SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4 KHẮC
PHỤC NHỮNG KHÓ KHĂN, SAI LẦM KHI HỌC VỀ
ĐẠI LƯỢNG VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Điện Biên I
SKKN thuộc lĩnh vực: Toán
THANH HOÁ NĂM 2016
1
1. MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát
triển toàn diện nhân cách của con người, tạo cho trẻ phát triển năng lực nhận
thức, tạo tiền đề cơ bản để nâng cao trí nhớ và trẻ trở thành người công dân
mang trong mình những phẩm chất tốt. Muốn phát triển được phẩm chất trên thì
phải thông qua các môn học bắt buộc ở Tiểu học đặc biệt là môn Toán. Môn
Toán có vị trí vô cùng quan trọng, nó chiếm thời lượng lớn trong chương trình
học. Qua việc học Toán sẽ rèn luyện cho học sinh phương pháp suy nghĩ,
phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề. Toán sẽ bồi dưỡng cho
trẻ tính chính xác, đức tính trung thực, cẩn thận và hăng say lao động, ...Từ đó
giúp các em phát triển toàn diện nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận:
Đảng và Nhà nước ta luôn xem "Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, và đặc
biệt coi trọng công tác giáo dục thế hệ trẻ. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển
giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo
dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to
lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển giáo dục và đào tạo
là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá
trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo
dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.. Lí thuyết
kiến tạo là một trong những phương pháp dạy học mang tính tích cực, phù hợp
với quá trình học tập của người học, làm cho người học chủ động, tích cực hơn
trong việc hình thành, chiếm lĩnh tri thức.
Chương trình môn Toán ở Tiểu học về cơ bản được xây dựng trên cơ sở
hoạt động của người học và người dạy. Điều này thể hiện quan điểm kiến tạo.
Mỗi kiến thức toán trong chương trình được thiết kế dưới dạng cung cấp thông
tin và chỉ dẫn các hoạt động học tập, nhằm làm cho người học bằng họat động
của mình, dưới sự điều khiển của giáo viên, tự xây dựng nên kiến thức cho bản
thân.
Các kiến thức, kĩ năng của môn toán có nhiều ứng dụng trong đời sống,
giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của
thế giới hiện thực. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và
công nghệ thông tin đó làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng vượt trội. Điều
đó đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội dung,
phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học sinh
nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào tạo
Để đánh giá chất lượng dạy-học nội dung: “đại lượng và đo đại lượng” tôi ra
đề kiểm tra
Môn: Toán – Lớp 4.
Thời gian: 30 phút.
Bài 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
3 phút = ….giây.
15 tấn = ….tạ.
1
m =.....cm.
3
4 tạ 5 kg =….kg.
Bài 2: Trong các khoảng thời gian sau, khoảng thời gian nào dài nhất?
a) 600 giây;
b) 20 phút;
c)
1
giờ;
4
Bài 3: Một xe ô tô chuyến đầu chở được 5 tấn gạo, chuyến sau chở được ít
hơn chuyến đầu 5 tạ gạo. Hỏi cả hai chuyến xe đó chở được bao nhiêu tạ gạo?
6. Kĩ năng ước lượng không tốt.
7. Nhầm lẫn mối quan hệ giữa đơn vị đo độ dài và diện tích.
2.3 Giải pháp thực hiện:
Giải pháp1: Giáo viên nắm vững mạch kiến thức” Đại lượng và đo đại
lượng”
Trong chương trình toán học ở Tiểu học, các kiến thức về phép đo đai
lượng gắn bó chặt chẽ với các kiến thức số học và hình học. Khi dạy học hệ
thống đơn vị đo của mỗi đại lượng đều phải nhằm củng cố các kiến thức về hệ
ghi số (hệ thập phân). Ngược lại, việc củng cố này có tác dụng trở lại giúp nhận
thức rõ hơn mối quan hệ giữa các đơn vị đo của đại lượng đó có kiến thức về
phép tính số học làm cơ sở cho việc dạy học các phép tính trên số đo đại lượng.
Việc chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng được tiến hành trên cơ sở hệ ghi số;
đồng thời việc đó cũng góp phần củng cố nhận thức về số tự nhiên, phân số, số
thập phân theo chương trình toán Tiểu học. Việc so sánh và tính toán trên các số
đo đại lượng góp phần củng cố nhận thức về khái niệm đại lượng, tính cộng được
của đại lượng cộng được, đo được. Như vậy dạy học đại lượng và đo đại lượng
trong chương trình toán Tiểu học nói chung và toán 4 nói riêng rất quan trọng
bởi:
- Nội dung dạy học đại lương và đo đại lượng được triển khai theo định
hướng tăng cường thực hành vận dụng, gắn liền với thực tiễn đời sống. Đó chính
là cầu nối giữa các kiến thức toán học với thực tế đời sống. Thông qua việc giải
các bài toán HS không chỉ rèn luyện các kỹ năng môn toán mà còn được cung
cấp thêm nhiều tri thức bổ ích. Qua đó thấy được ứng dụng thực tiễn của toán
học.
Nhận thức về đại lượng, thực hành đo đại lượng kết hợp với số học, hình học
sẽ góp phần phát triển trí tượng tượng không gian, khả năng phân tích - tổng hợp,
khái quát hoá - trừu tượng hoá, tác phong làm việc khoa học, …
Để dạy tốt lí thuyết mạch kiến thức này giáo viên cần nắm chắc nội dung
chương trình. Dạy học “Đại lượng và đo đại lượng” trong Toán 4 bao gồm các
nội dung:
toán về tính diện tích của hình chữ nhật; hình vuông; hình bình hành; hình thoi.
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn nghiên cứu tài liệu, mạnh dạn áp dụng
đổi mới phương pháp giảng dạy vào từng hoạt động cụ thể của tiết học.
Kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu với mục đích khắc phục
những khó khăn hoặc sai lầm mà các em gặp phải trong quá trình học về Đại
lượng và số đo đại lượng. Cụ thể:
- Đọc các tài liệu có liên quan đến dạy học về Đại lượng và số đo đại lượng.
6
- Thc nghim kim tra tớnh kh thi ca vic i mi phng phỏp trong
quỏ trỡnh hng dn hc sinh hc v i lng v s o i lng.
- Luụn phỏt huy tớnh tớch cc, ch ng, sỏng to ca hc sinh trong quỏ trỡnh
dy - hc.
Gii phỏp2: T chc tt vic dy lớ thuyt (trờn cỏc tit hc)
Nh chỳng ta ó bit dy hc o i lng nhm lm cho hc sinh nm
c phộp o i lng, ú l biu tng giỏ tr ca i lng bng s. T ú
hc sinh phõn bit c o (giỏ tr ca i lng) v s o. Tuy nhiờn, hc
sinh tiu hc cũn cú nhng hn ch trong vic nhn thc : tri giỏc cũn gn vi
hnh ng trờn vt, khú nhn bit c cỏc hỡnh khi chỳng thay i v trớ
trong khụng gian hay thay i kớch thc, khú phõn bit nhng i tng ging
nhau, chỳ ý ca hc sinh tiu hc ch yu l chỳ ý khụng cú ch nh, nờn hc
sinh tiu hc hay chỳ ý ti cỏi mi l, hp dn, cỏi p vo trc mt hn l cỏi
cn quan sỏt, i vi hc sinh tiu hc trớ nh trc quan hỡnh tng phỏt trin
mnh hn trớ nh cõu ch tru tng, trớ tng tng ph thuc hỡnh mu cú
thc, t duy c th l ch yu, cũn t duy tru tng dn dn hỡnh thnh.Vỡ vy
vic dy lớ thuyt trong mch kin thc ny l rt quan trng, giỏo viờn phi lm
sao hc sinh ghi nh chớnh xỏc, trỏnh nhm ln gia cỏc i lng vi nhau.
hc sinh nm c bn cht ca i lng v o i lng, giỏo viờn
hay một khu rừng, biển và giới thiệu: Để đo diện tích của biển,
rừng, cánh đồng ... ngời ta dùng đơn vị đo diện tích lớn hơn
là km2.
Dng 2: Dy h thng n v o, cỏch chuyn i n v o
+ Nhc li cỏc n v o ó hc (khi lng, di, din tớch, thi gian)
+ Vit cỏc n v o theo th t xỏc nh
+ Thc hnh i: T ln ra bộ hoc ngc li: T 2 n v v 1 n v hoc
ngc li.
Bin phỏp: Trc ht tụi giỳp hc sinh nm chc kin thc ban u v i lng
v s o i lng:
- Nm vng tng bng n v o. Thuc th t bng ú t nh n ln v
ngc li t ln n nh.
- Nm vng c quan h gia 2 n v o lng lin nhau v gia cỏc
n v khỏc nhau.
- Xỏc nh yờu cu bi tp loi bi tp i t ln ra bộ hay t bộ ra ln
- Thc hnh chuyn i n v o.
* Vớ d: Khi thc hin i n v o khi lng, tụi yờu cu hc sinh:
+ Nm chc cỏc n v trong bng n v o khi lng, giỳp hc sinh nhn
xột c Hai n v o khi lng liờn tip gp (hoc kộm) nhau 10 ln. Nhn
bit mi quan h thng gp nh:
1 tn = 1000 kg; 1 t = 100 kg; 1 kg = 1000g;
1 hg = 100 g
Cho hc sinh liờn h gia bng n v o khi lng vi bng n v o
di. Giỳp hc sinh cng c nhn thc v h m thp phõn v c im ca tp
hp s t nhiờn: C mi n v mt hng li tp hp thnh mt n v
hng trờn tip lin nú.
+ Khi chuyn i cỏc n v o Thi gian cn giỳp cho cỏc em thy c
quan h gia cỏc n v o thi gian khụng chuyn i theo h m c s 10,
- Nêu các đơn vị vừa được học
- Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị đo liền kề nhau.
- Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị đo bất kì (Dành cho học sinh năng
khiếu)
- Nêu yêu cần của đề bài: Đổi từ đơn vị nào ra đơn vị nào?
2. Học sinh làm bài: Tùy theo từng yêu cầu của mỗi loại bài giáo viên có thể cho
học sinh làm bài cá nhân hoặc làm theo nhóm hay tổ chức trò chơi.
3. Chữa bài:
- Giáo viên có thể tổ chức chữa chung cả lớp: Yêu cầu học sinh đọc bài Giải thích cách làm - Nêu cách làm khác (nếu có)
- Giáo viên có thể chữa riêng (đối với học sinh tiếp thu chậm) để giúp các
em nắm vững kiến thức.
Ví dụ khi dạy về đơn vị đo khối lượng:
Bài: Yến, tạ, tấn: Học sinh cần hoàn thành bài 1, 2, 3 (chọn 2 phép tính)
Bài 1 (trang 23 - Toán 4): Củng cố khả năng ước lượng của học sinh
9
Con bò 2 tạ; Con gà 2kg; Con voi 2 tấn Tuy nhiên không phải học sinh
nào cũng ước lượng đúng. Vẫn còn em ước lượng con bò 2 tấn, con voi 2 tạ
Bài 2 (trang 23 -Toán 4) Thực hành chuyển đổi các đơn vị đo khối lượng:
- Giáo viên yêu cầu cả lớp làm bài. Sau đó yêu cầu học sinh trình bày kết
quả - Giải thích cách làm: Vì sao 5 yến = 50kg (Vì 1 yến = 10kg nên 5 yến =
10kg x 5 = 50 kg ) hay: Em thực hiện thế nào để tìm được 2 tấn 85kg = ..kg (Vì
1 tấn = 1000kg nên 2 tấn 85kg = 1000 x 2 + 85 = 2085kg). Tuy nhiên trong
trường hợp này cũng có học sinh nhầm lẫn đổi 2 tấn 85kg = 285kg
Bài 3: (trang 23 - Toán 4) Thực hành tính với các số đo đại lượng
Cho học sinh vận dụng giải một số bài toán có lời văn, làm bài tập trong
sách giáo khoa với mức độ nâng dần.
Trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy học sinh còn mắc sai lầm khi
*Trng hp 2: Hc sinh khụng nm vng quan h gia cỏc n v o ca
mt i lng (dng bi tp i t danh s phc sang danh s n)
- VD 1: (i s o thi gian): Bi 2 (trang 26 - Toỏn 4)
3 gi 10 phỳt = 310 phỳt.
*Cỏch khc phc:
Hc sinh phi nm chc 1 gi = 60 phỳt.
Ta cú: 3 gi 10 phỳt = 3 gi + 10 phỳt = 180 phỳt + 10 phỳt = 190 phỳt.
Vy: 3 gi 10 phỳtt = 190 phỳt.
- Cỏc bi tp khỏc hng dn tng t:
1 phỳt 8 giõy = giõy.
2 phỳt 5 giõy = .giõy.
4 phỳt 20 giõy = .giõy; .
- VD 2: (i s o din tớch):* Bi 2 (trang 65- Toỏn 4):
10 dm2 2 cm2 = . cm2.
Hc sinh i nhm: 10dm2 2cm2 = 102cm2
*Cỏch khc phc:
Do hc sinh cha nm chc mi quan h gia hai n v o (dm2 v cm2 1dm2 = 100cm2), do vy dn n sai lm trờn.
Hc sinh cú th i: Vỡ 1dm2 = 100cm2
Ta cú: 10dm2 = 10 x 100cm2 = 1000cm2.
Nờn: 10dm2 2cm2 = 1000cm2 + 2cm2 = 1002cm2.
Vy: 10dm2 2cm2 = 1002cm2.
i vi cỏc em hc sinh khỏ gii cỏc em cú th t hon thnh c thỡ sau
khi ra kt qu, giỏo viờn yờu cu cỏc em gii thớch cỏch lm.
- VD3: Bi 4 (trang 64- Toỏn 4). in du >;
cm mm
Vy: 5420mm = 5 m 420mm
Ta có thể dịch mỗi chữ số ứng với 1 hàng đơn vị đo độ
dài ở đây
Giáo viên cần giúp học sinh bớc đầu có nhận xét Khi viết
số đo diện tích, mỗi đơn vị ứng với hai chữ số.
Ví dụ: 123 456 cm2 = 12m2 34dm2 56cm2
Lu ý: Ch s hng n v bao gi cng gn vi tờn n v ca s ú
*Trng hp 3: Hc sinh khụng hiu bn cht ca phộp tớnh trờn cỏc s o
i lng.
-VD:(S o thi gian).
360 giõy = .phỳt.
Hc sinh vit: 360 giõy : 60 giõy = 6 phỳt, vy 360 giõy = 6 phỳt.
Trong trng hp ny, hc sinh ó tỡm ra c kt qu ỳng nhng trỡnh by
sai vỡ khụng hiu bn cht ca phộp tớnh c vit ra. Trong cỏch vit trờn thỡ
phi hiu ú l t s (thng) ca hai s o thi gian cựng mt n v o l giõy.
Vỡ vy giỏ tr ca t s ny phi l 6, ch khụng phi l 6 phỳt.
Vy phi cho cỏc em thy c bn cht ca vn l:
60 giõy = 1 phỳt v 360 : 60 = 6 hay 360 giõy gp 60 giõy 6 ln.
Vy: 360 giõy = 6 phỳt.
- i vi i s o din tớch, khi lng, di cng cú th mc cỏc sai lm
tng t.
VD: 1300dm2 = .m2 khụng c vit: 1300dm2 : 100dm2 = 13m2 ri kt
lun: 1300dm2 = 13 m2; ..
* Trng hp 4: Hc sinh khụng vn dng c khỏi nim v cỏc phộp tớnh
v phõn s.
- VD: Bi 1 (trang 25 - Toỏn 4).
phút = 60 giây : 10 x 3 =18 giây hoặc 60 x = 18
10
10
3
phút=18 giây.
10
* Trường hợp 5: Học sinh mắc sai lầm khi thực hiện các phép tính số học
hoặc các phép tính trên số đo đại lượng.
Ví dụ: Bài 2 (trang 24 - Toán 4). Tính: 380g + 195g
452hg x 3
928dag – 274dag
768hg : 6
Học sinh có thể mắc sai lầm như: Học sinh thực hiện các phép tính cộng, trừ,
nhân, chia chưa tốt.
380g + 195g = 475g (575g)
452hg x 3 = 1256hg (1356hg)
928dag – 274dag = 754dag (654dag)
630hg : 6 = 15hg (105hg)
- Ví dụ 2:
trang sách nhỏ.
- Ví dụ: Có hai vật: sắt và bông. Sắt nặng 1 tạ, bông nặng 1 tạ. Vật nào nặng
hơn?
Hay: “Bạn Mai đi từ nhà tới trường hết 15 phút, bạn Lan đi từ nhà tới trường
hết 300 giây. Hỏi bạn nào đi đến trường mất nhiều thời gian hơn?”
Ở đây học sinh sẽ dễ nhầm lẫn và trả lời ngay là sắt sẽ nặng hơn (vì học sinh
thấy sắt thường là nặng, bông thường là nhẹ). Hay bạn Lan đi đến trường mất
nhiều thời gian hơn (Vì học sinh thấy 300 > 15). Mà không thấy được bản chất
của vấn đề.
Sở dĩ học sinh có các sai lầm trên học kĩ năng ước lượng của học sinh chưa
tốt, học sinh thường chỉ dựa vào hình thức bên ngoài và đưa ngay nhận xét, kết
luận.
Trước những sai lầm đó, giáo viên cần giúp các em biết ước lượng khối
lượng, độ dài hay diện tích của từng loại đối tượng, sự vật với các đơn vị đo
thích hợp. Cho học sinh sưu tầm những đồ vật có khối lượng theo yêu cầu của
giáo viên
Như vậy với các trường hợp nêu trên, ta có thể thấy được cơ bản một số
sai lầm mà học sinh thường mắc và cách khắc phục những sai lầm đó khi làm
các bài toán về Đại lượng và số đo đại lượng.
Giải pháp 4: Hướng dẫn tốt việc tự học của học sinh
Khi giáo viên đã hướng dẫn học sinh thực hành tốt các bài tập cơ bản
trong sách giáo khoa thì có thể mở rộng kiến thức cho học sinh thông qua các
tiết thực hành ở buổi 2 nhằm củng cố kiến thức đã học đồng thời mở rộng nâng
cao kiến thức. Muốn vậy đòi hỏi giáo viên phải căn cứ vào đặc điểm nhận thức
của học sinh tiểu học để lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung và đối
tượng học sinh, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em phát huy trí lực,
chủ động lĩnh hội kiến thức, năng động, linh hoạt trong việc luyện tập đổi đơn vị
đo.
* Tự học trên lớp:
- Trước giờ vào học: Giáo viên cho học sinh truy bài lẫn nhau (Có thể
*Tự học ở nhà
+ Yêu cầu học sinh tìm hiểu thêm các dạng bài về đại lượng qua tài liệu
tham khảo, mạng Internet hoặc qua báo Toán tuổi thơ để thực hành giải theo yêu
cầu của giáo viên.
+ Giáo viên chấm cá nhân cho từng học sinh
Ví dụ: Khi giải dạng toán về thời gian nếu các em không nắm chắc mối quan hệ,
quy luật về thời gian thì rất dễ bị nhầm lẫn.
Bài toán1: Nam hỏi Hùng ” Bây giờ là mấy giờ?” Hùng đáp: ” Thời gian
từ lúc bắt đầu ngày đến bây giờ gấp 3 lần thời gian từ bây giờ đến lúc nửa đêm”.
Hỏi bây giờ là mấy giờ?
Phân tích: - Xác định khoảng thời gian từ lúc bắt đầu ngày đến lúc nửa đêm gồm
bao nhiêu giờ? (24 giờ)
- Biết thời gian từ lúc bắt đầu ngày đến bây giờ gấp 3 lần thời gian từ bây giờ
đến nửa đêm. Từ đó đưa về dạng toán tìm hai số biết tổng và tỉ số của hai số đó.
Bài giải: Khoảng thời gian từ bây giờ đến nửa đêm là 1 phần thì khoảng thời
gian từ lúc bắt đầu ngày đến bây giờ là 3 phần như thế.
Khoảng thời gian từ bây giờ đến nửa đêm là: 24 : ( 1 + 3) = 6 ( giờ)
Khoảng thời gian từ lúc bắt đầu ngày đến bây giờ là: 24 – 6 = 18( giờ)
Vậy bây giờ là 6 giờ tối.
Bài toán 2: Chiếc đồng hồ nhà Nam cứ mỗi giờ lại chay nhanh 15 giây.
Hôm nay lúc 5 giờ sáng, Nam chỉnh lại đồng hồ theo giờ chuẩn trên đài. Hỏi đến
5 giờ sáng hôm sau thì chiếc đồng hồ nhà Nam sẽ chỉ mấy giờ?
Phân tích: Ta xác định từ 5 giờ sáng hôm nay đến 5 giờ sáng hôm sau đồng hồ
đúng chạy được 24 giờ. Biết cứ mỗi giờ chiếc đồng hồ nhà Nam chạy nhanh 15
giây, đến đây ta đưa bài toán về dạng quan hệ tỉ lệ để xác định xem khi đồng hồ
nhà Nam chạy đúng, chạy 24 giờ thì chạy nhanh bao nhiêu giây.
Bài giải: Từ 5 giờ sáng hôm nay đến 5 giờ sáng hôm sau gồm 24 giờ.
Cứ mỗi giờ đồng hồ nhà Nam chạy nhanh 15 giây, như vậy sau 24 giờ đồng hồ
nhà Nam sẽ chạy nhanh thêm là: 15 x 24 = 360( giây) hay 6 phút.
+ Hướng dẫn cách cân, đo: giáo viên cần lưu ý là phải chuẩn bị một cách
chu đáo trước khi lên lớp, đặc biệt là đo thử trước khi hướng dẫn học sinh. Sở dĩ
như vậy vì đối với học sinh lớp 4 các em chưa được học về số thập phân nên số
đo của các đồ vật chuẩn bị phải là những số nguyên.
+ Cách đọc số đo và ghi số đo ở trên cân, thước…
- Cho học sinh thực hành đo, ước lượng: Khi hướng dẫn học sinh học các nội
dung này, giáo viên cần tổ chức các hoạt động hướng dẫn học sinh quan sát, ước
lượng, liên hệ đối chiếu. Thông qua các hình ảnh thực tế, các hoạt động sinh
hoạt hàng ngày để học sinh có thể cảm nhận thời gian, thời điểm, thời lượng…
để học sinh đưa ra các phán đoán, kết luận chính xác trước các câu hỏi, bài tập
gắn với thực tế.
* Giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng số đo đại lượng ứng dụng vào
thực tế cuộc sống thông qua các hoạt động:
16
- Thông qua hoạt động của cá nhân các em:
+ Đi chợ: Giúp mẹ đi chợ mua – bán
+ Ước lượng khoảng thời gian học, chơi trong ngày, nhận biết các buổi
trong ngày, các ngày trong tuần
+ Tham gia giao thông: Ước lượng độ dài khoảng cách từ nhà đến trường
học, Từ nơi em ở đến nơi em đi du lịch,...
+ Xem bản đồ: Biết độ dài, diện tích. Vận dụng tính với tỉ lệ bản đồ.
-Thông qua các hoạt động được nhà trường (lớp) tổ chức như:
+ Đố vui về đại lượng:
Ví dụ: Một con sên bò từ chân lên tới đỉnh cái cột cao 10 mét. Ban ngày nó bò
lên được 5 mét, ban đêm nó bò tụt xuống 4 mét. Muốn lên tới đỉnh, con sên phải
bò mất mấy ngày và mấy đêm?
Bài giải: Ngày đầu tiên sên bò lên được 5m, đêm lại tụt xuống 4 m. Như vậy sau
một ngày đêm, sên bò lên được: 5 - 4 = 1 (m)
7 tạ = 700kg
Cách chơi: Học sinh 10 em chia thành 2 đội, mỗi đội 5 em. Các em sẽ nối
tiếp nhau điền Đ hoặc S vào ô trống theo lệnh của giáo viên. Nhóm nào làm
đúng, nhanh thì nhóm đó sẽ thắng.
17
+ Trò chơi này tổ chức vào cuối tiết học.
III. Kết quả đạt được:
Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng vào thực tế giảng dạy ở lớp, tôi
nhận thấy chất lượng khảo sát môn Toán khá cao. Tôi mạnh dạn đưa ra trong
các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ được tập thể giáo viên trong tổ hưởng ứng
và áp dụng vào giảng dạy không chỉ các giáo viên trong khối mà cả các khối lớp
khác cũng đưa vào áp dụng đạt kết quả tốt. Để đối chứng tôi tiến hành kiểm tra
theo đề sau:
Môn: Toán – Lớp 4.
Thời gian: 30 phút.
Bài 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
480 giây = ..... phút
16 500g = ...kg....g
3 2
m =.....cm2.
8
5 tấn 18kg =….kg.
dụng tỉ lệ bản đồ... Không khí giờ học toán diễn ra rất sôi nổi, học sinh yêu thích
học toán hơn. Học sinh đã được phát huy tích cực, chủ động trong lĩnh hội tri
thức cũng như luyện tập thực hành.Các bài tập về đổi đơn vị đo các em ít nhầm
lẫn hơn. Thực hiện các phép tính trên đơn vị đo lường lúc nào các em cũng chú
ý đến việc đổi các số đo về cùng một đơn vị đo. Cụ thể:
+ Học sinh nắm chắc kiến thức về Đại lượng và số đo đại lượng.
+ Các bài tập các em trình bày khoa học, có sự sáng tạo.
+ Học sinh ít mắc những sai lầm trước đây.
+ Kết quả khảo sát cao.
18
19
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
3.1Kết luận
Bằng kinh nghiệm thực tế của mình, chất lượng giảng dạy nội dung “Đại
lượng và đo đại lượng” ở lớp tôi đạt hiệu quả rõ rệt.
Muốn nâng cao chất lượng dạy học nói chung, mỗi giáo viên cần thường
xuyên nghiên cứu tài liệu, các chuyên đề, tập san, mạnh dạn đổi mới phương
pháp dạy học. Đối với nội dung dạy - học Đại lượng và các số đo đại lượng
Toán 4 cũng vậy, giáo viên cần nắm vững mức độ, yêu cầu nội dung dạy học.
Cần có sự tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo trong quá trình giảng dạy, mạnh dạn áp
dụng các phương pháp dạy học mới, phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình
vào giảng dạy. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần thay đổi không khí để học
sinh được tự nhiên, thoải mái, từ đó giáo viên có thể thấy được những thắc mắc,
khó khăn ở học sinh để có cách khắc phục những khó khăn đó một cách tốt nhất.
Đặc biệt giáo viên cần giúp học sinh gắn nội dung học về đại lượng, đo đại
lượng với những hình ảnh, hoạt động sinh hoạt hàng ngày đã giúp các em cảm
cách linh hoạt sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, như vậy bài dạy
mới đạt hiệu quả.
3.3 Kiến nghị
Kinh nghiệm: Một số giải pháp giúp học sinh khắc phục những khó
khăn sai lầm khi học về đại lượng và đo đại lượng- dành cho học sinh lớp 4
đã được áp dụng vào thực tế giảng dạy và bước đầu đạt kết quả. Song cũng
không tránh khỏi những hạn chế. Tôi rất mong được sự góp ý của Hội đồng
khoa học và các bạn đồng nghiệp để kinh nghiệm được hoàn thiện hơn và tôi
cũng xin đề xuất một vài ý kiến nhỏ sau:
+ Giáo viên cần nắm chắc quy trình hình thành kiến thức, phương pháp dạy
học, tích cực bồi dưỡng thường xuyên ở các mức độ và hình thức khác nhau. Từ
việc tự bản thân bồi dưỡng, ở tổ chuyên môn đến các cấp: huyện,thành phố,
tỉnh...
+ Trong quá trình dạy giáo viên cần nắm chắc mục tiêu của bài. Sao cho phù
hợp với đối tượng học sinh để tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, chất lượng,
hiểu quả.
+ Phải có sự chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy - học, đồ dùng phù hợp với bài
dạy. Sử dụng triệt để đồ dùng dạy học để lôi cuốn gây hứng thú học tập cho học
sinh.
+ Cụm chuyên môn, và các trường cần liên kết hợp tác để tổ chức các buổi
hội thảo về chuyên môn để giáo viên được học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau nhằm
làm cho chất lượng giảng dạy ngày càng cao hơn đáp ứng với yêu cầu phát triển
của khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Thanh Hóa, ngày
ĐƠN VỊ
2016
28