Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4

Người thực hiện: Trần Trịnh Vân Cơ
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Quảng Trường
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt


THANH HÓA, NĂM 2016

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Lý do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

3. KẾT LUẬN
3.1. Kết luận

17

3.2. Đề xuất, kiến nghị

17

Tài liệu tham khảo

19



1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
+ Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng
giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả giáo dục ở Tiểu học. Mục tiêu giáo dục là
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện về đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm
mỹ, nghề nghiệp và hình thành nhân cách, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần
vào sự hình thành, phát triển nhân cách con người lao động mới.
+ Phân môn Tập làm văn (TLV) rèn cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn
bản. Hoạt động lời nói gồm hai bình diện: sản sinh và tiếp nhận văn bản. Nó có vị trí
đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì: phân môn TLV sử dụng và hoàn
thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng
Việt khác đã hình thành; rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó tiếng
Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn và trở thành
một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Do vậy, phân môn TLV đã thực hiện mục tiêu cuối

đạt điều muốn tả. Đã không ít những trường hợp giáo viên cười “ra nước mắt” khi đọc
những câu văn miêu tả sự vật của học trò vì chuyện các em dùng từ sai, diễn đạt lộn
xộn, so sánh khập khiễng… Đối với giáo viên, đây cũng là loại bài khó dạy. Giáo
viên còn thiếu linh hoạt trong vận dụng phương pháp và chưa sáng tạo trong việc tổ
chức các hoạt động học tập của học sinh. Vì vậy, không phải giờ dạy văn miêu tả nào
cũng đạt hiệu quả mong muốn, và không phải người giáo viên nào cũng dạy tốt văn
miêu tả. Việc tìm tòi phương pháp để hướng dẫn học sinh quan sát, tìm ý, lập dàn ý,
tưởng tượng,…còn nhiều hạn chế.
+ Trong giai đoạn hiện tại, mục tiêu giáo dục xã hội đang đặt ra những yêu cầu
cấp thiết cần phải giải quyết. Mặc dù trong rất nhiều các tài liệu có đề cập hoặc
nghiên cứu vấn đề này, song trong thực tế dạy học, đây là một trong những vấn đề còn
tồn tại song chưa thực sự được nhiều giáo viên quan tâm, giải quyết, khắc phục. Vì
những lí do đó, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho
học sinh lớp 4” với hi vọng góp phần nâng cao năng lực của bản thân, nâng cao chất
lượng dạy- học văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài nhằm:
+ Tìm hiểu thực trạng dạy và học viết văn miêu tả lớp 4 ở trường tiểu học.
+ Nhìn nhận lại sâu sắc hơn việc dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4 để vận dụng
phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt.
+ Đề xuất một số biện pháp dạy học TLV nói chung và trong dạy học sinh viết văn
miêu tả nói riêng.
+ Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
+ Các dạng văn miêu tả ở lớp 4: Miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật.
+ Thực trạng dạy- học viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 trường tôi công tác.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
+ Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

LTxây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật
Tuần 19
- LT xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả đồ vật
LT xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả đồ vật
Tuần 20
- Miêu tả đồ vật( Kiểm tra viết)
Tuần 21
- Trả bài văn miêu tả đồ vật . Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối
Tuần 22
- Luyện tập qua sát cây cối . LT miêu tả các bộ phận của cây cối
Tuần 23
- LT miêu tả các bộ phận của cây cối
- Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối
Tuần 24
- LT xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối
Tuần 26
- LT xây dựng mở bài trong bài văn
Tuần 27
- Miêu tả cây cối (Kiểm tra viết)
- Trả bài văn miêu tả cây cối
Tuần 29
- Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật
Tuần 30
- Luyện tập quan sát con vật
Tuần 31
- LT miêu tả các bộ phận của con vật
- LT xây dựng đoạn văn miêu tả con vật
Tuần 32
- LT xây dựng đoạn văn miêu tả con vật


- HS làm bài văn mang tính đối phó, không chịu suy nghĩ, viết cho xong bài với nội
dung sơ sài.
- HS chưa phát huy tất cả các giác quan để quan sát; viết câu không dùng dấu câu, có
khi cả bài văn chỉ có vài dấu câu, câu không đủ các bộ phận.
- Đa số HS biết dùng hình ảnh so sánh, nhân hóa khi miêu tả nhưng chưa sát với đối
tượng ; ví dụ: Đôi mắt chú mèo tròn to như hai quả trứng gà.
- Một số ít HS chưa biết cách trình bày bài văn cho rõ bố cục 3 phần.
* Về phía giáo viên:
- Gv thực sự chậm đổi mới phương pháp dạy học phân môn này, ngại vận dụng các
PPDH tích cực thường xuyên.
- Gv chưa chú trọng khơi gợi sự thích thú, say mê khi học phân môn TLV.
- Tiết trả bài TLV, GV thường dành thời gian rất ít để sửa lỗi cho HS, hiệu quả tiết học
chưa cao.


- Nội dung văn miêu tả trong chương trình hiện tại sắp xếp không liền mạch. Khi học
văn miêu tả, HS chưa nắm chắc cách làm đã chuyển sang thể loại khác.
- Trong những đợt thao giảng GV giỏi cấp trường, nếu để tự Gv đăng kí, GV ít khi và
hầu như không chọn phân môn TLV để dạy.
Điều tra chất lượng viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 cuối HKI và nửa đầu HK
II năm học này có số liệu cụ thể như sau:
Lớp
4A (25em)
4B (23em)
4C (23em)
Cả khối (71)

Hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ

Cây bàng cao đến mái nhà. Thân nó to, xù xì. Cây bàng có nhiều cành, tán
rộng. Lá màu xanh. Quả ăn có vị chát.
Đoạn văn như vậy được coi là tạm được vì đúng ý. Câu văn rõ nghĩa. Nhưng
miêu tả như vậy chỉ cần vài câu là tả xong một đồ vật, một cây. Và nó cũng rất chung
chung, không làm nổi bật được nét riêng của đồ vật đó, cây đó.
- Đọc bài văn miêu tả của các em, ta còn thấy sự khô khan, nghèo cảm xúc, sự liệt kê
lan man, dài dòng, lủng củng, lộn xộn, không lột tả được đối tượng miêu tả, đôi khi
còn bịa đặt. Nhiều em muốn bắt chước cho bài văn hay hơn đã sử dụng biện pháp so
sánh, nhân hoá một cách tuỳ tiện.
Ví dụ: Quả bàng to như con lợn con.
- Hình thức câu lặp lại nhiều lần:
VD: Mắt của nó màu đen. Râu của nó dài. Lông thì đen…
- Chưa liên kết chặt chẽ giữa các câu trong đoạn, trong dài.
- Chưa biết sử dụng dấu câu nhằm nâng cao hiệu quả diễn đạt.
Ví dụ: Cún con mới dễ thương làm sao. (!)
* Bài văn miêu tả của học sinh lớp 4 hầu hết mắc những lỗi: Lỗi chính tả, lỗi dấu câu,
lỗi diễn đạt, lỗi chủ đề.


+ Lỗi chính tả: Học sinh chủ yếu vẫn thường sai phụ âm đầu l/n( chủ yếu), s/x, d/r/gi.
Ở đây, tôi sẽ không đề cập sâu vấn đề này.
+ Lỗi dấu câu: + Không dùng dấu câu: Xảy ra nhiều với học sinh chưa hoàn thành.
Các em không sử dụng hoặc ít sử dụng dấu chấm, dấu phẩy trong một câu hoặc trong
một bài văn.
+ Sử dụng dấu câu sai. VD: Cây bàng cao thân cây. Xù xì.
Lỗi diễn đạt: + Lỗi dùng từ không phù hợp. VD: Con mèo có bộ lông trắng tinh.
+ Câu không đủ thành phần. VD: Có nhiều cành, nhiều lá rậm rạp.
+ Câu thừa thành phần( lặp lại thành phần một cách không cần thiết).
VD: Em rất yêu quý con mèo nhà em.
+ Câu có nội dung trùng lặp với câu khác trong bài văn.


2.3. Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
Sau khi tìm hiểu, phân tích một số nguyên nhân và thực trạng học văn miêu tả của học
sinh, tôi đã tích cực vận dụng số biện pháp dạy học và tổng hợp một số kinh nghiệm,
biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4, cụ thể như sau:
2.3.1. Tạo động cơ học văn miêu tả ở học sinh:
Công việc đầu tiên của dạy học TLV- sản sinh lời nói- là tạo ra được động cơ,
nhu cầu nói năng, kích thích học sinh tham gia vào cuộc giao tiếp (nói, viết). Sản
phẩm của phân môn Tập làm văn là các bài văn nói hoặc viết theo các kiểu bài do
chương trình qui định. Để sản sinh các bài văn này, học sinh phải có thêm nhiều kỹ
năng khác ngoài các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, kỹ năng dùng từ đặt câu.
Đó là các kỹ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, kỹ năng lập dàn ý, viết đoạn và
liên kết đoạn. Nhiệm vụ của phân môn TLV bậc tiểu học là mở rộng vốn sống, rèn
luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học
sinh. Trong đó, học văn miêu tả góp phần phát triển tư duy hình tượng, khả năng ngôn
ngữ của trẻ được rèn luyện phát triển nhờ các biện pháp so sánh, nhân hoá,…khi miêu
tả. Nhưng làm thế nào để thực hiện được nhiệm vụ trên mà không biến các em thành
những “thợ” viết văn? Vậy ta cần kích thích các em yêu văn và có nhu cầu viết văn.
Mỗi GV phải làm sao cho HS không cảm thấy sợ học môn này mà ngược lại.
- Trước hết, hãy tạo tình huống khiến các em háo hức khám phá điều thú vị trong đối
tượng miêu tả.
Ví dụ : Giáo viên cho học sinh quan sát bức tranh cây hoa phượng đang ra hoa
đỏ rực và hỏi: Quan sát tranh, em thấy cây hoa có đặc điểm gì mà nhà văn Xuân Diệu
đã ví “như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau”? Học sinh sẽ phân tích tìm ra
đặc điểm tương đồng của bộ phận nào đó của cây hoa với muôn ngàn con bướm đậu
khít nhau. Qua đây cũng rèn cho các em óc quan sát tinh tế, sự liên tưởng và tư duy
phân tích, kích thích các em suy luận.
- Dạy học sinh viết văn miêu tả phải gắn liền với việc hình thành những kĩ năng sống
khác. Như dạy các em biết giữ gìn đồ vật, tổ chức cho học sinh trồng, chăm sóc và
bảo vệ cây…Học sinh được trau dồi vốn sống, biết suy nghĩ, có những cảm xúc, tình

cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật,
sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không những phải thể
hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng
tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả. Bởi vì trong
thực tế không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá,
những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình. Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu cầu
tả những đối tượng mà học sinh yêu mến, thích thú. Vì vậy, qua bài làm của mình, các
em phải gửi gắm tình yêu thương với những gì mình miêu tả. Đối tượng của văn miêu
tả trong chương trình lớp 4 gồm có miêu tả đồ vật, cây cối, con vật.
Tả đồ vật: Đối tượng của văn miêu tả đồ vật ở lớp 4 là những vật học sinh
thường thấy trong đời sống hàng ngày gần gũi với các em, vì vậy cũng dễ trở thành
gần gũi với các em. Đó có thể là cái trống, cái bút, quyển vở, cặp sách, cái đồng hồ
báo thức,…Chúng là những đồ vật vô tri, vô giác nhưng gần gũi và có ích đối với học
sinh. Mỗi đồ vật đều có một hình dáng, màu sắc, kích thước, chất liệu cụ thể. Học
sinh miêu tả những đặc điểm này trong bài văn của mình. Với những đồ vật có nhiều
bộ phận, các em cần tập trung tả những bộ phận quan trọng nhất. Đó chính là những
nét tiêu biểu để phân biệt đồ vật này với đồ vật khác. Đồ vật lại thường gắn liền với
cuộc sống con người nên khi miêu tả phải nói tới công dụng, lợi ích của đồ vật cũng
như tình cảm của con người đối với nó. Có như vậy, đồ vật mới hiện lên một cách
sinh động và có hồn.
Tả cây cối: Đối tượng của văn miêu tả cây cối là những cây trồng xung quanh
học sinh. Đó có thể là một cây hoa, cây ăn quả hay cây cho bóng mát, những cây có
ích và gần gũi với các em. Mỗi loại cây có một hình dáng, đặc điểm, lợi ích nhất định.
Vì vậy, khi miêu tả chúng, học sinh phải làm nổi bật những đặc điểm này. Tả cây ăn
quả cần tập trung miêu tả hình dáng của cây, mùi vị của qủa; tả cây lấy hoa cần tả
hương sắc của hoa; tả cây cho bóng mát phải làm rõ dáng cây, tán lá,… Cây cối luôn
sống trong thiên nhiên. Khi miêu tả, cần gắn chúng với miêu tả sơ lược khung cảnh


xung quanh như mặt trời, đám mây, chim chóc, ao hồ và cả con người. Ta cũng cần

tả mang tính chất thông báo thẩm mĩ. Dù miêu tả đối tượng nào, dù có bám sát thực tế
đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ sao chép, chụp ảnh máy móc những sự
vật hiện tượng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong
phú. Đó là sự miêu tả thể hiện được cái mới, cái riêng biệt của đối tượng thông qua
cảm nhận của mỗi người. Chẳng hạn, Trần Đăng Khoa nhìn trăng bằng con mắt tinh
tế, bằng tình yêu của tâm hồn trẻ thơ, hồn nhiên, trong sáng: Trăng hồng như quả
chín Lửng lơ lên trước nhà… Trăng tròn như mắt cá, Chẳng bao giờ chớp mi…
Trăng bay như quả bong, Bạn nào đá lên trời… Nhà văn Thép Mới lại lấy cảm hứng
của anh chiến sĩ đang mơ về tương lai của đất nước khi ngắm trăng trong đêm Trung
thu độc lập đầu tiên: Trăng sáng mùa thu vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc,
núi rừng,… Cùng là vầng trăng, hay một sự vật nhưng mỗi người cảm nhận theo cách


riêng của mình, mà những người khác không phát hiện được hoặc chưa phát hiện
được. Với mỗi học sinh, mỗi bài tập làm văn là một sản phẩm của từng cá nhân các
em trước một đề tài. Sản phẩm này ít nhiều in dấu ấn riêng của từng em trong cách
suy nghĩ, cách tả, cách diễn đạt,…Giáo viên cần có thái độ tôn trọng sự độc lập suy
nghĩ sáng tạo nếu nó không biểu lộ những lệch lạc. Văn miêu tả không hạn chế sự
tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo của người viết, nhưng không có nghĩa là
cho phép người viết “bịa” một cách tuỳ ý. Để tả hay, tả đúng thì phải tả chân thật.
Giáo viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái độ giả tạo, sáo rỗng.
2.3.3. Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu tả, cách lựa chọn
hình ảnh, nội dung miêu tả.
Quan sát đối tượng miêu tả cần chú ý:
- Quan sát tổng thể đối tượng; chú ý cả trạng thái động và tĩnh; quan sát bằng tất
cả các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác,…
- Lựa chọn điểm đặc trưng, đặc biệt, tiêu biểu của đối tượng để quan sát thật kĩ.
- Quan sát và so sánh điểm giống và khác nhau với các đối tượng khác có ở
xung quanh bằng sự liên tưởng hay quan sát trước đó.
- Quan sát hình ảnh, hoạt động và những tác động của đối tượng đến các sự vật

- Ghi chép khi được nhận các từ ngữ dùng để miêu tả theo các chủ đề, cụ thể như:
+ Các từ thường dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn; khẳng khiu;
xum xuê; rực rỡ; đo đỏ;…
+ Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe, nhỏ nhắn,…
+ Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: tinh nhanh, rón rén, oai vệ,…
- Các từ miêu tả đó thường là những từ láy, gợi lên hình ảnh, âm thanh,… để miêu tả
cho sinh động.
Giúp học sinh làm giàu thêm trí tưởng tượng:
Tưởng tượng trong miêu tả rất quan trọng. Có tưởng tượng mới có hình ảnh hoàn
chỉnh về đối tượng miêu tả. Tưởng tượng như một sự hình dung về đối tượng mà ta
nhắm mắt lại thì đối tượng sẽ hiện ra rõ nét hơn, cụ thể hơn, gần gũi hơn. Tưởng
tượng giúp ta thấy được nét đặc sắc của đối tượng, thấy được những điểm tương
đồng với đối tượng khác, thấy được mối quan hệ của đối tượng với sự vật hiện tượng
xung quanh, với những kỉ niệm hay kí ức mang dấu ấn sâu sắc trong lòng người viết.
Từ tưởng tượng, học sinh sẽ cảm nhận được đối tượng miêu tả bằng tình cảm, tình
yêu của chính mình, thấy được tầm quan trọng của đối tượng được tả đối với chính
mình và cả với những người xung quanh. Miêu tả gắn với tưởng tượng là một cách
bộc lộ cảm xúc, tình cảm và khả năng cảm thụ cái đẹp của người viết văn miêu tả.
Tưởng tượng làm cho đối tượng miêu tả hoàn thiện hơn, sống động và gần gũi hơn.
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tưởng tượng theo cách:
- Không trực tiếp quan sát, tập trung tất cả các giác quan vào đối tượng.
- Nhắm mắt, hình dung về đối tượng: hình ảnh, hoạt động của đối tượng, những
ảnh hưởng, tác động của đối tượng đến sự vật xung quanh.
- So sánh đối tượng được miêu tả với các đối tượng khác tương đồng.
- Phân tích, đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng.
- Nhân hoá hay tự nhiên hoá một vài hình ảnh đặc sắc ở đối tượng.
- Dự đoán trước khả năng và những điều tốt đẹp mà đối tượng có thể vươn tới.
- Liên tưởng với những điều mình đã biết; đã nghe, đọc, cảm nhận được về đối
tượng từ trước tới nay.
- Ghi chép lại những gì mình đã tưởng tượng để lựa chọn, chắt lọc đưa vào bài

bài gián tiếp. Giáo viên nên để học sinh lựa chọn cách mở bài mà mình cho là hợp lí
nhất và phù hợp với khả năng của từng em. Mở bài gián tiếp có thể xuất phát từ một
vấn đề khác rồi mới dẫn vào vấn đề mình cần nói tới, có thể bắt đầu bằng một sự kiện,
hoàn cảnh xuất hiện vật định miêu tả; hoặc bắt đầu bằng những câu thơ, ca dao…có
liên quan đến yêu cầu của đề bài.
- Thân bài: Có thể gồm một số đoạn văn, là toàn bộ nội dung miêu tả được viết
theo từng phần, từng ý đã được sắp xếp khi quan sát, chuẩn bị viết bài. Trong đó, thể
hiện được hình ảnh về đối tượng miêu tả với ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật mà
người viết vận dụng để miêu tả.
- Đoạn văn kết bài: Kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong một bài văn nhưng lại
rất quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của người viết với
đối
tượng miêu tả. Thực tế cho thấy học sinh thường hay liệt kê cảm xúc của mình làm
phần kết bài khô cứng, gò bó, thiếu chân thực. Các em thường làm kết bài không mở
rộng, điều đó khiến bài văn chưa có sự hấp dẫn. Do đó, giáo viên cần hướng dẫn, gợi
ý để học sinh biết cách và viết được phần kết bài mở rộng bằng cảm xúc của mình
một cách tự nhiên. Giáo viên có thể dùng câu hỏi gợi mở để khêu gợi cảm xúc của
học sinh trong quá khứ, hiện tại, tương lai; hoặc trong hoàn cảnh nào đó đối với đối
tượng được tả. VD: Tả cái trống trường: Ngày mới vào lớp 1, khi nghe tiếng trống
trường, em có cảm giác gì? Bây giờ học lớp 4 rồi, ngày nào cũng nghe tiếng trống, em
càng thấy như thế nào?...
+ Bài tập viết bài văn: thường được thực hiện trong cả một tiết học. Chúng luyện cho
học sinh triển khai nhiệm vụ giao tiếp thành một bài. Bài văn phải có bố cục chặt chẽ,


có lời văn phù hợp với yêu cầu nội dung và thể loại, các đoạn văn trong bài phải liên
kết với nhau thành một bài văn hoàn chỉnh, được bố cục chặt chẽ theo ba phần: Mở
bài: Giới thiệu đối tượng miêu tả, thể hiện tình cảm, quan hệ của người miêu tả với
đối tượng miêu tả. Thân bài: Dùng lời văn để tả, tái hiện, sao chụp chân dung của đối
tượng miêu tả ở những góc nhìn nhất định. Có thể sử dụng các biện pháp nghệ thuật

sinh nào cũng biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả và cũng không phải
tự các em có sẵn tâm hồn văn chương như vậy. Học sinh có thể phát hiện tốt chi tiết
có sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nhưng khi viết văn lại khó vận dụng được. Tôi đã
giúp các em bằng cách như sau:
VD: Cho đoạn văn: Mỗi hoa chỉ là một phần tử của cả xã hội thắm tươi; người ta
quên đoá hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, đến những tán lớn xoè ra như muôn ngàn
con bướm thắm đậu khít nhau. (Xuân Diệu)


- Cho học sinh phát hiện biện pháp nghệ thuật trong câu trên.
- Nêu tác dụng của việc so sánh như vậy.
- Giải thích vì sao có thể so sánh hoa phượng với muôn ngàn con bướm thắm( mà
không phải một con).
- Tập vận dụng so sánh tương tự: so sánh hoa phượng với hình ảnh khác theo cảm
nhận của các em, hoặc so sánh loài hoa hay cây khác với hình ảnh nào đó,giúp học
sinh nhận ra những cách so sánh thú vị, giàu sức gợi tả
- Yêu cầu các em ghi chép vào sổ tay những câu văn, thơ có sử dụng hiệu quả biện
pháp nghệ thuật đó.
2.3.7. Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài tập làm văn:
Kĩ năng TLV trước hết được chia thành kĩ năng nói, kĩ năng viết. Ở lớp đầu cấp,
khẩu ngữ của các em phát triển hơn còn kĩ năng viết mới được hình thành nên bị ảnh
hưởng của khẩu ngữ, các em nói thế nào, viết thế ấy, mắc các lỗi được tính vào lỗi vi
phạm phong cách. Về sau, kĩ năng viết sẽ phát triển và sẽ ảnh hưởng tích cực trở lại
với khẩu ngữ. Lên lớp 4,5 kĩ năng viết ngày càng phát triển. TLV có vai trò hàng đầu
trong việc phát triển kĩ năng này. Đặc biệt, khi học viết văn miêu tả, học sinh lớp 4
bước đầu được học diễn đạt lưu loát, giàu hình ảnh. Mặt khác, sự liên kết nội dung là
liên kết bên trong khó nhận thấy, nhiều người thường chú ý đến hình thức ngôn từ mà
không coi trọng đến lôgic của các ý trong bài. Trong khi chữa văn cho học sinh, nhiều
giáo viên thường chú ý chữa lỗi chính tả, chữa lời mà không chữa ý. Người giáo viên
cần hiểu rõ mục tiêu của tiết trả bài để thực hiện một cách nghiêm túc, kĩ lưỡng, tránh

đặt câu trong tiết LTVC, kích thích nhu cầu miêu tả một đồ vật nào đó trong khi tiếp
xúc trò chuyện, hay các giờ ngoại khoá. Trong một lần hướng dẫn các em xếp hàng
vào lớp, bất chợt tôi nhìn thấy cây bằng lăng giữa sân trường nở bông hoa đầu tiên.
Tôi hỏi các em: Sân trường hôm nay có điều gì vừa mới, vừa lạ và rất đẹp? Các em
quan sát nhanh và đều nhận thấy điều tôi muốn hỏi Bông hoa ấy đẹp như thế nào và
cho em cảm xúc gì? Các em rất hào hứng nói lên suy nghĩ của mình. Tôi giáo dục ý
thức bảo vệ cây xanh bằng cách hỏi các em như sau: Bông hoa đẹp thế kia, em có
nên ngắt để tặng một người em yêu quý không? Vì sao? Như vậy, trong một thời điểm
ngắn, tôi đã đạt được nhiều mục đích: Các em xếp hàng nhanh mà không căng thẳng;
Kích thích các em phát triển khả năng quan sát, nhận xét tinh tế, khả năng dùng ngôn
ngữ để diễn đạt…Trong khoảng thời gian sau đó, tôi tin rằng nhiều em còn suy nghĩ
và vận dụng vốn từ của mình để tả về bông hoa đó theo cảm nhận riêng. Bên cạnh đó,
dạy học tích hợp với các môn học khác làm giàu vốn sống, vốn hiểu biết của các em.
VD: Thông qua học về chủ đề “ Thực vật và động vật” của môn Khoa học, học
sinh có thêm hiểu biết về đặc điểm một số loài thực vật, động vật, hiểu được cách
chăm sóc và ích lợi của chúng. Vì vậy, khi làm bài văn miêu tả( cây cối, con vật), các
em sẽ tả cặn kẽ, sinh động và thể hiện tình cảm của mình một cách chân thật hơn.
2.3.9. Khen ngợi, động viên kịp thời
Để kích thích học sinh học tập nói chung, học văn miêu tả nói riêng, Giáo viên
nên dành cho các em những lời khen thích đáng. Các em sẽ phấn khởi, tự tin hơn và
phát huy được khả năng tiềm tàng của bản thân, từ đó loại bỏ được những lo âu, tự ti
cố hữu.
2.3.10. GV mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học, tích cực đăng kí dạy
thao giảng phân môn Tập làm văn.
Trong quá trình giảng dạy, Gv cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình, mạnh
dạn vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, không sợ kết quả đánh giá giờ dạy
mà chú trọng hơn đến chất lượng học sinh. Tích cực dạy thao giảng cho đồng nghiệp
dự giờ, góp ý sẽ rút được nhiều kinh nghiệm tốt cho việc dạy phân môn này.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng tương đối thành công khi dạy
văn miêu tả cho học sinh lớp 4 do tôi chủ nhiệm trong năm học vừa qua.

22
95,7%
23
100 %
70
98,6%

Chưa hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ
0
0%
1
4,3%
0
0%
1
1,4%

* Nhận xét: Qua một quá trình nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo và thực hiện các biện
pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh một cách bài bản, có kế hoạch, tôi
nhận được một số kết quả như sau:
Mặt mạnh: Tôi nhận thấy ngoài nhiệm vụ chính là biết làm một bài văn, học sinh
được chủ động, tự do thể hiện cái “tôi” của mình một cách rõ ràng bộc bạch cái riêng
của mình một cách trọn vẹn. Dạy Tập làm văn là dạy các em tập suy nghĩ riêng, tập
sáng tạo, tập thể hiện trung thực con người mình qua từng bài học cụ thể. Qua đánh
giá tôi thấy đa số các em làm bài đạt yêu cầu, một em do sai một số lỗi chính tả và
trình bày chưa đúng yêu cầu nên nhận mức chưa hoàn thành.
Mặt hạn chế: Thời gian làm bài không dài( khoảng 20- 25 phút), nên các em khi
viết bài luôn mang tâm trạng vội vàng, sợ hết giờ. Vì vậy, các em chưa có sự chọn

trước hết giáo viên phải là người thầy tâm huyết, yêu thương học sinh và phải thường
xuyên tích luỹ kinh nghiệp dạy học và sáng tạo trong việc lựa chọn hình thức và
phương pháp dạy học.
- Giáo viên cần tham gia đầy đủ và nghiêm túc các lớp học chuyên đề, tự
nghiên cứu, đầu tư thời gian chuẩn bị cho công tác dạy học; căn cứ vào trình độ học
sinh trường, lớp mình để lên kế hoạch cho các hoạt động dạy học phù hợp.
- Một điều theo tôi rất quan trọng đó là chữ “tâm” trong mỗi người thầy. Cho
dù người thầy có kiến thức và phương pháp tối ưu nhưng không có sự nhiệt tình, yêu
thương học sinh như con mình, trăn trở với những bài học và việc nắm bát và vận
dụng kiến thức của học sinh thì kết quả học tập của học sinh cũng sẽ không được như
mong muốn. Vì vậy tôi mong mỗi giáo viên phải đề cao hơn nữa trách nhiệm vinh
quang trồng người của mình.
* Đối với nhà trường:
- Cần đưa nội dung bồi dưỡng dạy học văn miêu tả vào chương trình bồi dưỡng
thường xuyên cho giáo viên.
- Đánh giá giờ dạy và thi đua phải trên cơ sở thực tế hiệu quả giảng dạy có tác dụng
động viên khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên. Khuyến khích giáo viên dạy thao
giảng phân môn Tập làm văn.
- Ban giám hiệu nhà trường cần động viên, khuyến khích tinh thần tự giác và khơi dậy
được tình yêu và trách nhiệm nghề nghiệp trong mỗi giáo viên, để mỗi giáo viên thực
sự là nhân tố cho sự thành công của sự nghiệp đổi mới.


Với thời gian ngắn, năng lực của bản thân còn hạn chế nên đề tài đưa ra không
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự góp ý bổ sung của các thầy, cô giáo,
bạn đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tôi xin cam đoan đề tài này là do bản thân đã đăng
kí từ đầu năm học và trong năm đã tự nghiên cứu
và viết, không sao chép của ai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status