SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CHUYÊN MÔN
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY - HỌC
MÔN TOÁN LỚP 4
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hường
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Bái
SKKN thuộc lĩnh vực(môn): Toán
THANH HÓA NĂM 2016
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết, mục đích của quá trình dạy học ở bậc Tiểu học là nhằm
cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tự nhiên và xã hội. Nhằm giúp
học sinh từng bước hình thành nhân cách, từ đó trang bị cho học sinh các phương
pháp ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Mục tiêu đó được
thực hiện thông qua việc dạy học các môn và thực hiện theo định hướng yêu cầu
giáo dục, nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng cần thiết để trẻ tiếp tục
học ở bậc Trung học hay cho công việc lao động của trẻ sau này.
Trong các môn học, môn Toán là một môn học độc lập có vị trí hết sức quan
trọng bởi vì :
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình
dạng không gian của thế giới hiện thực.
- Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,
- Chất lượng giảng dạy và học tập của đội ngũ giáo viên, học sinh khối lớp 4
trường Tiểu học Xuân Bái.
- Các tài liệu liên quan nhằm tìm ra các biện pháp chỉ đạo chuyên môn và thực
hiện với giáo viên giảng dạy khối 4 và học sinh lớp 4 trong trường.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra, khảo sat; tổng hợp thống kê, so sánh số liệu…
B. PHẦN NỘI DUNG
I.SỞ LÍ LUẬN
-Trong chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học ( Ban hành kèm theo
Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “Môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh: Có
những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân;
các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Hình thành
các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực
trong cuộc sống. Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và
diễn đạt đúng( nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản,
gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập
toán; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học,
chủ động, linh hoạt, sáng tạo.”
- Môn Toán ở Tiểu học được soạn theo kế hoạch dạy học quy định ( tuần bài) và dựa theo các bài học trong sách giáo khoa môn Toán đã và đang được sử
dụng trong các trường Tiểu học toàn quốc. Đối với từng tiết dạy trong sách giáo
khoa đã có hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng đề cập tới nội dung yêu
cầu cần đạt. Đây là yêu cầu cơ bản, tối thiểu mà tất cả học sinh cần phải đạt được
sau tiết học. Như vậy giúp giáo viên có cơ sở xác định yêu cầu cần đạt và bài tập
cần làm trong sách giáo khoa để đảm bảo mọi đối tượng học sinh đều đạt chuẩn
kiến thức kĩ năng của môn Toán trong chương trình. Đồng thời, căn cứ vào tình
hình thực tế của mỗi lớp học, giáo viên khuyến khích, tạo điều kiện cho những học
sinh có khả năng, có điều kiện giải quyết tất cả các bài tập trong sách giáo khoa;
chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong sử dụng sách giáo khoa khi dạy học nhằm phát
- Đa số học sinh ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập.
*Khó khăn:
- Là một xã nắm phía tây huyện Thọ Xuân, địa bàn dân cư rộng, một bộ phận
học sinh đi lại khó khăn( cách trường 4-5 km). .
- Trình độ dân trí không đều, điều kiện kinh tế của nhân dân còn nhiều khó
khăn. Địa phương là một điểm nóng của tệ nạn ma tuý nên ảnh hưởng nhiều đến
công tác giáo dục.
- Một bộ phận phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn
phó mặc cho nhà trường.
- Cơ sở vật chất của nhà trường tuy đã có sự đầu tư hàng năm, song vẫn chưa đủ
để đáp ứng được nhu cầu của việc dạy và học.
2. Thực trạng chất lượng môn Toán lớp 4.
Qua theo dõi việc giảng dạy, kết quả kiểm tra định kì môn toán khối 4, kết
hợp với nhận xét của từng giáo viên chủ nhiệm trong 2 năm gần đây, bản thân nhận
thấy rằng: tỉ lệ học sinh hoàn thành mức độ thấp và chưa hoàn thành môn toán (HS
điểm 5- 6 và dưới 5) của khối 4 còn khá cao, cụ thể như sau:
Kết quả kiểm tra định kì cuối năm của 2 năm học gần đây như sau:
Năm hoc
SHS
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 6-5
Điểm < 5
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
102
19
18,6
23
22,5
48
47,2
12
11,7
2.3 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng môn toán khối 4 chưa cao .
* Về phía học sinh:
4
- Còn một bộ phận học sinh chưa có hứng thú học toán nên khả năng chú ý
và tập trung vào bài giảng không bền dẫn đến nắm bài chưa sâu, còn nhiều lỗ hổng
về kiến thức, kĩ năng. Nhiều em còn lười học, chưa có ý thức trong giờ học toán.
Coi toán là môn học khó nên thiếu tự tin, ngại cố gắng, có tâm lý sợ học Toán
- Có những em do thiểu năng trí tuệ, khả năng ghi nhớ kém. Không biết làm
tính, (cộng, trừ, nhân, chia).
* Về phía giáo viên: Phần lớn đội ngũ giáo viên trong trường tâm huyết với
nghề, tận tâm với học sinh.
Tuy nhiên, các thành viên trong khối 4 thường không cố định mà thay đổi hàng
năm nên về chuyên môn cũng có phần bị hạn chế do:
+ Bỡ ngỡ về chương trình, nội dung, phương pháp dạy học.
cả giáo viên của trường.
5
- Tuyờn truyn mi giỏo viờn thy c trỏch nhim ca ngi thy " Tt
c vỡ hc sinh thõn yờu"
- Phỏt ng phong tro thc hin cuc vn ng hai khụng vi bn ni dung
Núi khụng vi tiờu cc trong thi c v bnh thnh tớch trong giỏo dc. V Núi
khụng vi vi phm o c nh giỏo v vic hc sinh ngi nhm lp.
- Ch o, ng viờn cỏn b giỏo viờn t hc t bi dng :
Tụi xỏc nh õy l cụng vic cn phi thc hin thng xuyờn liờn tc. Vỡ vy,
tụi ó cựng ban giỏm hiu suy ngh, tho lun tỡm bin phỏp thi lờn ngn la
ca phong tro t hc, t bi dng cho i ng giỏo viờn bng nhiu hỡnh thc:
+ T chc cỏc cuc hi tho, trao i v kinh nghim t hc, giỳp giỏo viờn nh
hng vic t hc, t bi dng.
+ Xỏc nh c nhng ni dung cn phi hc, phi bi dng v cỏch t hc, t
bi dng nh th no? Cung cp cho giỏo viờn cỏc thụng tin, ti liu, xõy dng
th vin, phũng c, to iu kin tt nht cho giỏo viờn thc hnh vic t hc, t
bi dng.
+ T chc cỏc hot ng s phm trong nh trng gn vi t hc. Xõy dng mt
c ch, chớnh sỏch, ỏnh giỏ thi ua hoc gn li ớch vt cht i vi vic t hc, t
bi dng ca giỏo viờn... Bn thõn mi ng chớ trong ban giỏm hiu phi gng
mu hc tp, khụng ngng t hc nõng cao trỡnh chuyờn mụn, nghip v; chu
c v chu hc hi anh ch em giỏo viờn .
- T chc cho i ng GV tham gia y , ch ng v tớch cc cỏc hot
ng bi dng nõng cao trỡnh chuyờn mụn nh: Tp hun v PPDH Toỏn theo
hng i mi; bi dng qua d gi, thm lp; bi dng qua cỏc chuyờn ....T
chc sinh hot chuyờn mụn gia cỏc khi lp. Chn giỏo viờn cú kh nng bi
dng chuyờn sõu mụn Toỏn cho tng khi.
Bin phỏp2: Ch o giỏo viờn thc hin chng trỡnh dy hc
tự nhiên, dã số tự nhiên, các phép tính và một số tính chất. Học kì II tập trung phải
tìm tòi và sáng tạo nội dung dạy học phù vào học phân số, dấu hiệu chia hết và một
số dạng về hình học.
Nội dung Toán 4, mỗi chương là một mảng kến thức, trước tiên giáo viên
phải nắm vững mục tiêu, nội dung, khả năng có thể khai thác trong từng bài. Điều
quan trọng là giáo viên phải xây dựng những phương pháp huy động tính tích cực
của học sinh trong hoạt động học để các em nắm chắc và vận dụng thành thạo các
nội dung trong từng bài, góp phần phát triển năng lực tư duy và năng lực thực hành
của học sinh.
2.2 Chỉ đạo vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa
hoạt động của học sinh vào dạy- học Toán.
Trước tiên, tôi giúp giáo viên nhận thức và hiểu đúng về đổi mới phương
pháp dạy học toán trong không có nghĩ là thay đổi hoàn toàn các phương pháp
truyền thống mà phải biết lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.Vì vậy tôi yêu cầu giáo viên nắm vững
các phương pháp dạy học Toán đó là: Phương pháp trực quan; Phương pháp quan
sát; Phương pháp quy nạp; Phương pháp trò chơi; phương pháp diễn giải; Phương
pháp thuyết trình; Phương pháp trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích và tổng
hợp, phương pháp thảo luận nhóm, thực hành luyện tập...
Hiểu được định hướng chung của phương pháp dạy học toán là dạy học trên
cơ sở tổ chức và hướng dẩn các hoạt động học tập tích cực chủ động, sáng tạo của
học sinh, đồng thời phải biết không có biện pháp nào là vạn năng mà phải biết dựa
vào nội dung từng bài cụ thể để lựa chọn các biệt pháp phối hợp vận dụng vào dạy
học sao cho giờ dạy đạt hiệu quả cao nhất.
Ví dụ: Khi dạy bài “Giây, thế kỷ” Toán 4. Giáo viên nên sử dụng phương
pháp luyện tập, thực hành là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp khác (đàm
thoại, quan sát, hướng dẫn, giảng giải…) để hiểu được mối quan hệ giữa giờ và
phút, phút và giây, giữa thế kỷ và năm. Từ đó rút ra kết luận: Dựa vào các đơn vị đo
thời gian con người tính được khoảng thời gian từ trước cho đến nay.
Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp cần phải căn cứ vào lứa tuổi của học
3
4
2
5
hỏi trên để giúp học sinh tìm được cách tính × ( khi chưa có qui tắc)
Vì vậy giáo viên hướng dẫn gợi ý tiếp: Hãy phân tích
2
thành tổng của 4 phân số
5
bằng nhau? Học sinh sẽ phân tích được( với HS yếu GV gợi ý hướng dẫn cụ thể
hơn)
2 2× 4
8
2
2
2
2
=
=
=
+ + + .
5 5 × 4 20 20 20 20 20
3
2
Từ kết quả trên, hãy cho biết của là bao nhiêu? (HS dễ dàng tìm được)
rồi yêu cầu học sinh nêu thành qui tắc, sau đó tổ chức
b d
b×d
Ta có
luyện tập thực hành.
2.3 Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch bài dạy(soạn giáo án), chuẩn bị
giờ lên lớp của giáo viên và việc lựa chọn đồ dùng dạy học của giáo viên:
Thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên là việc làm quan trọng,
trong việc thực hiện quy chế chuyên môn ở trường Tiểu học. Là khâu mà bất kì
giáo viên trực tiếp giảng dạy nào cũng phải có, vì trong quá trình thiết kế bài dạy,
chuẩn bị giờ lên lớp giúp giáo viên có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu về nội dung, tuy
nó chưa phải là dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình
giảng dạy để có biện pháp xử lí kịp thời đúng đắn. Và thiết kế bài dạy được xem là
công cụ để thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và
cũng là một trong những việc làm góp phần quyết định chất lượng giáo dục trong
nhà trường. Do đó tôi đã tập trung chỉ đạo việc thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên
lớp của giáo viên cụ thể như sau:
- Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản của chuyên môn về việc thiết kế
bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng đến tổ khối, giáo
viên.
Tôi yêu cầu giáo viên trước khi xây dựng kế hoạch dạy học phải nghiên cứu
nắm chắc được mục tiêu, yêu cầu của một bài, sau đó phân tích lựa chọn nội dung
bài học cụ thể trong chương trình môn Toán như: Nắm được vị trí của mảng kến
8
thức đó trong toàn bộ chương trình môn học và phải biết huy động những kiến thức
mà học sinh đã được học trước đó để bổ trợ cho việc nắm kiến thức mới. Đông thời
- Chỉ đạo giáo viên dạy đúng đủ chương trình qui định (theo phân phối chương
trình) và thời khóa biểu qui định. Dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng.
Trong giảng dạy giáo viên phải phân loại đối tượng, phải bao quát được đều các
nhóm, các đối tượng học sinh trong lớp, có kế hoạch bồi dưỡng học sinh có năng
khiếu và học sinh học lực còn yếu. Đặc biệt quan tâm tới học sinh khuyết tật( nếu
có) ngay trong tiết học Toán hàng ngày.
- Giáo viên cần khơi gợi tạo hứng nâng cao ý thức tích cực, tự giác, biết chia
sẻ, giúp đỡ nhau trong hoạt động .
- Thu thập và bảo quản đầy đủ các minh chứng làm cơ sở cho việc đánh giá xếp
loại học sinh theo thông tư 30 của Bộ giáo dục và Đào tạo.
9
- Ban giám hiệu kiểm tra dưới nhiều hình thức: dự giờ thăm lớp, kiểm tra hồ sơ
sổ sách của giáo viên, vở ghi chép của học sinh,....kiểm tra định kì, kiểm đột xuất,
quan sát hàng ngày,...
Biện pháp 3: Chỉ đạo công tác giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành môn Toán
lớp 4(HS yếu kém) và học sinh hoàn thành môn học ở mức độ thấp.
Để nâng cao chất lượng dạy học môn toán lớp 4, ngoài việc thực hiện dạy
học đúng đủ nội dung chương trình qui định thì công tác giúp đỡ học sinh chưa
hoàn thành môn toán lớp 4(HS yếu kém) và học sinh hoàn thành môn học ở mức độ
thấp rất cần thiết mà mỗi giáo viên chúng ta cần phải quan tâm và thực hiện thường
xuyên liên tục trong cả năm học. Vì vậy, tôi đã chỉ đạo giáo viên thực hiện như sau:
3.1 Phân loại đối tượng :
Việc làm này, ngay từ đầu năm học, tôi đã yêu cầu giáo viên phải theo dõi
thường xuyên cụ thể kết quả học tâp hàng ngày của mỗi học sinh trong lớp mình
phụ trách kết hợp với khảo sát chất lượng để sớm phát hiện, nắm bắt trình độ của
từng học sinh. từ đó phân loại học sinh chưa hoàn thành bài học môn toán lớp
4(HS yếu kém) và học sinh hoàn thành bài học môn học ở mức độ thấp theo các
- Tháng 11: Củng cố về kĩ năng thực hiện các phép tính với các số tự nhiên, Biểu
thức chứa chữ, kết hợp giải các bài toán điển hình( Tìm số TBC;Tìm hai số khi biết
tổng và hiệu)…..
Cứ tiếp tục như vậy, kế hoạch phải thể hiện rõ nội dung cần giúp đỡ phụ đạo cho
cả năm học. Kế hoạch bồi dưỡng phải có chỉ tiêu phấn đấu cụ thể. Ví dụ: cuối học
kì I không còn tình trạng học sinh bị hổng kiến thức đã học. Học kì II, các em học
đến đâu phải đạt yêu cầu đến đó (theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của chương
trình toán lớp 4). Đến cuối năm học, không còn học sinh nào học yếu môn toán.
Lập sổ theo dõi quá trình phụ đạo nắm bắt kết quả tiến bội của học sinh(suốt cả
năm học).
3.3 Xây dựng kế hoạch bài dạy cụ thể cho từng buổi, từng tiết
Để thực hiện kế hoạch, nội dung, chương trình giúp đỡ, phụ đạo học sinh chưa
hoàn thành bài học, môn học( yếu, kém) hoặc mới hoàn thành ở mức độ thấp( đạt
điểm 5) về môn Toán, tôi chỉ đạo giáo viên:
Phải căn cứ vào trình độ học sinh của lớp mình, căn cứ vào những phần kiến
thức các em còn hổng, còn chưa nắm vững,… để xây dựng kế hoạch dạy học một
cách phù hợp cho từng tiết, từng tuần và từng giai đoạn học tập theo định hướng:
học sinh yếu, hổng kiến thức ở nội dung nào thì tập trung hướng dẫn ôn luyện, thực
hành ở nội dung đó nhằm giúp học sinh đạt được yêu cầu cơ bản về kiến thức kĩ
năng của bài học.
Giáo viên được chủ động xây dựng kế hoạch phù hợp với trình độ học sinh,
thực tế lớp học của mình trên cơ sở đảm bảo mục tiêu và phải được sự thống nhất
của tổ, khối chuyên môn, xét duyệt của ban giám hiệu.
Nội dung các tiết phải tập trung rèn luyện kĩ năng và ôn tập các kiến thức đã
học cho học sinh. Đặc biệt giúp các em củng cố những kiến thức cơ bản theo yêu
cầu chuẩn kĩ năng kiến thức của lớp dưới mà các em còn bị hổng. Như nhớ được
bảng nhân, bảng chia, giải được một số dạng toán cơ bản đã học ở lớp dưới... Mục
đích là lấp lỗ hổng về kiến thức cho học sinh.
Việc củng cố kiến thức đã học thực hiện đồng thời với việc dạy kiến thức mới
của lớp 4.
dạy bài mới, nếu có học sinh không nắm được kiến thức mới do hổng kiến thức lớp
dưới hoặc kiến thức bài học trước thì thực hiện như sau: Trong phần bài mới vẫn
cho học sinh theo dõi bình thường, đến phần bài tập, hay là tiết luyện tập, giáo viên
cho những học sinh chậm làm các bài mà kiến thức liên quan đến lớp dưới, cho học
sinh nhắc lại kiến thức cũ rồi hướng dẫn phần kiến thức mới của bài học.
Ví dụ: Khi học sinh làm bài tập 1284 : 6 = ? với bài này học sinh không thực
hiện chia được, chứng tỏ học sinh không thuộc bảng nhân 6, bảng chia 6. Vậy giáo
viên giúp học sinh ôn lại bảng nhân, bảng chia 6 bằng nhiều hình thức như yêu cầu
các em làm bài tập: Điền số thích hợp vào chỗ chấm: 6 × 2 =.... ; 6 × 5 = ....; 6 × 3
=... ; 6 × 4= ...; 12: 6=....; 24: 6 =....v v. Hay thi đọc bảng nhân 6....để các em thuộc
bảng nhân, bảng chia 6. Từ đó hướng dẫn các em thực hiện phép chia trên. Tức là
phát hiện học sinh hổng kiến thức ở đâu thì giáo vên phải linh hoạt điều chỉnh nội
dung dạy để ôn tập, bổ sung ở đó.
- Với buổi dành riêng cho giúp đỡ, phụ đạo học sinh yếu giáo viên cần lựa
chọn hệ thống câu hỏi gợi mở, nội dung bài tập ở mức độ dễ để tạo cho các em có
sự hứng thú tự tin trong học toán, có thể tăng dần theo mức độ hiểu bài của các em.
Chẳng hạn: Củng cố kĩ năng giải toán, bước đầu nên đưa ra các dạng cơ bản
nhất, đơn giản nhất mang tính chất vận dụng củng cố lý thuyết như: Bài toán đã
cho biết hết các điều kiện, chỉ cần tìm yêu cầu của bài toán.
Ví dụ 1: Mỗi quyển vở có 48 trang. Hỏi 25 quyển vở cùng loại có tất cả bao
nhiêu trang?( bài 3 trang 69 SGK Toán 4)
Điều kiện bài toán : Mỗi quyển vở có: 48 trang
Yêu cầu bài toán:
25 quyển vở có: … trang?
Ví dụ 2: Một mảnh đất trồng hoa hình bình hành có độ dài đáy là 40dm, chiều
cao là 25dm. Tính diện tích mảnh đất đó? (Bài 4 trang 105 SGK Toán 4)
Ví dụ 3: Người ta đổ 128 610l xăng vào 6 bể. Hỏi mỗi bể đó có bao nhiêu lít
xăng? (Bài 2 trang 77 SGK Toán lớp 4)
Điều kiện bài toán: 6 bể chứa: 128 610l xăng.
Yêu cầu bài toán : 1 bể chứa : … l xăng?
=
Độ dài đáy
×
chiều cao
40dm
25dm
Sau khi học sinh đã biết cách phân tích bài toán trước lúc giải một bài toán có
lời văn, GV yêu cầu mỗi học sinh tự lập sơ đồ cách giải vào giấy nháp rồi giải bài
toán.
Bước 3: Hướng dẫn thực hiện cách giải bài toán:
Hướng dẫn học sinh nhìn sơ đồ để trình bày hoàn chỉnh bài giải: Tìm đủ điều
kiện bài toán rồi mới tìm yêu cầu)
Bài giải:
Diện tích mảnh đất hình bình hành đó là:
40 × 25 = 1000 (dm2)
Đáp số: 1000 dm2
Bước 4: Kiểm tra kết quả của bài toán:
Yêu cầu học sinh tự kiểm tra lại kết quả của bài giải xem đã đúng hay chưa.
*Tôi lưu ý với giáo viên: Khi hướng dẫn cho học sinh củng cố kĩ năng kiến thức
từng nội dung, từng dạng bài, giáo viên phải hướng dẫn gợi mở từng bước cụ thể,
giúp học sinh từng bước tiếp cận nội cung vấn đề đang củng cố.
13
Sau mỗi dạng bài, qua từng giai đoạn, giáo viên cần khảo sát để thấy được sự
tiến bộ của học sinh đồng thời nắm bắt những kiến thức còn hổng để có kế hoạch
nhóm 4) tìm đến bạn cùng cặp nhanh hơn là 2 nhóm thắng cuộc.
Hay: Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Cá mẹ tìm cá con” để củng cố kĩ năng
thực hện các phép tính.
Mục đích: Rèn luyện học sinh kỹ năng tính nhanh, đúng
Chuẩn bị: 6 con cá mẹ làm bằng giấy bìa cứng có ghi phép tính. 6 con cá con
làm bằng giấy bìa cứng có ghi kết quả tính.
Cách chơi: GV cho 12 HS tham gia chơi, 6 em cầm 6 con cá mẹ, 6 em cầm 6
con cá con. Yêu cầu các em cầm cá mẹ tìm đúng cá con của mình (sao cho phép
tình trên mình cá mẹ tương ứng với kết quả đúng trên mình cá con).
Như vậy không những giúp các em củng cố được kiến thức, rèn được kĩ năng
tính toán mà còn làm tạo cho quá trình dạy học trở thành một hoạt động vui, hấp
dẫn, các em sẽ yêu thích học toán hơn.
14
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh qua mỗi tiết.
+ Giáo viên chủ động phân phối thời gian, phân chia bảng một cách hợp lí để
chữa bài, đánh giá, củng cố kiến thức cho từng đối tượng học sinh. Hệ thống các
câu hỏi, bài tập của các nhóm phải được trình bày và nhận xét đầy đủ để các em
thấy được kết quả bài làm của mình là đúng hay sai, là sáng tạo hay còn hạn chế ở
điểm nào. Có thể tiến hành chữa bài (học sinh thực hiện) cùng một lúc trên bảng
với các nhóm đối tượng học sinh, sau đó tiến hành nhận xét và sửa sai, chốt kiến
thức trọng tâm cho từng đối tượng.
+ Tổ chức cho học sinh tự kiểm tra, nhận xét kết quả bài làm của nhau (đối với
hình thức cá nhân), các nhóm nhận xét bài của nhóm bạn (đối với tổ chức theo
nhóm đối tượng).
3.5 Kiểm tra kết quả thực hiện của giáo viên.
- Ban giám hiệu, tổ chuyên môn thường xuyên dự giờ, rút kinh nghiệm để giáo
viên thấy được những ưu điểm và hạn chế trong quá trình thực hiện.
- Kiểm tra, khảo sát chất lượng của học sinh nhằm nắm bắt sự tiến bộ của các
động tập thể. Hoặc tổ chức trò chơi có lồng nội dung Toán học: Hái hoa dân chủ,
Tuổi thơ khám phá…
3.8 Tổ chức phong trào đôi bạn cùng tiến, xây dựng môi trường học tập thân
thiện
Tôi đã chỉ đạo giáo viên: Ở lớp cũng như ở nhà, cần phân công, tổ chức cho
học sinh khá, giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn chậm hơn. Tổ chức thi đua giữa
các nhóm giúp bạn, nếu bạn nào có tiến bộ thì biểu dương cả nhóm vào tiết chào
cờ sáng thứ 2 đầu tuần. Ở nhà, giáo viên sắp xếp các em gần nhà nhau thành 1
nhóm và cử 1 học sinh làm nhóm trưởng. Nhóm trưởng có nhiệm vụ nhắc nhở,
kiểm tra việc học bài, làm bài của các bạn và báo cáo với cô giáo chủ nhiệm vào
đầu mỗi buổi học.
Giáo viên kiên trì uốn nắn và sửa những thói quen xấu của các em như: chưa
đọc kĩ đề bài trước khi làm bài tập, tính toán cẩu thả, không làm nháp hoặc viết lộn
xộn, phát biểu không chính xác, trình bày bài tuỳ tiện, giải toán xong không chịu
thử lại… Khuyến khích, động viên đúng lúc, kịp thời khi các em có tiến bộ hay đạt
được một số kết quả (dù sự tiến bộ nhỏ nhất);
Biện pháp 4: Đổi mới trong đánh giá xếp loại giáo viên và học sinh
Những năm gần đây, tôi cùng các đồng chí trong ban giám hiệu đã tổ chức
đánh giá xếp loại giáo viên thông qua hiệu quả dạy học. Trong một giờ dạy, giáo
viên đã truyền tải cho các đối tượng học sinh nắm được những kiến thức kĩ năng
gì? Giáo viên đã sử dụng những hình thức dạy học nào phù hợp với các đối tượng
học sinh, kiểm soát được hoạt động nhận thức của các đối tượng học sinh trong lớp.
Từ đó chúng tôi xét đến phương pháp dạy học của giáo viên đã phù hợp chưa? và
xây dựng được kế hoạch dạy cho lần sau sát với thực tế hơn. Giáo viên có bao quát
được lớp học hay không. Quá trình đánh giá xếp loại giáo viên chúng tôi phải căn
cứ vào hiệu quả tiết học và kết quả học tập của học sinh trong tiết học đó, xa hơn là
kết quả trong năm học.
Trong quá trình kiểm tra hồ sơ giáo viên (có thể định kỳ hoặc đột xuất), tôi quan
- Đánh giá định kì cuối học kì I, cuối năm học đối với các môn học Tiếng Việt,
Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc bằng bài
kiểm tra định kì bằng bài kiểm tra định kì (có nhận xét, sửa lỗi và cho điểm).
- Tổng hợp đánh giá vào cuối học kì I, cuối năm học.
* Đặc biệt tôi lưu ý: Đánh giá thường xuyên quá trình học tập môn Toán của học
sinh được thực hiện theo tiến trình dạy học các bài học ở trên lớp và cả quá trình
vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình.
Tham gia đánh giá thường xuyên hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết quả
học tập môn Toán theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ
thông cấp tiểu học gồm: giáo viên, học sinh (tự đánh giá và nhận xét, góp ý bạn qua
hoạt động của nhóm, lớp); khuyến khích sự tham gia đánh giá của cha mẹ học sinh.
Trong quá trình dạy học môn Toán, để đánh giá thường xuyên, căn cứ vào đặc
điểm và mục tiêu của bài học, của mỗi hoạt động mà học sinh phải thực hiện trong
bài học, giáo viên tiến hành một số việc như sau:
Quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm
vụ của học sinh, nhóm học sinh theo tiến trình dạy học;
Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với học sinh hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở
của học sinh về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được; mức độ hiểu biết
và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết,
phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của học sinh.
Quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của học sinh; áp dụng biện pháp cụ
thể để kịp thời giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn trong giờ học Toán.
Vì vậy, trong các giờ học Toán, giáo viên sử dụng các kĩ thuật quan sát, theo dõi;
trao đổi, phỏng vấn; kiểm tra nhanh (phiếu, vở); nhận xét (lời, viết) để đánh giá
thường xuyên... Hàng tuần, giáo viên lưu ý những kết quả học sinh đã đạt được
hoặc chưa đạt được; tìm biện pháp cụ thể giúp học sinh vượt qua khó khăn để hoàn
thành nhiệm vụ; những điều cần đặc biệt lưu ý để giúp học sinh học tốt môn
Toán. Hàng tháng, giáo viên ghi nhận xét vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục về
mức độ hoàn thành nội dung học tập môn Toán trong tháng; dự kiến và áp dụng
biện pháp cụ thể, riêng biệt giúp đỡ kịp thời đối với những học sinh chưa hoàn
đánh giá xếp loại học sinh.
Khi thấy có em A chưa tiến bộ cần chủ động gặp phụ huynh để trao đổi về việc
học tập của học sinh tiếp tục cùng với phụ huynh điều chỉnh biện pháp phù hợp và
có hiệu quả hơn. Qua đó, thấy được sự lo lắng của giáo viên nên phụ huynh đã
thường xuyên kiểm tra việc học bài, làm bài của con em mình, đôn đốc các em đi
học chuyên cần. Vì vậy, Học sinh lớp 4 của nhà trường đã tiến bộ lên rất nhiều.
Biện pháp 6: Cải tiến nội dung, nâng cao chất lượng các buổi sinh hoạt tổ
chuyên môn.
- Thực hiện công tác chuyên môn, tôi cùng các đồng chí trong ban giám hiệu
chỉ đạo sinh hoạt 2 tuần/ 1 lần; Đặc biệt, tôi thường xuyên dự các buổi sinh hoạt
chuyên môn để quản lí, chỉ đạo, giúp giáo viên tháo gỡ khó khăn trong chuyên
môn. Hướng dẫn các tổ trưởng chuẩn bị nội dung sinh hoạt chú ý dành nhiều thời
gian thảo luận bàn bạc xoay quanh việc “Làm thế nào để nâng cao hiệu quả giờ
dạy, nâng cao chất lượng học tập của học sinh”. Hay tháo gỡ những khó khăn trong
quá trình giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ năm học dạy học và giáo dục học sinh
đạt hiệu quả hơn. Đặc biệt chú trọng đến các giải pháp nâng cao chất lượng học
sinh năng khiếu và guips đỡ phụ đạo những hoạc sinh chưa hoàn thành bài học,
môn học; điều chỉnh nội dung tài liệu hướng dẫn học cho phù hợp với đối tượng
học sinh của lớp.
18
- Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng giáo viên trong khối đảm nhiệm giúp đỡ kèm
cặp, yêu cầu giáo viên(cứ hai tuần một lần, trong buổi sinh chuyên môn, giáo viên
báo cáo tiến độ tiếp thu bài của những học sinh đặc biệt là những em “yếu”, từ đó
tập thể giáo viên cùng nhau thảo luận tìm cách để tháo gỡ những vướng mắc trong
thực tế với tổ chuyên môn và với nhà trường về tình hình học sinh học đặc biệt là
học sinh “yếu” môn toán và các môn học khác. Giao nhiệm vụ cho tổ trưởng theo
dõi việc giúp đỡ phụ đạo học sinh “yếu” của khối mình.
Chỉ đạo tổ chuyên môn thường xuyên tổ chức kiến tập, thực tập môn toán để góp
33
32,5
36
35,3
2
1,9
*) Kết quả khảo sát giữa học kì II về môn Toán ở khối lớp 4:
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 6-5
Điểm < 5
SHS
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
102
41
40,2
đặc điểm, nội dung chương trình sách giáo khoa Toán 4 để chỉ đạo giáo viên thực
hiện dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng.
Khuyến khích giáo viên chủ động và sáng tạo trong giảng dạy, đồng thời yêu
cầu giáo viên trân trọng mọi cố gắng, mọi sáng tạo dù còn nhỏ bé của từng học sinh
Tạo thêm điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu của
chương trình giáo dục phổ thông.
* Với giáo viên phải:
- Tăng cường tự học tự bồi dưỡng, nghiên cứ các văn bản chỉ đạo về chuyên môn
để nắm chắc mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy học ở Tiểu
học, thực hiện dạy và học theo đúng qui đinh .
- Giáo viên cần căn cứ vào hướng dẫn thực hiện chương trình và điều chỉnh nội
dung dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo để xác định mục tiêu dạy học và kiểm
tra đánh giá học sinh; chủ động thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt
động của giáo viên và học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học, tổ chức dạy học đảm
bảo các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và sát với đối tượng học sinh.
- Tham gia giảng dạy tích cực và nhiệt tình trong đổi mới PPDH Tổ chức hướng
dẫn các phương pháp học tập phát huy tính tích cực, tính tự học, tự phát hiện cái
mới, cái hay,… để tự chiếm lĩnh tri thức., góp phần chứng minh ưu thế và hiệu quả
việc giảng dạy môn toán.
- Công tác chuẩn bị từng bài dạy thật kĩ phù hợp từng nội dung, soạn giảng chu
đáo gọn nhẹ.
- Trong tiết học toán giáo viên cần nắm được từng đối tượng học sinh, tạo điều
kiện cho các em học một cách nhẹ nhàng tự nhiên, không gò bó căng thẳng để các
em có hứng thú và ham thích học môn Toán nhiều hơn.
- Phải thực sự yêu nghề mến trẻ, tận tâm, tận lực để giáo dục và phụ đạo các em
với tất cả tâm huyết của mình. Giáo viên phải kịp thời phát hiện ra những học sinh
yếu, kém.Tìm ra nguyên nhân cùng với những biểu hiện của học sinh yếu kém về
môn Toán. Lập kế hoạch và đề ra các biện pháp phụ đạo cụ thể, rõ ràng; khi lên
lớp phải nghiên cứu kĩ mục tiêu bài dạy để đề ra phương pháp và hình thức dạy học
thích hợp, giúp các em thích thú học tập và dễ tiếp thu bài.
Nguyễn Thị Hường
21
MỤC LỤC
NỘI DUNG
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: .
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
B. PHẦN NỘI DUNG
I.SỞ LÍ LUẬN
II. THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN LỚP 4.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CHUYÊN MÔN NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY- HỌC MÔN TOÁN LỚP4
Biện pháp 1: Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên .
Biện pháp2: Chỉ đạo giáo viên thực hiện chương trình dạy học
2.1 Chỉ đạo tìm hiểu về đặc điểm nội dung, chương trình, mục tiêu,
phương pháp dạy môn toán ở Tiểu học nói chung và môn toán lớp 4
nói riêng.
2.2 Chỉ đạo vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực
hóa hoạt động của học sinh vào dạy- học Toán.
2.3 Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch bài dạy(soạn giáo án),:
2.4 Chỉ đạo công tác giảng dạy trên lớp:
Biện pháp 3: Chỉ đạo công tác giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành môn
Toán lớp 4(HS yếu kém) và học sinh hoàn thành môn học ở mức độ
9
9
10
11
14
14
15
15
15
16
17
22
III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
PHẦN III: KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm
2. Kiến nghị:
17
18
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT
1.
2.
3.
4.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: .
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
B. PHẦN NỘI DUNG
I.SỞ LÍ LUẬN
II. THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN LỚP 4.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CHUYÊN MÔN NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY- HỌC MÔN TOÁN LỚP4
Biện pháp 1: Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên .
Biện pháp2: Chỉ đạo giáo viên thực hiện chương trình dạy học
2.1 Chỉ đạo tìm hiểu về đặc điểm nội dung, chương trình, mục tiêu,
phương pháp dạy môn toán ở Tiểu học nói chung và môn toán lớp 4
nói riêng.
2.2 Chỉ đạo vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực
hóa hoạt động của học sinh vào dạy- học Toán.
2.3 Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch bài dạy(soạn giáo án),
chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên và việc lựa chọn đồ dùng dạy học
của giáo viên:
2.4 Chỉ đạo công tác giảng dạy trên lớp:
Biện pháp 3: Chỉ đạo công tác giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành môn
Toán lớp 4(HS yếu kém) và học sinh hoàn thành môn học ở mức độ
thấp.
3.1 Phân loại đối tượng
3.2 Lập kế hoạch giúp đỡ, phụ đạo
3.3 Xây dựng kế hoạch bài dạy cụ thể cho từng buổi, từng tiết
3.4 Hoạt động dạy trên lớp
3.5 Kiểm tra kết quả thực hiện của giáo viên.
3.6 Quan tâm động viên kịp thời học sinh có hoàn cảnh khó khăn
Biện pháp 5: Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh
Giải pháp 6: Cải tiến nội dung, nâng cao chất lượng các buổi sinh
hoạt tổ chuyên môn.
16
17
III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
PHẦN III: KẾT LUẬN
17
18
1. Bài học kinh nghiệm
2. Kiến nghị:
19
25