MỤC LỤC
Nội dung
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng
2.2.1. Thuận lợi
2.2.2. Khó khăn
2.2.3. Kết quả khảo sát đầu năm học
2.3. Các biện pháp đã áp dụng để chỉ đạo công tác vệ sinh an toàn
thực phẩm ở trường mầm non Hoằng Cát
Biện pháp 1. Rà soát các điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm tại trường mầm non Hoằng Cát
Biện pháp 2. Xây dựng kế hoạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Biện pháp 3. Tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho
đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và nâng cao kỹ năng thực hành
công tác an toàn, vệ sinh thực phẩm.
Biện pháp 4. Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng
cụ nhà bếp, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp và vệ sinh cá
nhân cho trẻ, vệ sinh môi trường trong trường mầm non.
Biện pháp 5. Phân công đội ngũ giáo viên và nhân viên dinh dưỡng
phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường công tác.
Biện pháp 6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với công tác
chăm sóc nuôi dưỡng, chú trọng kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm
ở nhà bếp.
Biện pháp 7. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với các ban ngành
10
10
12
14
14
14
14
15
15
15
16
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền móng cho sự hoạt động và phát triển tình cảm, tâm lí của trẻ mầm non.
Việc lựa chon thực phẩm an toàn có giá trị phù hợp với trẻ mầm non là yếu tố
quyết định phát triển thể chất của trẻ.
Bên cạnh các yếu tố khác như sự chăm sóc, môi trường, vệ sinh các điều
kiện về cơ sở vật chất trang thiết bị, yếu tố môi trường bên ngoài cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển của trẻ. Với dinh dưỡng trẻ tăng cân, tăng
chiều cao nhanh, nhưng sức đề kháng kém. Vì vậy việc lựa chọn thực phẩm
cũng như tổ chức chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý
trường mầm non cần thiết phải có những biện pháp sáng tạo, phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ, với đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương.
Vì vậy là hiệu trưởng trường mầm non Hoằng Cát huyện Hoằng Hóa, bản
thân tôi luôi trăn trở làm sao để đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm trong
trường mầm non để trường mầm non thực sự là nơi gửi gắm niền tin của các bậc
Thứ nhất nhất khu vực xung quanh không bị ô nhiễm và không gần những
nơi bị ô nhiễm.
Thứ hai có đủ các trang thiết bị nhà bếp, tủ, kho bảo quản thực phảm, bồn
rửa tay cho trẻ, trang thiết bị, dụng cụ.
Bếp được sắp xếp theo nguyên tắc một chiều, tránh nhiễm chéo giữa thực
phẩm chín và thực phẩm sống. Khu vực kho, tiếp nhận nguyên liệu sơ chế,chế
biến thực phẩm chín và khu vực ăn uống, nhà vệ sinh của trẻ phải tách biệt, các
phòng được xây kiên cố, không ẩm mốc, thấm ướt.
Nhân viên bếp và cấp dưỡng được tập huấn kiến thức an toàn vệ sinh thực
phẩm, khám sức khỏe định kỳ theo quy định.
Như vậy để đạt được các yếu tố nêu trên, người quản lý trường mầm non
cần phải nắm rõ các nguyên tắc điều kiện để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
cho trẻ. đảm bảo lành và sạch.
2.2. Thực trạng
2.2.1. Thuận lợi
Trường mầm non Hoằng Cát được đặt tại khu trung tâm dân cư, xung
quanh là cánh đồng thoáng mát, có đủ diện tích, có nhiều cây xanh là trường đã
đạt chuẩn Quốc gia mức độ I trường có 10 nhóm lớp với 315 cháu bán trú đạt
100% với mức ăn là 15000 đồng/ngày/trẻ trong đó 1 bữa chính, 1 bữa phụ.
Lãnh đạo và nhân dân dịa phương quan tâm dầu tư cơ sở vật chất, trang
thiết bị đảm bảo tổ chức chăm sóc, giáo dục trẻ theo chương trình quy định.
Nhà trường có bếp 1 chiều với diện tích 200m 2 , có khu vực nấu, sơ chế,
có kho, có tủ cơm, hệ thống ga công nghiệp, hệ thống máy lọc nước sạch, có tủ
lạnh và các thiết bị đầy đủ hiện đại.
Nhà trường có đội ngũ giáo viên có trình độ đạt trên chuẩn là 21/26 đồng
chí đạt 81% và 100% các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên được tập huấn
kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm và được khám sức khỏe định kỳ.
Nhà trường đã có hợp đồng thu gom rác thải và phối hợp với hội phụ
nhân viên đạt 95%.
Tuyên truyền kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho các bậc phụ huynh
đạt 85%.
2.3. Các biện pháp đã áp dụng để nâng cao chất lượng đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non Hoằng Cát.
Biện pháp 1. Rà soát các điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
tại trường mầm non Hoằng Cát.
Trước khi bước vào năm học vào tháng 6 chúng tôi đã thành lập ban kiểm
kê cơ sở vật chất,trang thiết bị phục vụ công tác bán trú tại trường mầm non
Hoằng Cát. Kiểm kê để xác định những thiết bị còn thiếu, cần mua bổ sung, sữa
chữa, thay thế đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn cho nhà trường trong
những năm học tới.
Rà soát đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên để có kế hoạch bồi dưỡng,
tập huấn kiến thưc và tổ chức khám sức khỏe định kỳ.
Các điều kiện phòng kho, hệ thống bếp ga, tủ ủ cơm, tủ lạnh, giá đựng đồ
dùng bán trú…đảm bảo đủ số lượng và chất lượng, hạn chế sử dụng các đồ dùng
bằng nhựa tái chế.
Biện pháp 2. Xây dựng kế hoạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Sau khi rà soát các điều kiện đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, tôi
cùng với các đồng chí trong ban giám hiệu nhà trường, các tổ trưởng tổ chuyên
môn xây dựng kế hoạch đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm gồm: Kế hoạch
năm học. Đây là bản kế hoạch tổng thể nêu rõ những mục tiêu cần đạt và nhiệm
vụ cụ thể, thời gian hoàn thành các nhiệm vụ vệ sinh, an toàn thực phẩm trong
trường mầm non Hoằng Cát gồm các nội dung cụ thể đó là: Xác định mục tiêu
trẻ ăn bán trú 100%, đảm bảo bữa ăn cân đối, hợp lý, đủ năng lượng kalo cần
đạt cho mỗi độ tuổi của trẻ, không để xảy ra ngộ độc thực phẩm hoặc mất an
toàn cho trẻ, trẻ khỏe mạnh, có những kỹ năng lao động tự phục vụ.
Các nhiệm vụ cụ thể gồm: Thực hiện hợp đồng mua bán thực phẩm, ký
cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phân công nhiệm vụ cụ thể cho
những người chế biến thực phẩm và cô nuôi, tăng cường trang thiết bị phục vụ
Nếu là thực phẩm sống: Chỉ lựa chọn những thực phẩm còn tươi mới,
không bị dập nát, không có mùi, màu lạ.
Nếu là thực phẩm chín: Không mua khi thấy bày bán gần nơi cống rãnh,
bụi bẩn, bùn lầy, nước đọng, để lẫn lộn thực phẩm sống và chín, không có dao
thớt dùng riêng, không có giá kê cao, không có dụng cụ che đậy, màu sắc loè
loẹt không tự nhiên và không có đồ bao gói.
Nếu là thực phẩm bao gói sẵn: Không mua khi không có nhãn hàng hoá,
có nhãn mác nhưng không ghi hạn dùng, không ghi rõ nơi sản xuất.
Nếu là đồ hộp: Không mua khi hộp không có nhãn mác, không có hạn sử
dụng, không ghi rõ cơ sở sản xuất, hộp phồng, méo, rạn, nứt, han rỉ.
(Hình ảnh tuyên truyền với cán bộ giáo viên, nhân viên, phụ huynh về vệ sinh
an toàn thực phẩm)
Thực hiện vệ sinh phòng bệnh trong các nhóm lớp ở trường mầm non
như:
Vệ sinh nhóm lớp: Phòng học, đồ dùng, đồ chơi, nhà bếp...
Vệ sinh cá nhân: Vệ sinh cá nhân cán bộ, giáo viên, nhân viên trong
toàn trường.
Vệ sinh trẻ: thao tác rửa tay, lau mặt, đi vệ sinh.
6
(Hình ảnh các cháu đang rửa tay)
Những nội dung trên tôi chỉ đạo tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau
như trao đổi trực tiếp, thảo luận, dự thực hành.
Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, cập nhập thông tin về vệ sinh an toàn thực
phẩm thường xuyên cho giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng trong toàn trường. Đặc
biệt, là tập luyện bồi dưỡng và chỉ đạo thực hiện tốt các công tác nâng cao
chất lượng giáo dục vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh nhóm lớp, cá nhân và vệ
chín, khu chế biến thực phẩm chín, khu chia ăn.
Nhà bếp có bảng phân công dây chuyền nấu trong ngày: Người nấu
chính, người nấu phụ, người tiếp phẩm, sơ chế thực phẩm, vệ sinh dụng cụ.
Bếp ăn có bảng thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày và công
khai tài chính cụ thể rõ ràng.
Hàng ngày, khi nấu nướng xong phải dọn dẹp, sắp xếp đồ dùng, dụng cụ
vào đúng nơi quy định, lau chùi quét dọn sạch sẽ, mở quạt thông gió, mở các
cửa sổ để thông gió cho khô, thoáng nhà bếp trước khi đóng cửa ra về.
b. Vệ sinh đồ dùng, dụng cụ nhà bếp
Chạn bát hàng ngày phải được lau sạch, chỗ úp bát, thìa trẻ phải khô ráo,
không úp trực tiếp xuống bàn hoặc xuống tủ. Bát thìa của trẻ dùng bằng inox,
không dùng loại nhựa tái sinh và phải được hấp tráng nước sôi trước khi ăn.
Có đầy đủ dụng cụ chế biến thức ăn sống, chín riêng, dụng cụ dùng xong phải
được rửa sạch phơi khô, trước khi dùng phải rửa lại.
(Hình ảnh nhân viên phục vụ bán trú đang vệ sinh đồ dùng, dụng cụ nhà
bếp)
Chén bát và nơi để thức ăn phải thoáng có lưới để ngăn không cho ruồi,
nhặng, muỗi, chuột đậu hoặc xà vào thức ăn.
Bát, đĩa, đũa, thìa… phải được rửa sạch, giữ khô, ống đựng thìa, đũa
phải thoáng khô sạch. Các dụng cụ như xoong, nồi phải được rửa sạch, sau đó
phải treo cất đúng nơi quy định.
8
Thức ăn nấu chín được chia vào các dụng cụ bằng inox, không dùng loại
nhựa tái sinh, có nắp đậy hoặc phải có lòng bàn tránh ruồi nhặng bâu vào nhiễm
bẩn, tuyệt đối không dùng vải để che đậy, phủ trực tiếp lên thức ăn.
Chậu rửa, giá kệ úp dụng cụ: rổ rá, thớt, xoong nồi phải được kê cao ráo,
thông thoáng và thoát nước.
quy định. Trẻ ăn xong biết đánh răng, súc miệng sạch sẽ, uống nước.
g. Vệ sinh môi trường
* Nguồn nước
Nước là một loại nguyên liệu không thể thiếu được và nó được sử dụng
nhiều công đoạn chế biến thực phẩm và vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày đối
với trẻ.
Nước nhiễm bẩn sẽ taọ nguy cơ không tốt đến sức khoẻ của trẻ. Nếu dùng
nước an toàn trong chế biến thực phẩm phải là nước sạch lấy từ giếng khoan,
nước máy, nước giếng… và nước cũng phải được kiểm định về vệ sinh thường
xuyên. Nhà trường đó sử dụng nguồn nước sạch và luôn được sát trùng, nếu có
9
biểu hiện khác thường thì nhân viên nhà bếp báo ngay cho Ban giám hiệu nhà
trường để Ban giám hiệu nhà trường báo với cơ quan y tế xử lý kịp thời vì nếu
nước nhiễm bẩn sẽ gây ra ngộ độc thức ăn trong ăn uống, và các chứng bệnh
ngoài da của trẻ.
Nước uống luôn được đun sôi để nguội và đựng vào bình có nắp đậy bằng
Inoox, tất cả các lớp đều có bình đựng nước và bình đựng nước được cọ rửa
hàng ngày.
* Xử lý chất thải
Đối với trường bán trú có rất nhiều loại chất thải khác nhau như: Nước
thải, khí thải, rác thải… Nước thải từ nhà bếp, khu vệ sinh tự hoại, rác thải từ
rau củ, rác từ thiên nhiên lá cây, các loại nilông, giấy lộn, đồ sinh hoạt thừa, vỏ
hộp sữa…Nếu không cú biện pháp xử lý tốt sẽ làm ôi nhiễm môi trường. Các
loại rác thải là nơi tập trung và phát triển của các loại côn trùng và chúng bay
đến đậu nơi thức ăn cũng sẽ gây nên các mầm bệnh, ngộ độc thức ăn ở trường.
Các chất thải ra phải cho vào thùng rác và cú nắp đậy. Rác thải đó được nhà
trường ký kết hợp đồng với nhân viên vệ sinh môi trường của thôn thu gom và
xử lý hàng ngày, vì vậy khuôn viên trường lớp không có rác thải tồn đọng và
phẩm khi vận chuyển không bị dập nát, khi rửa làm vệ sinh thùng, hộp được dễ
dàng, sạch sẽ.
Nghiêm túc thực hiện việc ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp thực
phẩm. Bản hợp đồng thực phẩm có xác nhận của hiệu trưởng nhà trường, nhà
cung cấp thực phẩm và xác nhận của ủy ban nhân dân xã.
Phối hợp với Y tế xã tuyên truyền tác hại của việc sử dụng các loại hoá
chất trong nuôi trồng sản xuất và bảo quản thực phẩm tới toàn thể nhân dân.
b. Chỉ đạo công tác tiếp phẩm và giao nhận thực phẩm
(Giao nhận thực phẩm giữa người bán, nhân viên nuôi dưỡng và ban giám hiệu)
Chỉ đạo nhân viên nhà bếp tuyệt đối không nhận thực phẩm không rõ
nguồn gốc, quá hạn sử dụng (đối với những mặt hàng kho), không nhận thực
phẩm chế biến sẵn, thực phẩm đông lạnh. Đặc biệt, không nhận thực phẩm
không đảm bảo chất lượng như rau không xanh tươi, cá, thịt không tươi, khi tiếp
nhận thực phẩm phải ghi rõ ngày, giờ nhận thực phẩm, tên thực phẩm, ghi rõ số
lượng, tình trạng thực phẩm vào sổ kiểm thực 3 bước. Khâu bảo quản lưu giữ tại
kho và tủ lạnh của bếp ăn nhà trường đảm bảo vệ sinh, không để thực phẩm quá
11
hạn, ẩm mốc, kém chất lượng. Các hộp đựng hoặc chai, lọ đựng gia vị, thực
phẩm phải có nhãn tên, không cất giữ chung với các loại hoá chất diệt côn trùng,
xà phòng, xăng dầu hoả với kho thực phẩm.
c. Chỉ đạo chế biến và bảo quản thực phẩm
Nhân viên nuôi dưỡng chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng món
ăn thơm ngon, ngon, đẹp, phù hợp với trẻ, đảm bảo an toàn. Thức ăn phải được
chế biến nấu chín kỷ, nấu xong cho trẻ ăn ngay.
Thực hiện nghiêm túc quy định về lưu mẫu thức ăn: Hàng ngày, nhân viên nuôi
Phụ huynh phải nhận thức thấy rõ việc ăn uống là một nhu cầu cấp bách
hàng ngày của trẻ. Ăn uống theo đúng yêu cầu dinh dưỡng thì thể lực, trí tuệ
phát triển tốt, giúp gia đình đạt được ước mơ con cái khoẻ mạnh, thông minh,
học giỏi.
Bên cạnh đó, chỉ đạo giáo viên đưa nội dung giáo dục môi trường, vệ sinh
an toàn thực phẩm vào các giờ hoạt động, nhằm giúp trẻ tích cực tham gia giữ
vệ sinh đảm bảo an toàn thực phẩm như: lao động tự phục vụ, giữ vệ sinh môi
trường, rèn thói quen vệ sinh cá nhân và các hành vi văn minh nơi công cộng,
tạo môi trường thân thiện trong nhà trường.
Tổ chức tuyên truyền bằng các hình thức như: Xây dựng góc tuyên
truyền, viết bài tuyên truyền, trao đổi với phụ huynh trong các giờ đón trẻ để
phối hợp tốt với phụ huynh.
(Giáo viên và phụ huynh phối kết với nhau trong giờ đón, trả trẻ)
Đưa nội dung giáo dục môi trường, an toàn thực phẩm vào các giờ hoạt
động chung nhằm giúp trẻ tích cực tham gia giữ vệ sinh đảm bảo an toàn thực
phẩm như lao động tự phục vụ, giữ vệ sinh môi trường, rèn thói quen vệ sinh cá
nhân và các hành vi văn minh nơi công cộng, tạo môi trường thân thiện trong
trường lớp Mầm non. Phối hợp với y tế, tổ chức hỗ trợ cho công tác an toàn
thực phẩm, lên kế hoạch phun thuốc diệt côn trùng ít nhất hai lần trong một năm
học để cảnh quan môi trường luôn sạch đẹp đảm bảo vệ sinh.
Tuyên truyền phổ biến kiến thức nuôi con theo khoa học, thông báo sức
khỏe của từng trẻ qua bản tin tại các nhóm lớp để phụ huynh nắm bắt được tình
hình sức khỏe của con em mình để từ đó phối kết hợp với nhà trường nuôi
dưỡng trẻ.
13
Xây dựng 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho người
làm bếp và 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho phụ huynh và nhân dân cần
Kiểm tra bếp: Nhà bếp đó được chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh
kiểm tra và công nhận bếp ăn đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Dụng
cụ: bát, thìa, cốc được kiểm tra đạt yêu cầu theo đúng quy định.
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hàng năm không xảy ra ngộ độc.
2.4.2. Đối với trẻ
Hình thành ở trẻ nhiều kỷ năng về tự phục vụ bản thân. Biết giữ vệ sinh
cá nhân, vệ sinh môi trường thông qua các giờ học tích hợp, vui chơi, ca dao,
đồng dao…
Biết được một số công việc lao động để giữ vệ sinh nơi công cộng, vệ
sinh môi trường như: không vứt rác bừa bãi, khạc nhổ nơi công cộng, biết bỏ rác
đúng nơi quy định, vệ sinh lớp học hàng ngày và biết được công tác giữ vệ sinh
rất quan trọng đối với sức khoẻ con người.
2.4.3. Đối với các bậc phụ huynh.
14
Phụ huynh hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn vệ sinh
thực phẩm đối với trẻ. Tất cả các bậc cha mẹ học sinh đồng tình ủng hộ về cách
giữ vệ sinh và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn thường sảy ra trong nhà
trường. Để có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
cũng như quan tâm đến việc lựa chọn thực phẩm sạch, có lợi cho sức khỏe của
trẻ và của các thành viên trong gia đình, giáo dục trẻ biết giữ vệ sinh chung, vệ
sinh cá nhân và cùng nhau làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Để thực hiện tốt công tác vệ sinh, an toàn thực phẩm trong trường mầm
non Hoằng Cát” năm học: 2017- 2018 thì cần thiết phải áp dụng các biện pháp
đó là:
Rà soát các điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại trường mầm
non Hoằng Cát.
pháp trên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, cố gắng nhiều hơn nữa
15
và chuyển tải những kinh nghiệm vốn có của bản thân để trao đổi với bạn bè,
đồng nghiệp ở các trường bạn. Tuyên truyền sâu rộng đến tất cả các bậc cha mẹ
học sinh và cộng đồng thấy được tầm quan trọng của việc đảm bảo vệ sinh, an
toàn thực phẩm trong trường mầm non Hoằng Cát và trong công tác chăm sóc
giáo dục trẻ.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với ủy ban nhân dân huyện Hoằng Hóa
Cần biên chế nhân viên dinh dưỡng cho các trường mầm non để họ
yên tâm công tác. Mở nhiều lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ.
3.2.2. Đối với phòng Giáo dục - Đào tạo Hoằng Hóa
Tổ chức cho các trường mầm non trong huyện học tập kinh nghiệm ở các
đơn vị điển hình tiên tiến, kiểm tra chéo giữa các trường mầm non trong huyện
về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Trên đây là “Một số biện pháp chỉ đạo côn tác vệ sinh, an toàn thực
phẩm trong trường Mầm Non Hoằng Cát”. Qua thời gian tìm tòi và nghiên
cứu, không sao tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm hỗ
trợ, đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học các cấp để sáng kiến kinh nghiệm
ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
XÁC NHẬN CỦA THỦ
Hoằng Cát, ngày 11 tháng 5 năm 2018
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
PHÓ HIỆU TRƯỞNG
viết không sao chép nội dung của người