Một số kinh nghiệm trong việc giúp học sinh lớp 5 sửa lỗi câu sai - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC GIÚP HỌC SINH
LỚP 5 SỬA LỖI CÂU SAI”

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thạch Quảng
Thạch Thành – Thanh Hóa
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2016


MỤC LỤC
STT

NỘI DUNG

TRANG

1

I. Mở đầu.

2

2


1. Cơ sở lí luận.

4

8

2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

7

9

3. Các giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện.

9

10

4. Kết quả đạt được.

17

11

III. Kết luận, kiến nghị

18

2


cách khác chính là giúp các em biết cách sắp xếp các từ ngữ thành câu văn hoàn
chỉnh bởi vì câu chính là thành phần đầu tiên giúp các em đạt hiệu quả cao trong
quá trình tư duy và giao tiếp.
Đối với bản thân tôi, năm học 2015 – 2016 được BGH nhà trường giao nhiệm
vụ chủ nhiệm lớp 5. Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy học sinh trường Tiểu học Thạch
Quảng còn nhiều hạn chế trong việc dùng câu đúng, đủ vào giao tiếp và tư duy
hoặc câu đúng về cấu trúc nhưng chưa hay ở nội dung. Tôi mong muốn làm sao
có thể giúp học sinh lớp 5 nâng cao khả năng dùng từ đặt câu, khả năng làm văn
thông qua việc giúp các em tự biết sửa các câu sai của mình cho đúng ngữ pháp
rồi đến viết được các câu văn hay, giàu hình ảnh, biết vận dụng vào trong giao
tiếp và tư duy đạt kết quả cao. Năm học này, tôi đã mạnh dạn thực hiện một số
biện pháp nhằm thay đổi và góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt lớp 5
ở trường tôi và thực tế đã mang lại hiệu quả. Do đó, tôi mạnh dạn chia sẻ cho

3


đồng nghiệp qua sáng kiến “ Một số kinh nghiệm trong việc giúp học sinh lớp
5 sửa lỗi câu sai” được thực hiện đối với học sinh lớp 5 trường Tiểu học Thạch
Quảng.
2.Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của tôi khi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài này là:
+ Nhằm giúp học sinh lớp 5 trường Tiểu học Thạch Quảng thấy được nguyên
nhân dẫn đến việc nói và viết câu sai. Từ đó giúp các em tự biết nhận ra câu sai
và tự sửa được câu sai của mình cho đúng ngữ pháp. Từ việc biết nói và viết câu
đúng ngữ pháp, dần dần các em sẽ viết được những câu văn hay hơn, giàu hình
ảnh hơn, biết vận dụng vào trong giao tiếp và tư duy đạt kết quả cao.
+ Học sinh biết nói và viết câu đúng sẽ biết truyền tải hoặc diễn đạt ý trọn vẹn,
mạch lạc, rõ ràng. Khi đó người đọc, người nghe sẽ hiểu đúng nội dung ý nghĩa
của vấn đề.

4


II. Nội dung.
1. Cơ sở lí luận.
Đất nước Việt Nam của chúng ta có truyền thống văn hóa lâu đời, trong đó
ngôn ngữ chiếm một vị trí rất quan trọng. Ông cha ta có câu: “Học ăn, học nói,
học gói học mở”, câu “Ăn cho nên đọi, nói cho nên lời”. Những câu nói ấy đã
trở nên rất quen thuộc đối với mỗi con người Việt Nam. Nhưng trên thực tế hiện
nay, xã hội càng phát triển thì những vấn đề phi văn hóa cũng tìm cách len lỏi
ngày càng nhiều vào trong đời sống của chúng ta. Vì vậy giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là bổn phận và trách nhiệm của
mỗi người dân Việt Nam.
Chính từ tầm quan trọng của môn Tiếng Việt như vậy nên việc dạy tiếng Việt
cho học sinh càng được chú trọng và yêu cầu cao. Dạy tiếng Việt chính là dạy
giao tiếp. Quá trình tư duy và giao tiếp của con người chỉ đầy đủ, trọn vẹn và đạt
hiệu quả cao khi được cung cấp đầy đủ ngữ pháp về câu.
Cơ sở để dạy học tốt môn Tiếng Việt cần thiết phải nắm được căn cứ và
nguyên tắc xây dựng chương tình môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Đó chính là cái
gốc của mọi vấn đề trong dạy học Tiếng Việt. Trong quá trình dạy học nói
chung, dạy học Tiếng Việt nói riêng, muốn có hiệu quả cao luôn đảm bảo sự phù
hợp với đặc điểm tâm lý và nhận thức của lứa tuổi.
* Các căn cứ xây dựng chương trình.
Để dạy học tốt môn Tiếng Việt thì ngay khi xây dựng chương trình môn học,
các nhà Giáo dục đã nghiên cứu dựa trên các căn cứ:
1.1.Căn cứ yêu cầu về kinh tế xã hội và giáo dục của giai đoạn mới.
Đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây là thời kì
rất khó khăn và cần nhiều thời gian. Gần đây trên thế giới cũng như ở nước ta
bắt đầu đặt ra những vấn đề như nền kinh tế tri thức, nền kinh tế của công nghệ
thông tin, xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hóa trong kinh tế, vấn đề hội nhập, giữ

pháp dạy học.
Trước những thành tựu của các ngành khoa học : Ngôn ngữ học, Việt ngữ
học, Tâm lý học, Giáo dục học và phương pháp dạy tiếng đã có những bước phát
triển vượt bậc, tạo điều kiện cho việc xây dựng một chương trình Tiếng Việt tiểu
học mới. Sự phát triển của ngành khoa học này là động lực thúc đẩy sự phát
triển của ngành khoa học kia. Nghiên cứu ngôn ngữ và Tiếng Việt trong giao
tiếp đã được chú ý, dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ của ngữ dụng học bên cạnh xu
hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong hệ thống, theo cấu trúc. Các thành tựu nghiên
cứu về lý thuyết hội thoại, về giao tiếp ngôn ngữ… đã mang lại những cơ sở
vững chắc cho sự phát triển phương pháp dạy học tiếng trong giao tiếp và bằng
giao tiếp.
Về mặt tâm lý học, chuyển từ cách học thụ động nặng về ghi nhớ sang cách
học chủ động kết hợp ghi nhớ với hoạt động chiếm lĩnh kiến thức.
2.4. Sự kế thừa các thành tựu dạy Tiếng Việt trong những năm qua và tiếp thu
kinh nghiệm dạy tiếng mẹ đẻ của các nước trên thế giới.
Trong nhà trường, mỗi chương trình dạy Tiếng Việt hướng tới một loại đối
tượng (chương trình Tiếng Việt cho học sinh người Việt, chương trình Tiếng Việt
cho học sinh các dân tộc vùng khó khăn, chương trình Tiếng Việt thực nghiệm
của Công nghệ giáo dục, chương trình Tiếng Việt Tiểu học – 2000,...).
2.5 Căn cứ điều kiện dạy học ở Tiểu học hiện nay trên phạm vi cả nước
Những điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học … ở các vùng khác nhau
rất không đồng đều, có nhiều nơi trường lớp chưa đủ, các thiết bị dạy học Tiếng
Việt còn thiếu, giáo viên trình độ thấp…. Những điều này cần được tính toán
đầy đủ khi xây dựng chương trình.
Với tôi, là một giáo viên Tiểu học, để góp phần thực hiện nhiệm vụ dạy học
của mình, thông qua dạy học để giáo dục học sinh, giáo dục cho các em biết yêu
quê hương đất nước trong đó bao gồm yêu tiếng mẹ đẻ, biết nói và viết đúng
ngữ pháp Tiếng Việt, cần thiết phải nắm được chương trình cũng như các căn cứ
xây dựng chương trình.
* Những nguyên tắc xây dựng chương trình Tiếng Việt

Tích hợp là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết hay một bài tập
nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả
giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học.
Dựa vào mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học, sách giáo khoa đã tích hợp
kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người
và xã hội thông qua các chủ điểm học tập theo nguyên tắc đồng quy. Bằng việc
tổ chức hệ thống bài đọc, bài học theo chủ điểm, sách giáo khoa dắt dẫn học sinh
đi dần vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng cường vốn từ, vốn diễn đạt
của các em về nhà trường, gia đình và xã hội, đồng thời mở rộng cánh cửa cho
các em bước vào thế giới xung quanh và soi vào thế giới tâm hồn của chính
mình.
Tính tích hợp của bộ sách còn thể hiện ở sự gắn bó giữa các bài học trong
phân môn học, sự gắn bó các phân môn trong môn học.
4.1.Nguyên tắc tích cực hoá hoạt động của học sinh
Theo nguyên tắc tích hoá hoạt động của HS, SGK không trình bày kiến thức
như một kết quả có sẵn mà xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn HS
học sinh thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển các kĩ
năng sử dụng Tiếng Việt; còn SGV có nhiệm vụ hướng dẫn thầy cô giáo cách
thức cụ thể để tổ chức hoạt động học cho HS.

7


2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.1. Thuận lợi.
Xã Thạch Quảng mặc dù là một xã miền núi, địa phương còn gặp nhiều khó
khăn về kinh tế nhưng công tác giáo dục cũng như việc dạy và học của các nhà
trường luôn được quan tâm và chú trọng. Trường Tiểu học Thạch Quảng đã có
nhiều thay đổi về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học đầy
đủ hơn.

gồm 2 thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ. Lên lớp 4 các em được bổ sung
thêm những kiến thức về một số thành phần phụ như trạng ngữ…. Đây là những
kiến thức mang tính trừu tượng hơn, học sinh bắt đầu gặp khó khăn trong việc
đặt câu. Đến lớp 5, ngoài việc ôn lại các kiến thức cũ ở lớp dưới các em tiếp tục
được học thêm các nội dung mới như: từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa,
quan hệ từ….rất nhiều em đã lúng túng trong việc dùng từ đặt câu, viết văn.

8


Đối với trường Tiểu học Thạch Quảng, chất lượng môn Tiếng Việt trong
những năm gần đây mặc dù đã được nâng cao hơn nhưng nhìn chung vẫn còn
thấp so với khu vực cũng như trong toàn huyện. Dưới đây là bảng tổng hợp kết
quả môn Tiếng Việt lớp 5 trường Tiểu học Thạch Quảng trong 2 năm gần đây
(kết quả thi cuối năm học).
Năm Số
học

HS

ĐỌC

VIẾT

TBC

(Số điểm/em)

(Số điểm/em)


15

0

3

17

45

7

8

25

39

0

20142015

78

20

38

20


26

9

5

VIẾT
(Số điểm/em)

TBC
(Số điểm/em)

5, 6


Biểu hiện lỗi

Tên học sinh

9


Lỗi dùng từ

Minh, Quách Dương, Ngần, Chiến, Kim
Anh, Thuỳ Linh, Duy Dương, Nghĩa,
Như Trang, Thiện, Thuỳ, Đức, Dũng,

Lỗi về logic

Tuấn Anh, Thảo Uyên.
Minh, Ngần, Kim Anh, Quách Dương,

Lỗi về phong cách
Câu thiếu CN

Thuỳ Linh, Mai Linh.
Minh, Như Trang,
Quách Dương, Duy Dương, Bảo Ngọc,

Đức.
Câu thiếu VN
Quách Dương, Bảo Ngọc, Đức, Ngần,
Câu thiếu cả CN và VN
Thu Chang

10


để lập kế hoạch dạy học phù hợp. Trong quá trình dạy học, tôi luôn quan sát để
phát hiện những điểm sai hoặc thiếu sót của các em để điều chỉnh. Nhờ theo dõi,
tôi phát hiện các em có những điểm sai giống nhau. Biết được nguyên nhân thì
việc điều chỉnh và sửa cho các em sẽ dễ dàng hơn.
3.2. Giáo viên tăng cường tự học, tự bồi dưỡng để nắm vững kiến thức môn
Tiếng Việt nói chung, kiến thức về câu nói riêng.
Trình độ và năng lực của giáo viên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dạy
học, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình dạy học cũng như nhận thức
của học sinh. Thực tế cho thấy, bên cạnh những giáo viên luôn nỗ lực giúp và
rèn cho học sinh nói và viết đúng câu thì vẫn có một số giáo viên chưa coi trọng
việc này hoặc do năng lực hạn chế nên chưa nhận ra lỗi câu của học sinh hay sửa
lỗi câu cho học sinh chưa chính xác. Trong quá trình dạy học, lỗi câu của học
sinh có nhiều biểu hiện phức tạp. Vì vậy việc giáo viên nắm vững kiến thức về
câu Tiếng Việt là vô cùng cần thiết.
1.1. Về kiến thức: Để có thể cung cấp cho học sinh kiến thức về câu Tiếng Việt,
người giáo viên cần nắm vững các nội dung kiến thức về câu.
Câu không phải đơn vị có sẵn như từ mà là một đơn vị do người nói dùng từ
cấu tạo nên trong quá trình suy nghĩ thông báo.
Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với ngữ cảnh
nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá. Câu có cấu
tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc.
Câu có hai thành phần chính làm nòng cốt đó là chủ ngữ và vị ngữ.
VD: Tất cả những chú cún xinh đẹp ấy //đều đã biến mất.
Câu còn có các thành phần phụ khác như: trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ,…
1.1.1. Đặc điểm của câu:
* Câu có chức năng thông báo: Khác với từ, câu được thành lập khi con người
vận dụng ngôn ngữ để tư duy nhằm mục đích giao tiếp hay bày tỏ thái độ. Vì

ngữ thường do danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ,…đảm nhận.
VD: Lá rơi nhiếu quá.
DT
Ăn no quay tròn là cối xay lúa.
ĐT
Năm với năm là mười.
Số từ
Đối với vị ngữ, về từ loại thường do động từ, tính từ đảm nhận.
VD: Cánh hoa hồng rất mềm mại.
TT
Bạn Mai đang học bài.
ĐT
Ngoài ra, vị ngữ cũng có thể do danh từ, số từ, đại từ đảm nhận.
Bên cạnh hai thành phần chính, câu còn có các thành phần phụ như:
+ Trạng ngữ (thường đứng ở đầu câu): VD: Trên cành cây, chim hót líu lo.
TN
+ Đề ngữ (thường đứng trước nòng cốt câu chính).
VD: Tớ thì tớ không chịu.
Bạn Mai, tớ quen từ trước.
+ Tình thái ngữ (nêu lên thái độ, tình cảm của người nói)
VD: Chao ôi! Vườn hoa đẹp quá!
+ Giải thích ngữ (làm rõ hơn về nghĩa cho câu).
VD: Cô bạn nhà bên (thật không ngờ) đã chuyển trường.
+ Liên ngữ (liên kết các câu).
VD: Tiếng ve kêu râm ran. Thế là mùa hè đã đến.
1.2. Về kĩ năng:
Giáo viên cần có kĩ năng nhận biết và kĩ năng sửa sai. Nhận ra những lỗi sai
của học sinh xem đó là dạng lỗi nào. Từ đó đưa ra cách sửa sai phù hợp và dễ
hiểu cho học sinh.
3.3. Phân loại các nhóm lỗi học sinh thường mắc.

Ví dụ:
- Gia đình tôi thỉnh thoảng về thăm bà luôn.
Câu trên không hợp lí về quan hệ logic, từ “thỉnh thoảng” và từ “luôn” không
thể cùng có mặt trong câu, cần lược bỏ một trong hai từ trên.
3.3.3. Lỗi về phong cách.
Loại lỗi này là do các em diễn đạt hoặc viết câu không phù hợp với văn bản
cần thiết phải làm. Câu trong phong cách hành chính khác với câu viết theo
phong cách nghệ thuật, chính luận. Ở văn bản hành chính, công cụ thường sử
dụng những câu có cấu trúc chặt chẽ. Quan hệ giữa các thành phần, các vế câu
được xác định rõ ràng, rành mạch, bố cục hợp lý, chặt chẽ không dài dòng
Ví dụ:
GIẤY MỜI
………………..
……………….
Em vô cùng thiết tha mong đợi cô đến tham dự buổi Đại hội chi đội chúng
em. (Lỗi do dùng từ quá rườm rà, không phù hợp với văn bản hành chính)
Trong văn bản nghị luận thường sử dụng từ ngữ toàn dân, những từ ngữ
chính trị - xã hội, sử dụng biến hoá các loại câu trong lập luận, chứng minh giải
thích, bình luận để thấu lý, đạt tình...Đối với văn bản thuyết minh, có thể sử
dụng rộng rãi các kiểu câu đơn câu phức theo một hệ thống cú pháp chuẩn. Văn
bản nghệ thuật sử dụng câu hết sức đa dạng, có đủ các loại câu theo mục đích

13


phát ngôn, có đủ các kiểu câu chia theo cấu trúc nhằm đảm bảo tính thẩm mỹ,
tính hình tượng và tính riêng về phong cách cá nhân. Do đó, khi đặt câu phải
chú ý xem câu phù hợp với phong cách ngôn ngữ nào để viết câu cho đúng, phù
hợp với đặc điểm phong cách ngôn ngữ đó.
3.3.4. Lỗi về câu.

ta cũng có thể hướng dẫn học sinh sửa sai bằng cách thêm bớt từ ngữ hoặc thêm
vị ngữ từ ngoài vào.
Ví dụ 1: Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.
Bộ phận giải thích
Cách sửa:
+ Thêm vị ngữ từ ngoài vào.VD: Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt
Nam // đã ra đi mãi mãi.

14


+ Biến bộ phận giải thích thành vị ngữ bằng cách bỏ dấu phẩy, thêm từ là.
VD:Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.
Ví dụ 2: Mỗi con đường, góc phố, hàng cây yêu dấu.
Chưa thành câu vì mới có chủ ngữ, thiếu vị ngữ. Hướng dẫn học sinh thêm vị
ngữ từ ngoài vào: Mỗi con đường, góc phố, hàng cây yêu dấu đều in đậm
những kỉ niệm tuổi thơ.
* Câu thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ.
Loại này chỉ có trạng ngữ và thành phần giải thích cho trạng ngữ. Học sinh
thường nhầm trạng ngữ là chủ ngữ, thành phần giải thích là vị ngữ nên có cảm
giác là câu đã hết.
Ví dụ :
- Những ngày hè, ngày của những sắc hoa phượng đỏ rực. ( Chỉ có trạng ngữ)
- Trên khuôn mặt tròn bầu bĩnh, sáng sủa.( Chỉ có trạng ngữ)
Cách sửa:
+ Thêm CN, VN từ ngoài vào:
- Những ngày hè, ngày của những sắc hoa phượng đỏ rực, các bạn nhỏ
//được thoải mái vui chơi cùng gia đình.
- Trên khuôn mặt tròn bầu bĩnh, sáng sủa ấy là cái miệng nhỏ // luôn nở nụ
cười rạng rỡ.

chia sẻ và giúp đỡ bạn.
3.4. Phương pháp và nguyên tắc sửa câu sai.
Giáo viên muốn giúp học sinh phát hiện và sửa lỗi câu sai thì khi tiến hành
cần chú ý thực hiện theo 3 bước sau:
3.4.1. Phát hiện.
Dựa vào sự nhạy cảm của giáo viên, dựa vào những kiến thức đã được trang
bị về câu đúng, giáo viên phát hiện được câu của học sinh sai hay đúng, sai chỗ
nào, thuộc kiểu lỗi nào…Từ đó mới định hướng cách sửa sai phù hợp cho học
sinh. Tuy nhiên trên thực tế các biểu hiện lỗi câu của học sinh khá phong phú và
phức tạp. Bản thân giáo viên phải rất thận trọng khi đánh giá câu đó đúng hay
sai, nếu sai thì sửa thế nào,.. Do đó bước phát hiện là bước khá quan trọng và
không hề dễ dàng chút nào.
3.4.2. Phân tích câu:
Sau khi đã xác định được các câu sai, bước tiếp theo giáo viên cần phân tích
câu sai để xác định chỗ sai. Câu đó sai do thiếu CN hay VN hay cả CN, VN, hay
sai do dùng quan hệ từ, dùng từ thừa… Bước này nhằm giúp giáo viên đưa ra
cách sửa sai cho học sinh một cách chính xác nhất.
3.4.3. Gạt bỏ hoặc bổ sung.
Gạt bỏ chỗ thừa, bổ sung chỗ thiếu bằng cách đưa một số thành phần từ ngoài
vào hoặc thay đổi những yếu tố có sẵn thành yếu tố cần thiết.
Ví dụ: Khi những hạt mưa xuân nhè nhẹ rơi trên lá non.
Câu trên sai do mới chỉ có thành phần trạng ngữ. Có thể sửa lại như sau:
- Bỏ từ Khi: Những hạt mưa xuân nhè nhẹ rơi trên lá non.
- Thêm CN,VN từ ngoài vào: Khi những hạt mưa xuân nhè nhẹ rơi trên lá
non, cây cối như hớn hở đón chào.
Khi sửa câu sai cần tuân theo nguyên tắc cơ bản là: Dựa vào ý định của học
sinh, dựa vào ngữ cảnh mà câu văn xuất hiện, tính liên kết với câu đi trước để
đảm bảo tính đúng đắn và phù hợp cho câu sửa sai.
Tuy nhiên chúng ta cũng cần biết rằng các biểu hiện về câu sai của học sinh là
rất phong phú, đa dạng. Nhiều khi rất khó phát hiện ra câu sai đó thuộc loại lỗi

lượng: Các hoạt động GDNGLL giúp các em thể hiện bản thân, mạnh dạn tự tin
trước đông người, nâng cao khả năng giao tiếp.
+ Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà
trường.
Ngoài những biện pháp nêu trên, để sửa lỗi câu cho học sinh lớp 5, trong
quá trình dạy học, giáo viên còn cần giúp học sinh nắm vững kiến thức về câu
và các thành phần cấu tạo câu, chỉ khi thực sự nắm chắc về kiến thức học sinh
mới có thể viết được những câu đúng, chính xác, giúp học sinh tìm ra những
nguyên nhân dẫn đến lỗi viết câu sai của mình. Ngoài những lỗi câu chung, giáo
viên từng bước giúp học sinh sửa những lỗi câu sai mà cá nhân học sinh mắc.
Giáo viên giúp từng học sinh sửa lỗi câu trên cơ sở chữa những lỗi câu chung.
Để các em nhận ra những lỗi sai của mình, giúp các em phân tích xem câu
của mình sai ở đâu, thiếu thành phần gì và phải sửa lại như thế nào. Đối với câu
có thành phần phụ đã đúng và hợp lí chưa, hướng giải quyết ra sao. Đặc biệt cần
xem xét việc sắp xếp các ý của các em đã hợp lí, logic chưa, tìm ra nguyên nhân
vì sao chưa hợp lí và biện pháp sửa chữa như thế nào. Từ đó giáo viên từng
bước giúp các em rèn luyện tư duy để viêt đúng tiếng Việt.
4. Kết quả đạt được.
Sau một thời gian rèn luyện với sự kết hợp khéo léo các biện pháp nêu trên,
tôi thấy việc sửa lỗi câu cho học sinh lớp 5 trường TH Thạch Quảng mà tôi phụ
trách đã có những tiến bộ. Đối với từng nhóm lỗi, số học sinh mắc lỗi đã giảm.
Cụ thể như sau:

17


Biểu hiện lỗi
Lỗi dùng từ

Tên học sinh

9,10

7,8 5,6

TBC
(Số điểm/em)


15

0

7

11

8

0

năm

Như vậy, các số liệu cho thấy trong học kì I năm học 2015 - 2016, số học sinh
đạt điểm 9,10 của môn Tiếng Việt đã được tăng lên. Đến cuối năm học, kết quả
đó được nâng lên rõ rệt. Mặc dù kết quả chưa cao nhưng đây cũng là thành công
bước đầu mà tôi đã đạt được. Chất lượng giữa phần đọc và phần viết đã có sự
cân bằng hơn, đồng đều hơn. Do đó đã nâng chất lượng chung của môn Tiếng
Việt. Cho dù đây không phải là kết quả cao đối với một số trường khác trên địa
bàn huyện Thạch Thành nhưng đối với trường thuộc địa bàn xã miền núi, đời
sống nhân dân còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn
chế như trường tôi thì đây là một kết quả khả quan và đáng mừng.
III. Kết luận, kiến nghị
1. Kết luận.
Câu là yếu tố quan trọng để tạo nên một văn bản hoàn chỉnh. Học sinh nắm
vững kiến thức về câu, có được kĩ năng viết câu văn đúng, câu văn hay sẽ biết
trình bày một văn bản hay. Đó cũng là điều mà bản thân tôi mong muốn.


biện pháp hỗ trợ kịp thời.
- Thường xuyên quan tâm, nhắc nhở, kiểm tra việc học tập của con em mình.
- Đáp ứng các yêu cầu chính đáng của con em phục vụ cho việc học tập.
- Chăm lo sức khoẻ, động viên tinh thần giúp các em có điều kiện học tập tốt
nhất.
2. Kiến nghị.
Qua thời gian nghiên cứu và thực nghiệm đề tài này, tôi nhận thấy kinh
nghiệm của tôi đưa ra ít nhiều đã mang lại hiệu quả đối với học sinh lớp 5
trường TH Thạch Quảng, cụ thể là học sinh lớp 5B do tôi phụ trách. Vì vậy, tôi
rất mong sáng kiến nhỏ của tôi sẽ sớm được nhân rộng trong nhà trường cũng
như các đơn vị khác.Từ đó, từ sáng kiến nhỏ sẽ trở thành đề tài ngày càng hoàn
thiện hơn, có phạm vi ứng dụng rộng hơn, góp phần giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình hướng dẫn
giúp học sinh lớp 5 trường Tiểu học Thạch Quảng sửa lỗi câu sai. Là một giáo
viên say mê với sự nghiệp "trồng người" khi nhìn thấy các em học sinh nói và

19


viết ngày càng rõ ràng, trình bày một vấn đề nào đó mạch lạc hơn, tôi thấy thật
hạnh phúc. Do đó, tôi mạnh dạn viết ra những kinh nghiệm nhỏ này để đồng
nghiệp tham khảo. Tôi mong mình sẽ được tiếp cận nhiều hơn với những kinh
nghiệm của đồng nghiệp để việc rèn và sửa lỗi câu sai cho HS Tiểu học ngày
càng hiệu quả hơn.

XÁC NHẬN CỦA BAN GIÁM HIỆU

Thạch Quảng, ngày 2 tháng 6 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status