MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. MỞ ĐẦU
TRANG
1
1.1. Lí do chọn đề tài
1
1.2. Mục đích nghiên cứu
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
2
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu điều tra khảo sát thực tế
2
1.4.3. Phương pháp thực nghiệm
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề
2
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
3
nghiệm
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
5
2.3.1. Giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình, dạy
5
rất cần thiết để con người phát triển việc học của mình. Môn Toán giúp học sinh
nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hình dạng không gian trong thế giới
hiện thực. Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương
pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, nó góp
phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, đóng
góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao
động trong xã hội hiện đại như tính cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn,
làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.
Trong môn Toán phổ thông toán có lời văn có vị trí rất quan trọng. Đối với
mạch kiến thức: "Giải toán có lời văn" là một trong những mạch kiến thức cơ
bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học. Học sinh Tiểu học làm quen với
Toán có lời văn ngay từ lớp 1 và học liên tục đến lớp 5. Thông qua giải toán có
lời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc,
viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp
của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các
loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng. Dạng
toán có lời văn ở tiểu học được xem như một cầu nối kiến thức toán học trong
nhà trường và ứng dụng của toán học trong đời sống thực tế, đời sống xã hội.
Dạy giải toán có lời văn ở tiểu học là sự vận dụng một cách tổng hợp ngày càng
cao các trí thức kỹ năng về Toán tiểu học với kiến thức được ứng dụng rộng rãi
trong cuộc sống.
Đối với học sịnh lớp 1 tư duy lôgic chưa phát triển, cơ bản là tư duy cụ
thể, cho nên việc giải các bài toán có lời văn đối với các em là rất khó khăn, tỉ lệ
đúng còn ít và chưa chặt chẽ. Trong thực tế ở trường tiểu học, việc giải các bài
toán có lời văn ở lớp 1, học sinh còn lúng túng là khá phổ biến. Đa số các em
đọc đề là làm ngay, bỏ qua các bước giải toán có lời văn. Tỉ lệ tóm tắt bài toán là
thấp, cách giải nghèo nàn, thậm chí là bế tắc khi giải bài tập và còn có trường
hợp tính toán sai. Vậy những biện pháp khắc phục khó khăn giải bài toán có lời
văn cho học sinh lớp 1 trong giai đoạn hiện nay là vấn đề rất cần thiết. Khi các
em chiếm lĩnh được tri thức khoa học, các em sẽ có một cách nhìn, cách nghĩ
- Tiến hành dạy thực nghiệm, đối chứng, trao đổi rút kinh nghiệm, đánh giá hiệu
quả của việc vận dụng đổi mới nội dung - phương pháp dạy học vào lớp 1A trường
Tiểu học Thị Trấn Nga Sơn – Thanh Hóa.
2. NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
Trong các mạch kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì
mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối
với học sinh và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một. Giải toán có lời
văn là một trong bốn mạch kiến thức trong chương trình môn toán lớp 1. Nghiên
cứu dạy giải toán có lời văn nhằm giúp HS:
- Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn (cấu tạo các phần của bài
toán).
- Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng
hoặc một phép tính trừ.
- Bước đầu rèn luyện phương pháp giải toán và khả năng diễn đạt đúng.
Góp phần củng cố kiến thức toán, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học
sinh.
3
Giải toán có lời văn thường có hai phần: Phần một là thông tin đã biết còn
phần hai là yêu cầu cần phải tìm của bài toán. Giải toán có lời văn giúp học sinh
tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả quan hệ đó
bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải bài toán.
Bởi vì đối với lớp Một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả
năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay là
nói chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực.
Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép
tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có
được phép tính như vậy. Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng
chưa thạo. Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp 1, tôi nhận
thấy khi dạy đến phần giải toán có lời văn học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời
4
giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, đáp số. Chủ yếu do một số
nguyên nhân sau:
+ Tư duy của học sinh còn mang tính trực quan là chủ yếu.
+ Không biết tìm hiểu bài toán, chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải
bài toán có lời văn.
+ Ở giai đoạn này các em chưa đọc thông viết thạo, có em đọc còn đánh vần.
+ Khi về nhà học sinh lại chưa được bố mẹ quan tâm đến bài vở của con do
đi làm vất vả hoặc muốn quan tâm nhưng không biết dạy con sao cho đúng
phương pháp dẫn đến giáo viên rất vất vả khi dạy đến dạng bài toán có lời văn.
2.2.3. Kết quả điều tra đầu kỳ II năm học 2016- 2017:
Năm học: 2016-2017 được nhà trường phân công dạy lớp 1A. Tổng số học
sinh: 32 em trong đó có 14 em nữ. Phần lớn các em ham học, có hứng thú học
tập môn Toán nói chung và “ Giải bài toán có lời văn ” nói riêng.
Khi dạy đến phần giải toán có lời văn tôi đã điều tra được kết quả như sau:
Đề bài: (Bài tập 2 SGK Toán 1 trang 122)
Tổ em có 5 bạn nam và 5 bạn nữ. Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?
Kết quả thu được:
TT
1
Lớp
sĩ số
Qua kết quả trên cho thấy số lượng HS viết đúng lời giải còn rất ít. Có HS
biết nêu lời giải thì viết sai phép tính, đáp số và ngược lại. Như vậy chứng tỏ các
em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. Đây cũng
là băn khoăn trăn trở đòi hỏi người GV tìm cách giải quyết.
2.2.4. Nguyên nhân của thực trạng:
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng giải toán có lời văn cho học
sinh lớp 1A còn thấp nhưng cơ bản là những nguyên nhân sau:
Một là: Giáo viên chưa nắm chắc nội dung chương trình và chưa phân hoá
đối tượng học sinh nên còn lúng túng trong quá trình hướng dẫn học sinh giải
toán có lời văn.
Hai là: Nhiều học sinh chưa nắm chắc cách giải một bài toán có lời văn.
Ba là: Giáo viên chưa đi sâu hướng dẫn học sinh giải từng dạng bài toán
có lời văn cụ thể.
Bốn là: Học sinh còn ngại học, chưa hứng thú với việc giải toán có lời
văn.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
5
Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức Toán, rèn luyện khả năng
diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh. Vì thế để dạy tốt môn
toán lớp 1 nói chung, giải toán có lời văn nói riêng, người giáo viên phải:
2.3.1. Giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình, dạy phân hoá đối
tượng học sinh trong lớp:
a. Giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình:
Đối với HS tiểu học khả năng giải toán phản ánh năng lực vận dụng kiến
thức toán của HS. Học giải toán có lời văn là học cách giải quyết vấn đề trong
môn Toán. Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa về các phép tính và
kèm theo lời giải và cuối cùng đưa ra đáp số của bài toán. Giải toán có lời văn
góp phần củng cố kiến thức Toán. Vì thế để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung,
3
2 =
1
+ Lúc đầu có 3 con chim đang đậu trên cành, còn lại trên cành 1 con
chim. Vậy có 2 con chim đã bay đi:
3
1 =
2
+ Có 1 con chim đang đậu trên cành, 2 con chim đã bay đi. Vậy có tất cả
3 con chim:
1 + 2 =
3
+ Có 2 con chim đã bay đi, 1 con chim đang đậu trên cành. Vậy có tất cả
3 con chim:
2 + 1 =
3
Ở đây nội dung kiến thức không tăng, nhưng yêu cầu cao hơn khi HS đã
quen dần với giải toán. Đối với loại bài tập này, HS ít nhất phải viết được phép
tính đầu tiên. Với các phép tính sau tôi nêu yêu cầu phù hợp với mỗi đối tượng
HS trong lớp. Tôi động viên khả năng diễn đạt cho HS. Vì thế khả năng diễn đạt
của các em được nâng dần hơn. Qua đó các em đã mạnh dạn, tự tin hơn rất nhiều
trong giao tiếp.
* Mức độ 2:
Đến cuối học kỳ I, HS đã làm quen với bài toán qua tóm tắt bằng lời, để
từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ. HS dần thoát li khỏi những hình
ảnh trực quan, từng bước tiếp cận với đề bài toán. Yêu cầu HS phải đọc được và
hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời, chọn phép
tính thích hợp nhưng chưa cần viết câu lời giải. Tôi không yêu cầu cao đối với
tất cả các HS nhưng đối với các em khá, giỏi tôi động viên các em làm nhiều
cách từ một hình vẽ hay một tình huống trong SGK.
phải tìm (câu hỏi). Phần cho biết gồm có hai yếu tố.
Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “Bài toán có lời văn”.
Ví dụ: Bài 3 trang 116 ( sách giáo khoa Toán 1): Viết tiếp câu hỏi để có
bài toán:
Bài toán: Có 1 gà mẹ và 7 gà con. Hỏi…………………………………
8
- Tôi yêu cầu học sinh quan sát tranh và hỏi: Bài toán cho biết gì? (Có 1
gà mẹ và 7 gà con).
- Bài toán hỏi gì? (Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà).
- Yêu cầu học sinh nêu câu trả lời và viết phép tính thích hợp:
1 + 7 =
8
- Giáo viên hướng dẫn để học sinh hiểu: 8 là tất cả số gà tính được. Đây
là cơ sở để học sinh viết câu lời giải của dạng toán có lời văn sau này.
* Mức độ 4: Hình thành cách giải bài toán có lời văn
Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, SGK đã nêu một bài toán,
phần tóm tắt đề toán và bài giải hoàn chỉnh để HS làm quen (SGK trang 117).
* Về hình thức trình bày bài giải, học sinh phải trình bày bài giải đầy đủ
theo quy định thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5. Bài giải gồm 3 phần: câu lời giải,
phép tính, đáp số.
* Về số lượng bài toán trong một tiết học được rút bớt để dành thời gian
cho trẻ viết câu lời giải. Chẳng hạn trước đây trong 1 tiết “ Bài toán nhiều hơn”
học sinh phải giải 8 bài toán (4 bài mẫu, 4 bài luyện tập), thì bây giờ trong tiết
“Giải toán có lời văn” học sinh phải giải 4 bài (1 bài mẫu, 3 bài luyện tập).
- Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho học sinh chỉ cần chỉnh sửa một
chút thôi là được ngay câu lời giải.
- Cài sẵn “cốt câu” lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tóm tắt
mà viết câu lời giải.
ngữ toán học đó là phép tính thích hợp.
Ví dụ: Có một số quả cam, khi được cho thêm hoặc mua thêm nghĩa là
thêm vào phải làm tính cộng. Nếu đem cho hay đem bán thì phải làm tính trừ.
Sau đó giáo viên nâng dần lên với yêu cầu cao hơn cùng lời động viên kịp thời
để khuyến khích học sinh yếu kém hứng thú với việc giải toán, tránh định kiến
thiếu tin tưởng vào sự tiến bộ của học sinh.
- Kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài giảng, cách suy luận của các em và
hướng dẫn cụ thể cách học bài và làm bài. Giáo viên gần gũi, quan tâm, giúp đỡ
học sinh.
- Tổ chức cho các em khá giỏi giúp đỡ các em yếu hơn về phương pháp
học tập, cách vận dụng kiến thức như học theo nhóm, học theo tổ.
- Tổ chức kèm cặp, phụ đạo theo thời gian quy định. Ở các buổi học này
chủ yếu củng cố các kiến thức cơ bản, giảm thiểu số lượng bài. Đồng thời chữa
bài tay đôi với học sinh để củng cố kiến thức có phân tích cụ thể, xác thực các
sai lầm học sinh thường mắc phải.
- Phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho học sinh học tập và đôn đốc thực
hiện kế hoạch học tập ở nhà, ở trường của học sinh.
* Đối với học sinh có năng khiếu môn Toán:
- Củng cố vững chắc và đào sâu các kiến thức đã học thông qua những gợi
ý hay những câu hỏi hướng dẫn học sinh đi sâu vào nội dung bài, kiến thức
trọng tâm. Thông qua đó yêu cầu học sinh tự tìm các ví dụ minh họa, ví dụ cụ
thể hóa các kiến thức chung. Đặc biệt thông qua vận dụng, thực hành để kiểm
tra kiến thức đã tiếp thu.
- Ra thêm một số bài tập khó hơn trình độ trung bình để đòi hỏi học sinh
vận dụng sâu khái niệm đã học hoặc vận dụng những giải pháp linh hoạt sáng
tạo.
- Tập cho học sinh tự lập đề toán và giải được các đề toán đó.
- Bồi dưỡng cho các em phương pháp học toán và tự học toán ở gia đình
trên cơ sở của sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu về toán. Kết hợp với gia đình
để tạo điều kiện cho các em học tập.
Sau đó hỏi: Bài toán cho biết gì? Đề bài yêu cầu gì? Sau khi đọc và hiểu kĩ
bài toán học sinh tự tóm tắt bài toán .
An có: …quả bóng
Bình có: … quả bóng
Cả hai bạn có: ….quả bóng?
Có một số học sinh lại điền luôn kết quả vào câu hỏi. Chẳng hạn :
An có
: 4 quả bóng
Bình có
: 3 quả bóng
Cả hai bạn có : 7 quả bóng.
Tôi hướng dẫn học sinh không được viết luôn số 7 vào số quả bóng của hai
bạn vì đây mới là phần tóm tắt, không phải bài giải mà yêu cầu học sinh dựa vào
tóm tắt bài toán để đọc lại đầu bài cho thật kỹ để nắm vững các dữ kiện và yêu
cầu trong bài toán.
b. Tìm cách giải bài toán:
Để giải được bài toán đúng thì tôi hướng dẫn cho các em cách lập kế
hoạch giải bài toán: Xác định trình tự giải bài toán, phải đi từ câu hỏi của bài
11
toán đến các yếu tố đã cho. Xác lập mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm
và tìm được đúng phép tính số học thích hợp.
Ví dụ : Từ bài toán trên, tôi hỏi HS: Ở bài toán này chúng ta cần tìm cái
gì? Cả hai bạn có mấy quả bóng ?
? Muốn tìm cả hai bạn có bao nhiêu quả bóng em làm thế nào?
HS trả lời: Lấy số quả bóng của bạn An cộng với số quả bóng của bạn
Bình tức là lấy 4 quả bóng cộng với 3 quả bóng.
c. Thực hiện cách giải bài toán .
- Hoạt động này bao gồm thực hiện phép tính đã xác định, kèm theo lời
Đây là bài toán giải có lời văn đầu tiên nên tôi hướng dẫn thật kĩ cho HS.
12
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán:
- Tôi cho học sinh đọc kĩ đề bài toán để hiểu nội dung .
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài toán bằng cách đặt câu hỏi :
+ Bài toán cho biết gì? (Nhà em có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà)
+ Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
- Gọi HS nêu tóm tắt bài toán.GV tóm tắt lên bảng:
Có
: 5 con gà
Thêm : 4 con gà
Có tất cả :…con gà ?
Bước 2: Tìm cách giải:
+ Muốn tìm số con gà nhà An có tất cả bao nhiêu thì ta làm thế nào?
(Lấy số gà có ở nhà An cộng với số gà mẹ mua thêm)
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách ghi phép tính trong bài toán giải:
5 + 4 = 9 (con gà)
+ Đến đây, từ kết quả của phép tính vừa tìm được giáo viên hướng dẫn để
học sinh nêu câu lời giải.
+ 9 “con gà” vừa tìm được chính là: Số gà nhà An có tất cả.
+ Bước này, giáo viên hướng dẫn và khuyến khích học sinh nêu nhiều câu
lời giải khác nhau nhưng đều đúng.
+ Bước cuối cùng là đáp số, tìm ra cái gì thì đáp số cái đó (Đáp số: 9 con
gà)
* Đây là một bước làm quan trọng trong quy trình giải. Trên cơ sở phân
tích các dữ kiện của một bài toán nhằm xác định mối quan hệ giữa chúng, đồng
thời tìm ra phép tính thích hợp cho việc giải toán. Ở bước này bản thân tôi thấy
cách hướng dẫn mà tìm phép tính bài giải trước rồi đến câu lời giải thì học sinh
cả bao nhiêu cái bánh?
- Dạng bài này, học sinh hay thiếu bước đổi: 1chục = 10
- Giáo viên hướng dẫn để học sinh đọc đề toán rồi tự làm.
( Giáo viên theo dõi, kiểm tra một số em yếu, trung bình không chịu khó
đọc đề nên thường hay bị sai.)
- Sau khi học sinh tự làm, trình bày. Từ bài học sinh làm giáo viên tổ chức
cho học sinh nhận xét, bổ sung thiếu sót (1 chục cái bánh =10 cái bánh).
Bài giải:
Đổi: 1 chục cái bánh =10 cái bánh
Số cái bánh nhà Lan có tất cả là:
20+10=30 (cái )
Đáp số: 30 cái bánh
* Sau bài này tôi lưu ý HS: Trong bài toán giải có lời văn nếu trong đề bài
có 1 chục, 2 chục,….hoặc tìm số ngày mà cho tuần lễ thì phải đổi: 1 tuần = 7
ngày,1 chục = 10,. . .
* Dạng toán “bớt một số đơn vị”
- Đối với dạng toán này tôi giúp học sinh nhận dạng bài toán qua 1 số từ
“bớt “, “lấy đi”, “bán đi”, hỏi “còn lại”.
Ví dụ: Cửa hàng có 15 búp bê đã bán đi 2 búp bê. Hỏi cửa hàng còn lại
bao nhiêu búp bê?
*Tương tự các bước như trên, giáo viên hướng dẫn học sinh giải:
- Bài toán cho biết gì?(Cửa hàng có 15 búp bê, đã bán đi 2 búp bê.)
- Bài toán hỏi gì? (Cửa hàng còn lại bao nhiêu búp bê?)
- Muốn biết cửa hàng còn lại bao nhiêu búp bê ta làm thế nào?( lấy số búp
bê cửa hàng có ban đầu trừ đi số búp bê đã bán.)
- Học sinh trình bày bài giải:
14
Bài giải:
? cm
A
A
?cm
5cm
BB
B
C
C
3cm
Nhìn vào hình vẽ học sinh có thể nêu được:
c
m
c
15
m
c
+ Độ dài của đoạn thẳng AC là:
c 5 + 3 = 8 (cm) hoặc 3 + 5= 8 (cm)
Giáo viên lưu ý HS: Đối với
chức trò chơi cho các em trong học tập là việc làm không thể thiếu. Nó giúp học
sinh:
- Thay đổi động hình hoạt động, chống mệt mỏi căng thẳng trong học tập,
tăng cường khả năng luyện tập thực hành và vận dụng nhanh các kiến thức đã
học.
- Ghi nhớ nội dung kiến thức một cách tự nhiên theo kiểu học mà chơi,
chơi mà học.
16
- Qua đó gây niềm tin cho học sinh, thích học môn toán, rèn luyện trí thông
minh, nhanh nhẹn, kích thích suy nghĩ sáng tạo, phát huy sáng kiến, bộc lộ tài
năng cá nhân, rèn luyện tính mạnh dạn tự tin trong cuộc sống.
- Tạo cho các em có lòng say mê tìm tòi, nghiên cứu trong học tập, thích
khám phá. Từ đó giúp cho học sinh nhớ lâu, hiểu kĩ và vận dụng linh hoạt trong
đời sống cũng như trong học tập. Vì thế trong khi dạy giải toán có lời văn tôi đã
tổ chức cho các em một số trò chơi sau:
+Trò chơi: Nhìn vật đặt đề toán
- Mục đích: Rèn luyện cho học sinh cách đặt một đề toán.
Tôi chia học sinh thành 2 đội, cử đại diện (mỗi đội khoảng 5 đến 6 em) và
mang một số đồ vật của nhóm mình lên. Ví dụ: 6 cái bút hay 9 que tính (từ 1 đến
10) (Đồ vật cùng loại).
- Cách chơi: Hai đội đứng quay mặt vào nhau: Một bạn của đội này cầm
đưa lên một số bút (ví dụ 4 cái), đội kia phải nói được: “Có 4 cái bút” (hoặc
“Bạn …có 4 cái bút). Bạn đó tiếp tục cho đội bạn hoặc đội mình một số cái (ví
dụ 3 cái), đội kia phải nói được: “Cho đi 3 cái”. Bạn đó đưa số bút còn lại lên.
Đội kia phải nói: “Còn lại mấy cái bút?”. Sau đó lại đổi bên.
Đội nào mà không đặt đề toán đúng đội đó sẽ thua. Nếu cả hai đội đặt
đúng, đặt hay tôi khen tất cả các em.
Nam: 5 viên bi
Vinh: 3 viên bi
Có tất cả:.. viên bi?
Bóng đỏ:.. quả?
mái:?
Cách chơi: Giáo viên hướng dẫn cho các emGà
chơi:
Các em lần lượt bước vào từng ô. Bướcconvào ô nào phải giải miệng đề toán
trong ô đó. Sau đó đọc to đáp số của bài toán. Chẳng hạn ở ô thứ nhất em đó
phải đọc : Có tất cả : 10 bông hoa.
Ô thứ hai em nào bước vào cũng giải miệng bài toán thứ hai và đọc to đáp
số của bài toán…
- GV và các bạn khác kiểm tra kết quả bằng cách lật ngược mặt sau của
tranh và nhận xét, giáo viên củng cố và khắc chốt luôn cách giải từng loại bài.
17
Qua cỏc trũ chi hc sinh ó nm c cỏch gii bi toỏn thụng qua trũ
chi hc tp tht vui nhn. Vỡ th hc sinh hiu k, khc sõu kin thc v gii
toỏn v vn dng linh hot trong i sng cng nh trong hc tp. Khi trin khai
ỏp dng vo tit hc, tụi thy khụng khớ lp hc sụi ng hn lờn, hc sinh ham
hc hn v c bit cỏc em t ra nhanh nhn, linh hot v t nhiờn khi giao tip.
Nh vy rốn k nng gii toỏn cú li vn cho hc sinh tt hn ngi
giỏo viờn phi nhit tỡnh tn ty vi hc sinh v phi khụng ngng hc tp trau
di kin thc cho bn thõn. Hiu c tõm lý hc sinh v to ra c phng
phỏp dy hc phự hp thu hỳt s chỳ ý v úc say mờ tũ mũ ca cỏc em gúp phn
ỳng ỏp
s
HS vit
ỳng c 3
bc trờn
u kỡ II
1A
32
10
43,7% 14 43,7% 10 31,3%
Gia kỡ II
1A
32
24
75%
26
81,3% 26 81,3% 24 75%
Đối với học sinh lớp Một, làm tốt việc dạy “Giải toán có lời văn cho học
sinh lớp 1” sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một
cách tổng hợp. Từ đó các em sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn học
khác và tiếp tục học lên các lớp trên.
Trên đây là một phương pháp mà tôi đã áp dụng vào thực tế dạy học ở lớp
1A và thu được kết quả khả quan. Theo kinh nghiệm bản thân tôi, muốn dạy học
sinh làm tốt các bài toán có lời văn cần làm tốt các yêu cầu sau:
1. Người giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung kiến thức yêu cầu của mỗi
bài dạy, từ đó lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh của lớp
mình. Phải có kiến thức chắc về kiến thức Toán học.
2. Tham khảo tài liệu có liên quan đến bài giảng. Luôn bám sát tài liệu
hướng dẫn sách giáo viên, luôn đổi mới, vận dụng linh hoạt phương pháp dạy
học. Năng dự giờ,học hỏi đồng nghiệp, tự trau dồi kiến thức kinh nghiệm cho
bản thân.
3. Biết vận dụng trò chơi học tập một cách hợp lí, tạo được hứng thú và
niềm say mê yêu thích môn học cho học sinh.
3.2. KIẾN NGHỊ
Đối với nhà trường: Tổ chức nhiều hơn các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội
thảo về dạy học toán có lời văn để giáo viên học hỏi kinh nghiệm của các đồng
nghiệp nhằm nâng cao chất lượng dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1.
Trên đây là các giải pháp khắc phục mà bản thân tôi đã áp dụng vào
hướng dẫn học sinh lớp 1 khi thực hiện giải toán có lời văn. Qua thử nghiệm dạy
học giải toán tôi nhận thấy HS đã nắm chắc, hiểu sâu các bài toán, các dạng
toán, hứng thú học toán hơn. Tôi thiết nghĩ mỗi ý tưởng đều có cách diễn đạt
khác nhau. Rất mong được sự trao đổi, những ý kiến đóng góp của các đồng
nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
Nga Sơn,ngày 15 tháng 4 năm 2017
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
1
2
3
Tên đề tài SKKN
Một số biện pháp
rèn kỹ năng đọc
diễn cảm cho học
sinh lớp 5.
Rèn kỹ năng đọc
cho học sinh lớp 1.
Kinh nghiệm nâng
cao chất lượng giải
toán có lời văn cho
học sinh lớp 1A
Trường Tiểu học
Thị Trấn Nga Sơn.
Cấp đánh giá
xếp loại
( phòng, sở,
tỉnh)
Sở giáo dục đào
tạo Thanh Hóa
Sở giáo dục đào
tạo Thanh Hóa