Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
Khóa luận tốt nghiệp 1 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4
1.1. Đổi mới phương pháp dạy và học 4
1.1.1. Phương pháp dạy học 4
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 5
1.1.3. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 6
1.1.4. Đổi mới phương pháp dạy học có sự hổ trợ của công nghệ thông tin 6
1.2. Phần mềm dạy học 7
1.2.1. Khái quát phần mềm dạy học 7
1.2.2. Ưu điểm và nhược điểm của việc sử dụng phần mềm dạy học 8
1.2.2.1. Ưu điểm 8
1.2.2.2. Nhược điểm 9
1.3. Giới thiệu một số phần mềm mô phỏng thí nghiệm 10
1.3.1. Phần mềm ChemLab 10
1.3.1.1. Sử dụng ChemLab 10
1.3.1.2. Ưu điểm và nhược điểm của phần mềm 12
1.3.2. Phần mềm Crocodile Chemistry 605 13
CHƢƠNG III: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ CÓ SỬ DỤNG THÍ
NGHIỆM ẢO 40
3.1. Bài 30: Clo 40
3.2. Bài 43: Lưu huỳnh 49
3.3. Bài 49: Tốc độ phản ứng hóa học 57
3.4. Bài 18: Bài thực hành 63
3.5. Bài 33: Nhôm 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1. Kết luận 76
Khóa luận tốt nghiệp 1 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
2. Kiến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một đất nước phát triển bền vững, giàu mạnh thì cần có những con người lao
động tự chủ và sáng tạo, điều đó có nghĩa là đất nước đó cần có một nền giáo dục
tiến bộ. Đảng và nhà nước ta khẳng định “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu ”.
Nhiệm vụ của giáo dục là đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, tiếp thu
những tri thức hiện đại nhằm thúc đẩy đất nước phát triển.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, nền giáo dục cần đổi mới từ nội dung cho đến
PPDH. Ngày nay cùng với sự tiến bộ của KHKT, nhiều phương tiện kĩ thuật hiện
đại ra đời, nhiều cách tiếp cận thông tin nhanh chóng và tiện lợi, sự phát triển mạnh
mẽ của CNTT đã phần nào làm giảm bớt lối nghiên cứu cũ kỹ, lạc hậu tốn thời gian.
Vì vậy, một trong những hướng đổi mới PPDH là kết hợp các PPDH với các
phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và
học.
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, vì vậy việc lồng ghép các thí
2. Nghiên cứu quy trình thiết kế mô hình TN bằng cách ứng dụng các phần
mềm mô phỏng TN.
3. Ứng dụng các phần mềm mô phỏng TN vào trong một số bài giảng hóa học
phổ thông ( phần vô cơ ).
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Tìm hiểu về cơ sở lý luận phương pháp dạy học hóa học, vai trò của TN
trong dạy học hóa học ở trường phổ thông.
2. Nghiên cứu quy trình thiết kế mô hình TN bằng một số phần mềm mô
phỏng TN.
3. Thiết kế một số mô hình bài TN để đưa vào bài giảng hóa học phần vô cơ
chương trình phổ thông.
4. Thiết kế một số giáo án điện tử có sử dụngTN ảo.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
1. Đối tượng : Ứng dụng một số phần mềm mô phỏng TN vào việc thiết kế
mô hình TN trong chương trình hóa học phổ thông phần vô cơ.
Khóa luận tốt nghiệp 3 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
2. Khách thể : Học sinh.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được mô hình TN bằng phần mềm mô phỏng TN một cách chính
xác và có phương pháp hợp lí sẽ góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn hóa học chương trình hóa học phổ thông.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, giáo trình lý luận dạy học có liên quan đến vấn đề
phát triển tính chủ động, tự lực, sáng tạo của học sinh.
- Nghiên cứu về tài liệu thí nghiệm ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn sử dụng các phần mềm CROCODILE,
CHEMLAB, SCIENCE TEACHER’S HELPER…
dạy học. Tùy theo nội dung của từng bài mà chọn phương pháp dạy học cụ thể, phù
hợp như phương pháp trực quan, dùng lời nói, thực hành, thường thì người dạy sẽ
kết hợp các phương pháp này tùy vào nội dung bài giảng để việc truyền tải kiến
thức có hiệu quả.[3]
Thứ nhất đó là phương pháp trực quan. Nói đến phương pháp này điều đầu
tiên cần nhắc tới đó là phương tiện trực quan, đó là những sự vật, dụng cụ, đồ dùng,
thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong dạy học, với tư cách là
mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là nguồn cung cấp thông tin chính về sự
vật hiện tượng nghiên cứu, làm cơ sở, tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo về hiện thực đó của học sinh. Như vậy, khi sử dụng phương pháp trực
quan trong dạy học, người dạy đã sử dụng phương tiện trực quan, phối hợp nhịp
nhàng với các phương pháp dạy học khác nhằm giúp cho học sinh hiểu được dễ
dàng, vững chắc kiến thức.
Thứ hai là phương pháp dùng lời. Trong dạy học hóa học có những nội dung
không thể làm thí nghiệm và cũng không có đồ dùng trực quan, lúc này lời nói của
giáo viên hoặc sách giáo khoa có ý nghĩa quan trọng. Đó là nguồn cung cấp kiến
thức; lời nói có tác dụng đến việc hình thành các khái niệm. Ở đây bước chuyển từ
cảm giác đến tư duy, từ cụ thể đến trừu tượng được thực hiện dưới hình thức lời
giảng.
Cuối cùng là phương pháp thực hành. Phương pháp này giúp hình thành khái
niệm Hóa học ở học sinh một cách chính xác, có hiệu quả, hoặc có thể dùng lời
Khóa luận tốt nghiệp 5 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
minh họa hay cụ thể hóa lại những kiến thức đã học; rèn luyện khả năng độc lập suy
nghĩ, cộng tác và khả năng tư duy logic. Phát triển kỹ năng, kỹ xảo thực hành hóa
học.[3]
Kết quả học tập sẽ được nâng cao nếu chúng ta biết phối hợp tốt các phương
pháp dạy học một cách hợp lí.
1.1.2. Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học
giáo viên là “nhạc trưởng” dẫn lái và định hướng, hỗ trợ, giải đáp, khuyến
khích….Thầy chủ động và trò chủ động sẽ tạo nên môi trường hợp tác hữu ích giữa
người dạy và người học. Trong quá trình dạy và học, người học phải được rèn luyện
về phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học để khơi dậy nội lực vốn có của
mỗi người, kết quả học sẽ tăng lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh
hoạt động học trong quá trình dạy học, nổ lực tạo sự chuyển biến tự học tập thụ
động sang tự học chủ động, đặt vấn đề tự học trong trường phổ thông, không chỉ tự
học ngay trong trường phổ thông, không phải tự học ở nhà mà cả tự học trong tiết
học có sự hướng dẫn của giáo viên.[10]
Bên cạnh tính chủ động sáng tạo, PPDH tích cực còn đòi hỏi tính kế thừa,
bao gồm kế thừa cả kỹ năng và PPDH truyền thống thích hợp, kết hợp chặt chẽ với
các phương tiện, quan hệ với thế giới mới, quan trong hệ thống nền kinh tế tri thức
toàn cầu. Đồng thời, cần giáo dục cho học sinh kỹ năng hiểu và ứng xử từ đơn giản
đến phức tạp.
Qua đó, ta thấy đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực đó là khai thác tính chủ
động, sáng tạo trong học sinh, lấy người học làm trung tâm.
1.1.4. Đổi mới phƣơng pháp dạy học có sự hổ trợ của CNTT
Chỉ thị 29/2001/CT – BGD & ĐT của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã nêu rõ : “
Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay
đổi phương pháp, phương thức dạy và học. Công nghệ thông tin là phương tiện để
tiến tới một xã hội học tập”.[13]
CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình
thức dạy học. Những PPDH theo cách tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học
phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các
Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
hình thức dạy học như dạy học theo lớp, theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi
mới trong môi trường CNTT.
Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong
ngôn ngữ lập trình nào đó, để yêu cầu máy tính thực hiện các thao tác cần thiết ( cập
nhật, lưu giữ, xử lí dữ liệu và truy xuất thông tin ) theo một kịch bản ( giải thuật ) và
yêu cầu đã được định trước. PMDH bao hàm trong nó những tri thức của khoa học
giáo dục và các kỹ thuật của CNTT. Hay nói cách khác, PMDH là sản phẩm được
kết tinh từ hai loại chuyên gia: sư phạm và tin học. Như vậy, không phải cứ một
phần mềm nào được sử dụng vào dạy học thì được gọi là PMDH, mà chỉ có thể nói
đến việc khai thác những khả năng của nó để hỗ trợ cho quá trình dạy học mà
thôi.[2]
Các PMDH có thể sử dụng trong dạy học với các chức năng sau:
- Dạy – học kiến thức mới.
- Ôn tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
1.2.2. Ƣu điểm và nhƣợc điểm của việc sử dụng phần mềm dạy học
1.2.2.1. Ƣu điểm
- Môi trường đa phương tiện kết hợp với những hình ảnh video, camera,…
với âm thanh, văn bản, biểu đồ…được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch
sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan.
- Kỹ thuật đồ họa nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội, trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra
trong điều kiện nhà trường.
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những
công việc mang tính trí tuệ cao.
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với
người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả internet …có thể được khai thác để
tạo nên những điều kiện cực kỳ thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học sinh
học tập trong hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc
trong giao lưu.
- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình,
kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy
luận có lí, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới.
đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các PPDH đồng thời
phát huy ưu điểm của PPDH này làm hạn chế những nhược điểm của PPDH truyền
Khóa luận tốt nghiệp 10 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
thống. Điều đó làm cho CNTT, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể
phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó.
- Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến
việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó.
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác
định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học. Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều
bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện. Các phương tiện, thiết bị phục
vụ cho việc đổi mới PPDH bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu, chưa
đồng bộ và chưa được hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu
quả.
- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều
sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền. Công
tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở
việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công
sức để sử dụng CNTT trong lớp học một cách có hiệu quả.
1.3. Giới thiệu một số phần mềm mô phỏng thí nghiệm
1.3.1. Phần mềm ChemLab
Model ChemLab là một trong những phần mềm mạnh nhất trong các phần
mềm Model Science được dùng để mô phỏng khoảng hơn 32 bài thí nghiệm khác
nhau thuộc các lĩnh vực hóa đại cương, phân tích, vô cơ, hữu cơ, hóa lý… Sức
mạnh vượt trội của ChemLab là trang bị một phòng thí nghiệm hóa học mô phỏng
hiện đại với rất nhiều dụng cụ và hóa chất thí nghiệm, cho phép người dùng lựa
chọn các bài thí nghiệm khác nhau và có khả năng tự thiết kế các thí nghiệm tương
tự, phục vụ cho mục đích nghiên cứu và giảng dạy hóa học.
1.3.1.1. Sử dụng ChemLab
xuất hiện một menu
context giúp lựa chọn các thao tác khi tiến hành thí nghiệm ( lấy hóa chất, đo nhiệt
độ, đo pH, cân khối lượng, rót hóa chất,…). Có thể lấy hóa chất bằng cách chọn
Chemical.
- Kích đúp chuột trái vào dụng cụ chứa hóa chất
xuất hiện hộp
thoại Chemical properties cho biết tính chất của chất.
Với phần mềm này chúng ta có thể thực hành các dạng thí nghiệm sau:
- Kiểm tra chuẩn độ pH thông qua phản ứng axit - bazơ, đo độ pH của
dung dịch.
- Phản ứng hoà tan muối, tạo muối kết tủa.
Khóa luận tốt nghiệp 12 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
- Mối quan hệ giữa thể tích và áp suất của chất khí trong môi trường
nhiệt độ không đổi.
- Một số thí nghiệm chung.
- Xác định thành phần của một hoá chất có gốc muối Cl
-
.
- Phản ứng oxi hoá khử.
- Thí nghiệm về nhiệt.[11]
1.3.1.2. Ƣu điểm và nhƣợc điểm của phần mềm
ChemLab được thiết kế trong môi trường Window nên màn hình giao diện
khá quen thuộc: thanh Menu chính, Chem Tool, Text Tool, Text Tab và thanh trạng
thái. Giúp cho người sử dụng dễ dàng làm quen và sử dụng.
Với các thí nghiệm có sẵn, người sử dụng có thể tiết kiện được thời gian và
công sức. Đồng thời, cũng có thể dựa vào các thí nghiệm đó để thiết kế các thí
bậc trung học phổ thông. Phiên bản mới nhất là 605.
Sau khi cài đặt, ta kích đúp vào biểu tượng của Crocodile Chemistry 605 trên
destop, ta sẽ thấy giao diện màn hình như sau:
Các thành phần chính chủa màn hình bao gồm:
* Thanh công cụ:
Xóa đối tượng
Tạo một thí nghiệm mới (Ctrl+N)
Mở một thí nghiệm đã tạo trước đó (ctrl+O)
Lưu một nghiệm đang tiến hành (Ctrl+S)
In trang trình bày thí nghiệm (Ctrl+P)
Cắt một đối tượng được chọn lưu vào clipboard (Ctrl+X)
Khóa luận tốt nghiệp 14 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHHCopy một đối tượng được chọn lưu vào clipboard (Ctrl+C)
Đưa một đối tượng đang có trong clipboard ra màn hình
(Ctrl+V)
Nhận biết các chất
Nội dung trực tuyến
Nội dung cá nhân
Khóa luận tốt nghiệp 15 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
63 đồ dùng trong Crocodile Chemistry được thiết kế xung quanh chương
trình khoa học mới làm cho việc sử dụng trở nên dễ dàng hơn nhiều để thiết lập
những thí nghiệm. Mỗi đồ dùng giải quyết một đề tài đặc biệt từ chương trình khoa
học. Trong mỗi ngăn đồ dùng bạn sẽ tìm thấy một mô hình để bắt đầu, đây là một
môi trường làm sẵn nơi người sử dụng có thể thiết lập thí nghiệm. Người sử dụng
cũng sẽ tìm thấy hóa chất, thiết bị cần và thiết lập như mong muốn. Chemicals: Các loại hóa chất bao gồm: kim loại, axit, kiềm, oxit, halogenua,
sunfit, cacbonat, các chất khí,…
Hóa chất có thể ở dạng bột ( powders ), miếng ( lumps ), lỏng ( liquids ), khí
( gas ), dung dịch ( solution ),…Dạng bột có mịn ( fine ), vừa ( medium ), thô (
coarse ).
Cách lấy hóa chất: mở kho hóa chất, click chuột vào biểu tượng hóa chất cần
lấy, kéo rê ra vùng thực hiện thí nghiệm.
Cách tạo phản ứng giữa các chất: chọn một hóa chất đặt ở trên vùng làm
việc, sau đó lựa chọn tiếp chất thứ hai mang lại đúng vị trí của lọ thứ nhất, rồi bấm
chuột trái, lập tức hóa chất trong lọ thứ hai sẽ được đổ vào lọ thứ nhất . Ngoài ra,
bạn còn có thể xoay lọ hóa chất thứ hai để đổ vào lọ thứ nhất. Cứ như vậy bạn có
thể hòa nhiều chất khác nhau vào cùng một lọ. Sau khi trộn, nếu có phản ứng xảy ra
bạn sẽ thấy những hiện tượng bên trong lọ. Bạn xem ở phần Information Toolbar để
biết phương trình phản ứng xảy ra. Những phản ứng xảy ra trong chương trình này
Khóa luận tốt nghiệp 16 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
Với Crocodile Chemistry, giáo viên có thể để cho học sinh của mình tự thiết
kế nên một thí nghiệm với độ an toàn rất cao. Phần mềm là ý tưởng hoàn hảo cho
quá trình học tập, làm việc, hoạt động nhóm, điều tra nghiên cứu hay thực hành
trong cuộc sống thật. Nó cũng rất hữu ích, tránh được những sai lầm trong thí
nghiệm thực sự.[9]
Tuy vậy, Crocodile Chemistry vẫn còn một số nhược điểm. Ngôn ngữ phần
mềm là tiếng Anh nên còn hạn chế khả năng sử dụng của giáo viên. Kho hóa chất
chưa đáp ứng hết các thí nghiệm cần thiết, vì vậy một số thí nghiệm không thể thực
hiện với Crocodile Chemistry.
1.3.3. Phần mềm Science Teacher’s Helper soạn giáo án trong word
1.3.3.1. Sử dụng Science Teacher’s Helper
Science Teacher’s Helper là phần mềm hỗ trợ soạn giáo án trên word. Sau
khi cài đặt, tiện ích này sẽ được gắn trên thanh công cụ của phần mềm soạn thảo
word như một Plug-in và người dùng chỉ cần sử dụng nó cho công việc của mình.
Trên thanh công cụ Science Teacher’s Helper được gắn trong phần mềm
MicrosoftWord gồm các phần như: Physics ( vật lý ), Chem ( hóa học ), Math ( toán
học ), Electronic ( điện từ ), một số các kí hiệu, biểu tượng chung…
Toolbar Science
Teacher’s Helper
Khóa luận tốt nghiệp 18 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
Để biểu diễn một dụng cụ thí nghiệm hóa học, ta chỉ cần click chuột vào chủ
đề Chem, một menu con sổ xuống vói các chủ đề quan trọng được phân loại các
dạng hình vẽ cơ bản như: các dạng bình chứa khí, nhiệt độ,…. Trên đây là một số dụng cụ thí nghiệm mà các bạn có thể tìm thấy như: bình
đựng hóa chất, đèn cồn, ống đong,….Và còn rất nhiều dụng cụ nữa mà giáo viên
thí nghiệm hoàn chỉnh.
- Hiệu chỉnh: Bước này nhằm tinh chỉnh, kiểm tra, xem xét lại toàn bộ thí
nghiệm xem đã thể hiện đúng bản chất của sự việc hay chưa?… Tại bước này thí
nghiệm được kiểm tra cẩn trọng, tỷ mỉ nhằm phát hiện ra các phần còn thiếu sót của
thí nghiệm.
1.5. Yêu cầu sƣ phạm cần thiết khi sử dụng các phần mềm mô phỏng thí
nghiệm kết hợp với bài giảng điện tử
Trước hết cần phân biệt: Thế nào là thí nghiệm ảo? Thế nào là bài giảng điện
tử?
Bài giảng điện tử: là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế
hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông
qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra. Cần lưu ý bài giảng điện tử không
phải đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào tập mà đó là toàn bộ hoạt động
dạy và học tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến
thức của học sinh. Bài giảng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế
“bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt
động trên lớp. Các đơn vị của bài học đều phải được Mutimedia hoá. Trong môi
trường multimedia thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản (text), đồ hoạ
(graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và phim video
Khóa luận tốt nghiệp 20 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
(videoclip). Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy
học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được
multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi
cấu trúc của bài học. Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy
được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành. Giáo án điện tử
chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử
hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để
có được bài giảng điện tử.
rút ra các kết luận khoa học của vấn đề nghiên cứu. Số lượng thí nghiệm trong một
bài phải vừa phải, chọn thí nghiệm trình chiếu hợp lý để bài giảng đạt hiệu quả cao
nhất.[10]
Khóa luận tốt nghiệp 22 GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Dung Lớp: 08SHH
CHƢƠNG II
XÂY DỰNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ẢO PHẦN VÔ CƠ Ở TRƢỜNG THPT
2.1. Vai trò của thí nghiệm