Kinh nghiệm dạy giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5 - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Môn Toán ở Tiểu học có một tầm quan trọng đặc biệt. Thông qua môn Toán
trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về toán học. Rèn cho học sinh kĩ
năng tính toán, kĩ năng đổi đơn vị, kĩ năng giải toán có lời văn… Đồng thời qua
dạy toán giáo viên hình thành cho học sinh phương pháp học tập, khả năng phân
tích tổng hợp, óc quan sát, trí tưởng tượng tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo,
tư duy.
Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt động dạy
học trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả”. Để đạt được yêu cầu đó, giáo viên
phải có phương pháp và hình thức dạy học để vừa nâng cao hiệu quả cho học
sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học và trình độ
nhận thức của học sinh, để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói
chung và của ngành giáo dục bậc tiểu học nói riêng.
Trong chương trình Toán lớp 5 những bài toán về "Chuyển động đều"
chiếm một số lượng tương đối lớn. Đây là một dạng toán tương đối khó đối với
học sinh. Học tốt dạng toán này giúp học sinh rèn kĩ năng đổi đơn vị đo thời
gian, kĩ năng tính toán, kĩ năng giải toán có lời văn. Bên cạnh đó ta còn thấy các
bài toán chuyển động đều có rất nhiều kiến thức được áp dụng vào thực tế cuộc
sống. Vì thế bài toán chuyển động đều cung cấp một lượng vốn sống hết sức cần
thiết cho một bộ phận các em học sinh không có điều kiện học tiếp bậc phổ
thông cơ sở mà phải nghỉ học để bước vào cuộc sống lao động sản xuất. Mặt
khác: việc hình thành , rèn luyện, củng cố các kĩ năng giải toán "Chuyển động
đều" gần như là chưa có nên các em không thể tránh khỏi những khó khăn, sai
lầm khi giải loại toán này. Vì thế rất cần phải có phương pháp cụ thể đề ra để
dạy giải các bài toán "Chuyển động đều" nhằm đáp ứng các nội dung bồi
dưỡng, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên; bồi dưỡng, nâng cao khả
năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học sinh. Đó là những cuốn sách viết về
loại toán chuyển động đều, nhưng những cuốn sách này mới chỉ dừng lại ở mức
độ hệ thống hóa các bài tập (chủ yếu là bài tập khó) cho nên sách chỉ được dùng

Sử dụng để điều tra thái độ học tập, hứng thú học tập với môn học tập, trình độ
nhận thức, tư duy, nguyên nhân tư cách giảng dạy của giáo viên.
3. Phương pháp dạy toán ở tiểu học.
4. Phương pháp phân tích - tổng hợp.

2


B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Ở độ tuổi đầu cấp Tiểu học, tri giác của các em còn gắn liền với hoạt đông
thực tiễn (rờ, nắn, cầm, bắt), nhưng với học sinh lớp 5, tri giác của các em
không còn gắn với hoạt động thực tiễn, các em đã phân tích được từng đặc điểm
của đối tượng, biết tổng hợp các đặc điểm riêng lẽ theo quy định. Tuy nhiên, do
khả năng chú ý chưa cao nên các em vẫn hay mắc sai lầm khi tri giác bài toán
như: đọc thiếu đề, chép sai hay nhầm lẫn giữa các bài toán na ná giống nhau.
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng còn rất bỡ ngỡ
trước một số thao tác tư duy như: so sánh, phân tích, suy luận… Khả năng khái
quát thấp, nếu có thì chỉ có thể dựa vào dấu hiệu bên ngoài.
Học sinh tiểu học thường ghi nhớ một cách máy móc do vốn ngôn ngữ
còn ít. Vì thế các em thường có xu hướng học thuộc lòng từng câu, từng chữ
nhưng không hiểu gì. Ở các em, trí nhớ trực quan hình tượng phát triển mạnh
hơn trí nhớ lôgic. Cho nên các em giải các bài toán điển hình như toán chuyển
động đều một cách máy móc dựa trên trí nhớ về phép tính cơ bản. Khi gặp bài
toán nâng cao học sinh rất dễ mắc sai lầm. Trí nhớ của các em không đủ để giải
quyết các mâu thuẩn trong bài toán.
Tuy nhiên, học sinh lớp 5 đã biết phối hợp sử dụng tất cả các giác quan để
ghi nhớ một cách tổng hợp. Bước đầu có nhiều biện pháp ghi nhớ tốt hơn các tài
liệu hoặc kiến thức đã học. Ngôn ngữ của học sinh lớp 5 đã phát triển mạnh mẽ
về ngữ âm, ngữ pháp và từ ngữ. Riêng học sinh lớp 5 đã nắm được một số quy

1.Thực trạng:
Trong chương trình giảng dạy và qua việc dự giờ một số đồng nghiệp khi
dạy và học dạng toán Chuyển động đều, tôi nhận thấy một thực tế như sau:
* Về phía học sinh: Học sinh tiếp cận với toán chuyển động đều còn bỡ
ngỡ gặp nhiều khó khăn. Các em chưa nắm vững hệ thống công thức, chưa nắm
được phương pháp giải theo từng dạng bài khác nhau. Trong quá trình giải toán
học sinh còn sai lầm khi đổi đơn vị đo thời gian. Học sinh trình bày lời giải bài
toán không chặt chẽ, thiếu lôgíc. Học sinh còn mắc một số sai lầm khi giải toán
chuyển động đều. Đó là:
+ Sai lầm do học sinh chưa đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ về dữ
liệu và điều kiện đưa ra trong bài toán.
+Khi giải toán, học sinh còn nặng về trí nhớ máy móc, tư duy chưa linh
hoạt.
+ Vốn ngôn ngữ của học sinh còn nhiều hạn chế nên diễn đạt chưa tường
minh.
*Về phía giáo viên:
+ Do thời gian phân bố chương trình toán Chuyển động đều ít nên việc
mở rộng vốn hiểu biết và khả năng tư duy cho học sinh còn hạn chế trong quá
trình dạy học.
+ Khi dạy, giáo viên chưa chú trọng hướng dẫn học sinh cách giải theo
từng dạng bài; không chú ý quan tâm rèn kĩ năng giải toán một cách toàn diện
cho học sinh.
+ Một số giáo viên còn phụ thuộc vào sách, chưa biến tri thức của sách
thành của mình. Trong quá trình dạy còn máy móc, không làm rõ bản chất toán
học nên gây khó khăn cho học sinh trong quá trình tiếp thu.
Để thấy rõ tình hình thực trạng của việc dạy và học toán chuyển động đều
cũng như những sai lầm mà học sinh thường mắc phải, tôi đã tiến hành khảo sát
trên 2 lớp 5A và 5B.
Tôi chọn lớp 5A là lớp tiến hành dạy thực nghiệm, lớp 5B là lớp đối chứng.
2. Kết quả của thực trạng:

Mức 2
SL
TL
7
25,9%
7
25%

Mức 3
SL
TL
7 25,9%
9 28,8%

Chưa hoàn
thành
SL
TL
3
11,2%
4
14,2%

Tôi nhận thấy bài làm của học sinh đạt kết quả không cao, số lượng học
sinh chưa hoàn thành chiếm tỉ lệ còn cao. Đa số học sinh chưa nắm vững cách
giải của bài tập 2.
Học sinh lúng túng chưa nhận ra dạng điển hình của toán chuyển động
đều. Một số em còn sai lầm không biết đổi 30 phút ra đơn vị giờ để tính quãng
đường mà đã tính ngay: (Độ dài quãng đường là: 30 x 12,5 = 375 ( km ) ).
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN


3
x 60 = 45.
4

3
giờ = 45 phút.
4

* Cách đổi từ km/giờ sang km/phút sang m/phút.
VD: 120 km/giờ = …..km/phút = ……m/phút.

5


Bước 1: Thực hiện đổi từ km/giờ sang km/phút.
- Thực hiện đổi 120 km/giờ = …….km/phút.
- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60.
120 : 60 = 2
* Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút.
Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/giờ sang km/phút ta lấy số phải đổi
chia cho 60.
Bước 2: Thực hiện đổi từ km/phút sang m/phút.
- Đổi 2 km/phút = ….m/phút.
- Vì 1km = 1000 m , nên 2 x 1000 = 2000.
* Vậy 2 km/phút = 2000 m/phút.
Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/phút sang m/phút ta lấy số phải đổi
nhân với 1000.
Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút = 2000 m/phút.
* Cách đổi từ m/phút sang km/phút, sang km/giờ.

- t: Thời gian.

- s: Quãng đường.
- v: Vận tốc.
Đồng thời tôi giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng vận
tốc quãng đường, thời gian.
- Khi đi cùng vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian (Quãng
đường càng dài thì thời gian đi càng lâu ).

6


- Khi đi cùng thời gian thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc (Quãng
đường càng dài thì vận tốc càng lớn )
- Khi đi cùng quãng đường thì thời gian tỉ lệ nghịch với vận tốc ( Thời
gian ngắn thì vận tốc nhanh, thời gian dài thì vận tốc chậm ).
3) Nhận dạng các bài toán về chuyển động đều
Ta chia bài toán chuyển động đều ở lớp 5 làm hai loại như sau:
3.1) Loại đơn giản (giải trực tiếp bằng công thức cơ bản): có 3 dạng bài
toán cơ bản như sau:
Dạng 1: Cho biết vận tốc và thời gian chuyển động, tìm quãng đường.
Công thức giải: Quãng đường = vận tốc x thời gian.
Ví dụ: Một người đi xe đạp trong 15 phút với vận tốc 15,2km/giờ. Tính
quãng đường đi được của người đó?
Giải:
Đổi 15 phút = 0,25 giờ
Quãng đường người đó đi được là:
15,2 x 0,25 = 3,8 (km)
Đáp số : 3,8 km
Dạng 2: Cho biết quãng đường và thời gian chuyển động, tìm vận tốc.

+ Công thức: s = (v1+v2) x t.
- Thời gian = Quãng đường : Tổng vận tốc.
+ Công thức: t = s : (v1+v2)
- Tổng vận tốc = Quãng đường : thời gian.
+ Công thức: (v1+v2)= s : t
Ví dụ: Một xe tải đi từ A đến B với vận tốc 45km/giờ, cùng lúc đó một xe
khách đi từ B đến A với vận tốc 60km/giờ. Biết quãng đường AB dài 262,5km.
Hỏi sau bao lâu hai xe gặp nhau và điểm gặp nhau cách B bao nhiêu km?
Để giải được bài toán này, học sinh phải vận dụng công thức suy luận tính
thời gian gặp nhau của hai động tử chuyển động đều ngược chiều:
t = s : (v1 + v2)
Muốn vận dụng được những công thức suy luận này thì học sinh phải nhận
dạng được bài toán. Tôi đã hướng dẫn học sinh nhận dạng bằng cách :
- Xác định xem bài toán có mấy chuyển động.
- Biểu diễn các chuyển động trên sơ đồ đoạn thẳng.
- Xét xem các động tử đó chuyển động cùng chiều hay ngược chiều.
- Vận dụng công thức suy luận để tính.
Giải:
Tổng vận tốc của hai xe là:
45 + 60 = 105 (km/giờ)
Thời gian hai xe gặp nhau là:
262,5 : 105 = 2,5 (giờ)
Điểm hai xe gặp nhau cách B là:
60 x 2,5 = 150 (km)
Đáp số: 2,5 giờ và 150 km.
* Để giúp học sinh nhớ công thức tính thời gian để hai động tử gặp nhau,
ta có câu thơ:
" Dẫu có xa xôi chẳng ngại chi,
Tôi - Bạn hai kẻ ngược chiều đi,
Vận tốc đôi bên tìm tổng số,

9


các trường hợp.
+ Vật chuyển động qua cột mốc: Thời gian qua cột mốc bằng chiều dài
vật chia vận tốc vật ( t = L : v)
+ Vật chuyển động qua cầu có chiều dài là d ta có:
Thời gian đi qua = ( L + d) : v vật.
Ví dụ: Một đoàn tàu chạy ngang qua một cột điện hết 8 giây. Với cùng
vận tốc đó, đoàn tàu chui qua một đường hầm dài 260m hết 1 phút. Tính chiều
dài và vận tốc của đoàn tàu?
Với bài toán này, tôi đã hướng dẫn học sinh phân tích bài toán như sau:
- Đoàn tàu chạy qua cây cột điện, tức là chạy qua 1 điểm ( từ toa đầu đến
hết toa cuối) thì đoàn tàu chạy được một quãng đường bằng chiều dài của đoàn
tàu.
Quãng đường

Cột điện

Suy ra: Thời gian đoàn tàu qua cây cột điện bằng độ dài của đoàn tàu chia
cho vận tốc của tàu.
- Đoàn tàu chạy qua một đường hầm chính là đoàn tàu chạy được một
quãng đường bằng độ dài đường hầm cộng với độ dài đoàn tàu.
Quãng đường

Đường hầm

Vậy thời gian để đoàn tàu chui qua một đường hầm bằng thời gian vượt
qua cột điện cộng với thời gian đi được đoạn đường bằng chiều dài đường hầm.
Từ suy luận, phân tích đề như trên, tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán

Trong 1 phút cả hai vòi chảy vào bể được số lít nước là:
50 + 45 = 95 (lít)
Thời gian để hai vòi chảy đầy bể là:
5130 : 95 = 54 (phút)
Thời điểm bể nước đầy là:
6 giờ 20 phút + 54 phút = 7 giờ 14 phút
Đáp số: 7 giờ 14 phút
4. Hướng dẫn học sinh giải toán theo 4 bước.
Toán chuyển động đều là loại toán có lời văn tương đối trừu tượng đối với
học sinh Tiểu học. Đây là những bài toán góp phần rất lớn trong việc rèn khả
năng tư duy sáng tạo cho học sinh. Để đạt được điều đó khi hướng dẫn học sinh
giải, tôi đã hướng dẫn học sinh qua 4 bước:
Bước 1: Tìm hiểu đề
Bước 2: Xây dựng chương trình giải ( Tìm lời giải)
Bước 3: Thực hiện chương trình giải ( Trình bày lời giải)
Bước 4: Kiểm tra đánh giá kết quả.
Đối với từng bước tôi cụ thể hóa như sau:
a. Tìm hiểu đề :
Ở bước này học sinh xác định được bài toán cho biết gì ? Bài toán yêu cầu
tìm gì ? Tôi hướng dẫn học sinh ghi nhớ đề toán bằng cách :
- Đọc kĩ đề bài.
- Xác định dữ kiện đã cho và yếu tố phải tìm.
- Tóm tắt bài toán bằng kí hiệu hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng.
- Dựa vào tóm tắt để đọc lại đề toán cho.
b. Xây dựng chương trình giải :
Đây chính là bước tìm lời giải và cũng là bước rất quan trọng. Ở bước này
vai trò của người giáo viên rất quan trọng. Giáo viên là người đóng vai trò là
người gợi mở cho học sinh những nút thắt cần thiết và tổ chức cho học sinh
thảo luận tích cực để tìm lời giải.
Học sinh Tiểu học thường ghi nhớ không lâu và khả năng tư duy trừu tượng

+ Bài toán cho biết cái gì ? (đi ngược chiều, s = 130 km, v1 = 40 km/h,
v2 = 12 km/h)
+ Bài toán yêu cầu phải tìm cái gì ? (thời gian đi để gặp nhau, khoảng
cách từ chỗ gặp nhau đến A)
- Xác định dạng của bài toán: Đây là bài toán đi ngược chiều, cùng lúc,
tìm thời gian, chỗ gặp (dạng 1)
* Tìm cách giải bài toán:
- Tóm tắt bài toán: Bước đầu học sinh mới học giải toán, giáo viên làm
mẫu và hướng dẫn học sinh tóm tắt các bài tập kế tiếp giáo viên chỉ định hướng,
kiểm tra học sinh tự tóm tắt.
130km

A
40km/giờ

B
12km/giờ

- Cho học sinh diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt (không nhìn đề mà nhìn
vào tóm tắt, học sinh tự nêu bài toán theo sự hiểu biết và ngôn ngữ của mình)
- Lập kế hoạch giải bài toán:
+ Sau khi 2 xe gặp nhau, tức là cả 2 xe đã đi được quãng đường bao nhiêu
? (130km)
+ Để biết được 2 xe gặp nhau sau mấy giờ trước tiên ta cần biết gì ? (mỗi
giờ cả 2 xe đi được bao nhiêu km (tức là tổng vận tốc của 2 xe))

12


+ Việc tính tổng vận tốc của 2 xe được thực hiện như thế nào ?

- Nắm bắt nội dung bài toán
+ Bài toán cho biết cái gì ? (đi cùng chiều, đuổi nhau, v1 = 40 km/h, v2 =
60 km/h, xe máy xuất phát lúc 6 giờ, ô xuất phát lúc 7 giờ)
+ Bài toán yêu cầu phải tìm cái gì ? (thời điểm 2 người gặp nhau)
- Xác định dạng của bài toán: Đây là dạng toán cùng chiều đuổi nhau,
không cùng lúc, tìm thời điểm gặp nhau). Có thể chuyển về dạng toán đuổi nhau
coi là cùng lúc với người đi ô tô.
* Tìm cách giải bài toán.
- Tóm tắt bài toán:
40 km/h, lúc 6 giờ
gặp nhau lúc ….. giờ ?

60 km/h, lúc 7 giờ

13


- Cho học sinh diễn đạt bài toán qua tóm tắt (không nhìn đề mà nhìn vào
tóm tắt)
- Lập kế hoạch giải bài toán.
+ Muốn biết được lúc nào hai xe gặp nhau (thời điểm gặp nhau) ta phải làm
gì? (phải tính được khoảng thời gian cần thiết để đuổi kịp nhau)
+ Muốn tính được thời gian đi để hai người đuổi kịp nhau, ta phải biết cái
gì? (khoảng cách giữa hai xe khi ô tô xuất phát)
Ngoài ra còn phải biết gì nữa ? (cứ mỗi giờ hai xe gần nhau thêm bao nhiêu km
(tức hiệu vận tốc))
+ Khoảng cách giữa hai xe khi ôtô xuất phát được tính như thế nào?
(40 x (7 - 6 ) = 40 (km)).
+ Hiệu vận tốc của 2 xe được tính như thế nào ? (60 - 40 = 20 (km/h))
+ Thời gian đi để hai xe gặp nhau được tính như thế nào?


14


đường BC là 2km.Thời gian đi quãng đường AB nhiều hơn thời gian đi quãng
đường Bclà 1 giờ 5 phút.Tính quãng đường AB ?
Ở bài toán này ta đã biết sự chênh lệch về thời gian đi trên hai quãng
đường AB và BC, biết vận tốc đi trên hai quãng đường này. Thoạt đầu học sinh
rất dễ nhầm lẫn đưa ngay bài toán về dạng điển hình mặc dù quãng đường AB
và BC khác nhau. Trong quá trình dạy, tôi luôn hướng dẫn học sinh muốn đưa
một bài toán về dạng điển hình thì phải xét xem trong 3 đại lượng có đại lượng
nào thay đổi hay không hoặc phải biến đổi thế nào để có một đại lượng bằng
nhau rồi mới vận dụng quan hệ tỉ lệ giữa các đại lượng để đưa bài toán về dạng
toán điển hình.
Đối với bài này tôi gợi mở, giúp đỡ các em biến đổi để quãng đường đi
với hai vận tốc khác nhau sẽ bằng nhau bằng cách thêm 2km vào quãng đường
BC. Tôi hướng dận học sinh như sau :
-Học sinh vẽ sơ đồ tóm tắt bài toán :
B

C

A

D
2km

H: Em có nhận xét gì về quãng đường AB và BC? (Quãng đường AB dài
hơn quãng đương BC là 2km)
H: Giả sử người đó đi 2 km nữa thì tới D, so sánh quãng đường AB và



Trên 2 quãng đường bằng nhau AB và BD, vận tốc tỉ lệ nghịch với thời gian nên
thời gian đi quãng đường AB = thời gian đi trên quãng đường BD.
Ta có sơ đồ:
57,5 phút
Thời gian đi AB:
Thời gian đi BD:
Thời gian đi quãng đường AB là: 57,5 x 4 = 230 (phút) = giờ
Quãng đường AB là:
12 x = 46 (km)
Đáp số: 46 km
5. 2: Xác định mối quan hệ giữa các yếu tố trên sơ đồ đoạn thẳng
Rất nhiều bài toán chuyển động đều trong quá trình giải phải sử dụng đến
sơ đồ đoạn thẳng để phục vụ cho việc tìm cách giải của bài toán.
Ví dụ: Cùng một lúc An đi từ A đến B còn Bình đi từ B đến A. Hai người
gặp nhau tại C cách A 2km rồi họ lại tiếp tục đi. An đến B rồi quay lại A ngay,
Bình dến A rồi quay lại B ngay. Hai người gặp nhau lần 2 tại D cách B 1km.
Tính quãng đường AB và cho biết ai đi nhanh hơn?
Đối với bài toán này, việc đầu tiên tôi cho học sinh xác định rõ những cái
đã biết:
- An đi từ A đến B rồi quay lại A; Bình đi từ B đến A rồi quay lại B.
- Họ gặp nhau 2 lần: Lần 1 tại C cách A 2km, lần 2 tại D cách B 1km.
Sau đó tôi hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tóm tắt bài toán để tìm cách giải
như sau: An
A

C

D

1. Kết quả của thực trạng:
Tôi đã tiến hành áp dụng dạy học tính cực để dạy giải các bài toán chuyển
động đều ở lớp 5A và lấy kết quả đối chứng với lớp 5B (khi dạy loại toán này
mà không áp dụng phương pháp dạy học nêu trên) sau khi cả hai lớp học xong
bài quãng đường, vận tốc, thời gian và các tiết luyện tập.
Tôi ra đề kiểm tra như năm học trước và thu được kết quả như sau:
Mức 1
SL
TL

Hoàn thành
Mức 2
SL
TL

Lớp

Sĩ số

5A

27

14

51,9%

8

29,6%


1

3,5%

Kết quả trên cho thấy việc áp dụng dạy học tích cực để dạy giải các bài
toán về chuyển động đều bước đầu thu được kết quả tốt.
Học sinh tiếp thu đồng đều và sâu sắc hơn về bài toán. Số lượng học sinh
chưa hoàn thành chiếm tỉ lệ thấp.
- Trong quá trình làm bài học sinh ít mắc sai lầm hơn.
Điều này chứng tỏ rằng: nếu được sự quan tâm đúng mức, cùng với sự
hướng dẫn chu đáo, hợp lý thì chất lượng việc giải các bài toán chuyển động đều
sẽ được nâng lên.
Tuy nhiên với năng lực học sinh còn nhiều hạn chế nên không ít em đứng
trước nhiệm vụ giải toán còn cảm thấy bị quá sức. Do đó kết quả thu được ở trên
chỉ phản ánh thực tế khách quan ở mức độ nhất định.
Như vậy việc áp dụng dạy học tích cực để dạy giải các bài toán về chuyển
động đều cho học sinh lớp 5 là một giải pháp có tính hiệu quả cao. Nó có tác
dụng giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận.
Hơn nữa nó còn giúp các em tự phát hiện, giải quyết vấn đề, tự nhiên xét, so
sánh, phân tích, tổng hợp và từ đó áp dụng những kiến thức về toán chuyển động
đều vào thực tế cuộc sống.
2. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho bản thân
Trong quá trình làm đề tài, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Muốn dạy tốt môn toán, giúp HS hiểu, làm tốt các bài tập trước hết giáo
viên phải hiểu và nắm chắc các kiến thức và kỹ năng dạy, các biện pháp tính,
đồng thời phải biết hướng khai thác để giúp trẻ phát triển tư duy, sáng tạo trong
dạy học toán.
Muốn có giờ dạy học tốt, GV phải thực sự phải có lòng yêu nghề mến trẻ
không ngại khó, ngại khổ mà phải đào sâu suy nghĩ, tích cực sáng tạo tìm tòi cái

thời và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các em học tập.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã tích góp, chắt lọc và áp dụng
trong những năm công tác. Tôi rất mong hội đồng khoa học cùng đồng nghiệp,
bạn đọc góp ý thêm cho kinh nghiệm này được hoàn thiện hơn và phổ biến rộng
rãi hơn.
2. Kiến nghị, đề xuất
a. Đối với giáo viên
Chương trình Tiểu học hiện nay đang có xu hướng giảm tải cho HS, điều
đó làhợp lý. Xong trong bất kỳ lớp học nào cũng có đầy đủ đối tượng HS tiếp
thu bài nhanh, chậm. Nên tăng cường những bài toán có yêu cầu cao hơn với HS
tiếp thu bài nhanh.
Mỗi bài dạy có đặc điểm riêng, đặc trưng riêng. Vì vậy mà GV phải chú ý
đến đặc trưng này thì mới có thể có được những bài dạy tốt.
Khi dạy các tiết lý thuyết GV đặt mình vào vị trí của HS. Hãy dựa vào
những gì đã có để xây dựng tình huống có vấn đề. Không nên dạy theo cách
truyền đạt kiến thức một chiều mà hãy đưa ra những câu hỏi hợp lý lôi cuốn HS
vào bài học. Nên tăng cường những câu hỏi mà HS phải phán đoán suy luận, lựa
chọn và giải thích.
Sau mỗi bài học hình thành kiến thức mới HS cần được luyện tập vận
dụng kiến thức đã học, củng cố thêm kiến thức cũ, giúp HS nắm bài chắc và sâu
hơn. Hãy xâu chuỗi những bài tập có liên quan và cho HS tự tìm ra các đặc
trưng của những nhóm bài cũng như sự khác biệt giữa các nhóm.
Đối với tiết ôn tập, GV cần liên kết các kiến thức qua các bài đã học, tìm
ra một số bài tập có tính tổng hợp củng cố kiến thức.
Vận dụng nhiều hình thức kiểm tra khác nhau để đánh giá tình hình học
và hiểu của học sinh.
b. Đối với học sinh
Cần tích cực hoạt động , thảo luận những nội dung giáo viên đưa ra để tự
tìm ra những kiến thức cần ghi nhớ.
Nên tạo cho bản thân sự ham hiểu biết bằng cách nghiên cứu bài học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status