ngũ về công tác chăm
sóc nuôi dưỡng trẻ và VSATTP ở trường mầm non.
* Giải pháp 5: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với các ban
ngành và phụ huynh, lồng ghép nội dung VSATTP vào các hoạt động trong
ngày của
trẻ.
Chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên, nhân viên thường xuyên làm tốt công tác
tuyên truyền với các ban ngành và phụ huynh về công tác chăm sóc nuôi dưỡng
giáo dục trẻ, thông qua những hình thức như: Tuyên truyền qua loa truyền thanh
địa phương, các buổi họp phụ huynh, các hội thi, qua góc tuyên truyền giáo dục
các bậc cha mẹ của lớp và nhà trường. Phối hợp với các ban ngành và phụ
huynh để triển khai các công văn khẩn cấp của Trung ương, địa phương về dịch
bệnh theo mùa, tuyên truyền tháng vệ sinh an toàn thực phẩm, tuyên truyền cho
phụ huynh nhận thức, thực hiện 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho các bậc
cha mẹ trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Tổ chức cho phụ huynh tham quan bếp ăn, hướng dẫn cách chế biến thức
ăn, tham quan giờ ăn của trẻ cũng như tham quan họat động bé tập làm nội trợ.
11
Hàng tháng yêu cầu phụ huynh kết hợp với nhà trường kiểm tra nhà bếp 1-2 lần
về thu - chi trong ngày, cách chế biến, VSAT thực phẩm, cân đong ...
Phụ huynh phải nhận thức thấy rõ việc ăn uống là một nhu cầu cấp bách
hàng ngày của trẻ. Ăn uống theo đúng yêu cầu dinh dưỡng thì thể lực, trí tuệ
phát triển tốt, giúp gia đình đạt được ước mơ con cái khoẻ mạnh, thông minh,
học giỏi.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là phương tiện để thực hiện mục tiêu giáo
dục trẻ. Nếu cơ sở vật chất đầy đủ sẽ góp phần rất lớn vào kết quả chăm sóc giáo
dục trẻ nói chung và công tác VSATTP nói riêng.
Hàng năm, nhà trường đã trang cấp khá đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết
bị cho các lớp, nhất là đồ dùng phục vụ bán trú, nhưng qua quá trình sử dụng đã
hư hỏng nhiều. Vì vậy, qua đợt kiểm kê tài sản đầu năm học 2018 - 2019 ở nhà
bếp và các lớp, Tôi lên kế hoạch để mua bổ sung đồ dùng, trang thiết bị phục vụ
cho bán trú và đồ dùng cho các lớp như: Như xoong, nồi, rá, xô, chậu, bếp, thớt,
12
dao, giá để cốc, phơi khăn, bình đựng nước đảm bảo vệ sinh cho tất cả các khu
lẻ.
Đối với các lớp tổ chức ăn bán trú tôi mua sắm đầy đủ chiếu, giát giường,
chăn, gối, bát thìa, ca, khăn...đầy đủ theo số lượng trẻ.
Đầu năm học tôi xin lãnh đạo phòng giáo dục và hợp đồng thêm hai nhân
viên nuôi dưỡng có kiến thức kinh nghiệm, có năng lực, sức khỏe để đảm bảo
phục vụ tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Nhờ vậy mà ngay từ đầu năm học
trường đã ổn định đội ngũ nhân viên dinh dưỡng, trường có đầy đủ các đồ dùng
phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ giúp trẻ phát triển một cách toàn
diện về thể chất lẫn tinh thần.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua một năm chỉ đạo công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà
trường, với sự kết hợp đồng bộ các biện pháp trên, nhà trường đã có sự chuyển
biến rõ rệt trong công tác VSATTP và đạt được một số kết quả sau:
* Đối với nhà trường:
- Đội ngũ giáo viên, nhân viên có ý thức trách nhiệm cao trong việc giữ vệ
sinh chung, đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm. Biết vận dụng “Quy chế nuôi
- Kết quả cân đo cuối năm được thể hiện qua số liệu sau:
Cân nặng
Chiều cao
Độ tuổi Tổng số
BT TL% SDD TL% BT TL% TC TL%
Nhà trẻ
36
33
92
3
8
32
89
4
11
Mẫu giáo
538
490
91
48
9
485
90
53
10
* Đối với phụ huynh học sinh:
- Tất cả các bậc cha mẹ học sinh đồng tình ủng hộ về cách giữ vệ sinh và
phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn xảy ra trong nhà trường. Đã có sự phối hợp
chặt chẽ trong công tác giáo dục trẻ biết giữ vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân và
cùng nhau làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
giám hiệu đối với công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Đặc biệt, chú
trọng việc kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền với cộng đồng và xã hội về công tác
chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong trường mầm non.
14
- Thường xuyên đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo có hiệu quả về công tác
chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Là một cán bộ quản lý của nhà trường tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa và
mong muốn chuyển tải những kinh nghiệm nhỏ của bản thân để trao đổi với bạn
bè, đồng nghiệp ở các trường bạn. Tuyên truyền sâu rộng đến tất cả các bậc cha
mẹ học sinh và cộng đồng thấy được tầm quan trọng của việc đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm trong trường mầm non trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
3.2. Kiến nghị.
* Đối với UBND cấp xã, cấp huyện.:
Đầu tư kinh phí để bổ sung thêm các thiết bị hiện đại phục vụ công tác
chăm sóc bán trú và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường.
* Đối với Phòng GD&ĐT
- Tham mưu với các cấp lãnh đạo bổ sung cơ sở vật chất, các trang thiết bi
phục vụ công tác Chăm sóc nuôi dưỡng trong nhà trường.
- Phối hợp với trung tâm y tế dự phòng tiếp tục mở lớp bồi dưỡng cho cán
bộ, giáo viên cốt cán, nhân viên y tế, nhân viên cấp dưỡng những kiến thức cơ
bản về cách giữ vệ sinh và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non và
cách tuyên truyền với các bậc cha mẹ học sinh về bảo đảm vệ sinh, an toàn thực
phẩm.
* Đối với nhà trường:
- Tiếp tục tham mưu với lãnh đạo các cấp hỗ trợ kinh phí để xây dựng cơ
sở vật chất nhà trường.