PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường nói chung và của
bậc Tiểu học nói riêng, hiện nay vấn đề cải cách giảng dạy không phải là mối
quan tâm của một cá nhân nào, mà đó là nhiệm vụ chung của toàn xã hội.
Chính sự đổi mới phương pháp giáo dục bậc tiểu học sẽ góp phần tạo con
người mới một cách có hệ thống và vững chắc.
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng chung của sự đổi mới phương pháp
dạy học ở bậc tiểu học là làm sao để giáo viên không chỉ là truyền thụ kiến thức
mà còn là người tổ chức, định hướng cho học sinh hoạt động, để học sinh huy
động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân vào việc chiếm lĩnh tri thức
mới.
Như chúng ta đã biết Tiếng Việt vừa là môn học chính, vừa là môn công
cụ giúp học sinh tiếp thu các môn học khác được tốt hơn .Rèn luyện các kỹ năng
nói (nghe, đọc) và sản sinh lời nói (nói, viết) giúp học sinh có năng lực dùng
tiếng Việt để học tập, giao tiếp ở môi trường hoạt động của lứa tuổi. Để thực
hiện tốt mục tiêu này, mỗi phân môn Tiếng Việt đều có thể và có nhiệm vụ hình
thành, phát triển cho học sinh kỹ năng sử dụng tiếng Việt trên bình diện lời
nói.Tuy nhiên nhiệm vụ này được thực hiện tập trung hơn cả ở phân môn Tập
làm văn.
Chương trình Tập làm văn hiện nay rất có ưu thế để thực hiện nhiệm vụ
phát triển lời nói cho học sinh đặc biệt là ở dạng văn nói: về thời lượng, về cấu
trúc chương trình đến đề tài nội dung. Qua mỗi tiết Tập làm văn,học sinh có điều
kiện để nói từ nói đúng nói đủ đến nói hay, độc lập và sáng tạo… Tuy nhiên
năng lực lời nói của học sinh có phát triển được hay không điều đó cũng phụ
thuộc vào cách tổ chức điều khi hướng dẫn hoạt động giao tiếp của giáo viên,
phụ thuộc vào việc vận dụng linh hoạt lý thuyết hoạt động lời nói vào trong dạy
học và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học khi lên lớp.
Nội dung Tập làm văn lớp hai cung cấp cho học sinh (HS) các kĩ năng
nói, viết, nghe, phục vụ cho học tập và giao tiếp. Ngoài các dạng bài dạy về các
nghi thức lời nói tối thiểu, về một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng
văn của học sinh lớp 2.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Nhằm phân loại đối tượng học sinh
từ đầu năm để có biện pháp thích hợp.
- Phương pháp thực nghiệm : Dùng để kiểm nghiệm vai trò của Các biện
pháp nâng cao chất lượng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 2.
- Phương pháp thống kê toán học.
2
PHẦN II: NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN :
Chúng ta đều biết rằng đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới , có
nhiều đổi mới : đổi mới về kinh tế, xã hội, giáo dục …Sự phát triển giáo dục của
nước ta giúp cho những chủ nhân tương lai của đất nước luôn được phát triển
toàn diện, đầy đủ về năng lực, trí tuệ, tính cách. Qua việc nắm bắt các kiến thức,
tri thức khoa học ban đầu để từ đó hình thành nên những kĩ năng cần thiết của
cuộc sống, hành động đúng cho bản thân .
Tiếng Việt là môn học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh
Tiểu học, bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết
trong giao tiếp hằng ngày. Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình thành ở các
em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình
thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới. Dạy học Tiếng
Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ, giúp các em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói,
đọc, viết. Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt hội tụ đủ 4 kỹ năng
trên.Nó rèn cho các em diễn đạt trôi chảy, kĩ năng gắn kết các câu nói với nhau.
Đối với HS lớp 2 thì đây là một phân môn khó. Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn
kiến thức và hiểu biết cũng hạn hẹp. Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách
quan như điều kiện hoàn cảnh sống của một bộ phận HS ở địa bàn dân cư lao
động nghèo, gia đình không có điều kiện để quan tâm đến các em,việc diễn đạt
còn nghèo, cơ hội để các em rèn luyện cũng ít. Hầu hết HS chỉ nói được những
câu ngắn,trả lời chưa đủ ý, diễn đạt cũng rời rạc. Do đó, nhiệm vụ của giáo viên
cần rèn kĩ năng diễn đạt cho các em.Thế nhưng hiện nay,đa số các em học sinh
lớp 2 đều rất sợ học phân môn Tập làm văn vì không biết nói gì ? viết gì? Trong
quá trình làm bài, tôi thấy các em còn lúng túng, nhiều HS làm bài chưa đạt yêu
cầu.Các em thường lặp lại câu đó,dùng từ,chấm câu cũng sai.Nhiều em viết
không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng
viết không đủ ý. Ngoài ra các em cũng rất hạn chế về cách dùng từ để diễn đạt ý
cần viết…Cụ thể chất lượng khảo sát học sinh lớp tôi đối với phân môn Tập làm
văn giai đoạn đầu năm như sau:
Lớp
2A4(42 em )
Mức độ 1
Trước khi thực 12 em
hiện đề tài
(28,5%)
Mức độ 2
Mức độ 3
Mức độ 4
17 em
13 em
0
ngoài việc rốn luyện kĩ năng về nghi thức lời nói (tự giới thiệu) cũng có tác dụng
hỗ trợ cho việc rèn luyện kĩ năng nói, kể. Chẳng hạn bài tập 2: Nghe các bạn
trong lớp trả lời các câu hỏi ở bài tập 1, nói lại những điều em biết về một bạn.
Hay bài tập 3: Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1, 2 câu để tạo thành
một câu chuyện. Để tiện việc nghiên cứu,soạn bài và chuẩn bị tốt cho các tiết
dạy dạng bài kể ngắn và tả ngắn, tôi lập nội dung chương trình như sau
Tuần
1
3
5
7
8
10
13
15
16
Nội dung bài dạy
Lưu ý
Tự giới thiệu – câu và bài
Bài tập 3 có tác dụng rèn kĩ năng kể
Sắp xếp câu trong bài–lập danhBài tập 1 có tác dụng rèn kĩ năng kể
sách HS
Luyện tập về mục lục sỏch
Bài tập 1 có tác dụng rèn kĩ năng kể
Kể ngắn theo tranh – luyện tập vềBài tập 1: kể ngắn
thời khóa biểu
Mời nhờ, yêu cầu, đề nghị – kểBài tập 2: kể ngắn
học sinh học chưa tốt không lập được mạnh từ chốt, tôi cho các em nhìn vào
mạng từ chốt của giáo viên để kể. Để đánh giá hiệu quả của biện pháp này, tôi
thực hiện 2 tiết giảng ở 2 lớp 2A4 và 2A3. Bài dạy: Kể về người thân. Kết quả
HS lớp 2A3 còn lúng túng trong việc diễn đạt ý cần nói và viết câu văn cũng
lủng củng, nhiều em dùng từ viết câu chưa chính xác.Qua tiết dạy, tôi nhận thấy
biện pháp đó đạt hiệu quả tốt và vận dụng vào thực tế dạy học.
Biện pháp 3: Dạy học tốt các bài “Trả lời câu hỏi”, “Tập nói”, … để làm nền
cho HS kể ngắn tốt.
Kiến thức – kĩ năng Tập làm văn lớp Hai được sắp xếp từ dễ đến khó một cách
hợp lý. Đầu lớp Hai, các em được thực hiện các bài tập “Trả lời câu hỏi” (Tuần
1, tuần 5, tuần 8, tuần 14), bài tập “Nói lại – nhắc lại” (Tuần 1, tuần 2), sau đó
nâng lên một bước HS được làm các bài tập “Sắp xếp lại thứ tự các tranh và
dựa theo nội dung các tranh để kể lại câu chuyện”, “Sắp xếp lại các câu cho
đúng thứ tự của truyện …”. Do đó để giúp HS kể tốt, tôi tổ chức các biện pháp
để giúp các em thực hiện tốt các bài tập trên. Ngoài việc yêu cầu HS trả lời đúng
nội dung, tôi yêu cầu các em phải trả lời đủ câu.Ví dụ: Bài Tập làm văn tuần
5. Câu hỏi:
- Bạn trai đang vẽ ở đâu? Trả lời: Đang vẽ ở trên tường(câu cụt)Trả lời đầy
đủ: Bạn trai đang vẽ ở trên tường. Tôi yêu cầu các em phải trả lời lại cho đủ
thành phần của câu. Thực hiện nhiều lần như thế, kết quả các em có thói quen
trả lời đủ câu. Đây cũng là cơ sở để các em kể chuyện tốt.
Đối với dạng bài tập“Kể lại theo tranh”,“Sắp xếp lại thứ tự các tranh, ,sau
đó dựa theo nội dung các tranh ấy, kể lại câu chuyện”,“Dựa vào tranh, trả lời
câu hỏi”, “Dựa vào tranh vẽ, kể chuyện…”, tôi gợi ý cho HS thêm thắt các từ
ngữ để kết nối ý giữa các tranh cho câu chuyện thêm sinh động. Đầu tiên tôi gợi
ý để các em học tốt thực hiện trước, sau đó nhân ra cho cả lớp
Ví dụ: Tuần 1, HS làm bài tập “Kể lại nội dung dưới đây bằng 1, 2 câu để
tạo thành một câu chuyện.” Theo yêu cầu của đề bài HS có thể kể: “Huệ cùng
các bạn vào vườn hoa (tranh 1). Huệ thấy một khóm hồng đang nở rất
6
như thế nào?” (… làm việc gì cũng mau chán). Hỏi tiếp: “Khi học bài cậu học
như thế nào?” (…chỉ đọc vài dũng đó ngáp ngắn ngáp dài rồi bỏ dở). Hỏi
tiếp:“Lúc tập viết cậu thế nào?” (… chỉ nắn nót được mấy chữ đầu, rồi lại viết
nguệch ngoạc). Sau mỗi câu trả lời, tôi khen ngợi để khích lệ, động viên. Sau khi
các em trả lời xong, tôi chuyển qua cho các em chưa mạnh dạn kể, một lát sau,
tôi quay lại cho em HS lúc đầu kể lại đoạn 1.Trong một tiết, chỉ cần giúp đỡ cho
một đến hai em yếu, rụt rè. Tôi kiên trì, bằng mọi cách làm cho các em luyện nói
cho được.Ví dụ: cho em đó nhắc lại câu trả lời của bạn. Qua mỗi tiết học, phải
rèn cho học sinh được nói ít nhất là một đến hai câu, nhất là những câu chuyện
liên quan đến tập làm văn.
7
Biện pháp 5: Thực hiện tốt quan điểm tích hợp để nâng cao chất lượng phân
môn Tập làm văn .
Quan điểm biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt 2 thể hiện rừ 3 quan điểm;
Quan điểm dạy học giao tiếp, quan điểm tích hợp, quan điểm tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn( Tập đọc,Kể
chuyện, chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó Với nhau,
nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm; các nhiệm vụ cung cấp kiến
thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước.Thực hiện tốt
quan điểm tích hợp góp phần khắc phục tỡnh trạng “nghốo ý tưởng và vốn từ
cho học sinh, giúp học sinh diễn đạt tốt.
- Khi dạy phân môn Chính tả, trong khâu củng cố tôi khắc sâu một số kiến
thức nhằm chuẩn bị cho HS học phân môn Tập làm văn.
Ví dụ: Khi dạy bài chính tả” Cô giáo lớp em”, trong khâu củng cố, tôi cho
nhiều HS, nhất là các em còn yếu nhắc lại hình ảnh cô giáo (Cụ đến lớp sớm, cô
rất chịu khó, thương yêu HS, luôn tươi cười với HS), tình cảm của HS đối với cô
giáo (yêu quý cô giáo, ngắm mói những điểm mười cô cho) để phục vụ cho bài
Kể một việc làm tốt
Một con vật
Một loài chim
Tả ngắn về biển
Tả ngắn về một loài cây
Một loài hoa
Viết về Bác Hồ
Để tránh tình trạng học sinh lớp 2 không làm được bài hoặc viết lan man quá
nhiều câu dẫn đến lạc đề, giáo viên giúp học sinh cần biết làm như thế nào để
viết được một đoạn văn và cần phải viết những gì trong đoạn văn ấy. Do vậy tôi
xin đề ra những biện pháp sau nhằm giúp HS lớp 2 viết đoạn văn ngắn tốt hơn.
Biện pháp1: Giúp HS có một hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng:
Trong chương trình, hầu hết các bài văn đều có câu hỏi gợi ý rõ, đầy đủ. GV
có thể tranh thủ thời gian cuối tiết học hướng dẫn HS chuẩn bị, đọc câu hỏi
gợi ý, suy nghĩ bài viết cho tiết sau.Hoặc chuẩn bị phần tự học khi ở nhà, trước
khi lên lớp. Đối với những bài không có câu hỏi gợi ý, GV có thể soạn,cung
cấp những câu hỏi cho các em.
Ví dụ:
Bài viết về cô giáo :
- Cô giáo dạy em tên là gì ?
- Tình cảm của cô đối với HS như thế nào?
- Em nhớ nhất điều gì ở cô?
- Em sẽ làm gì để đền đáp lại sự quan tâm của cô dành cho em?
Bài viết kể về một việc làm tốt mà em hoặc bạn em đó làm :
- Em (Bạn em) đã làm việc tốt khi nào? Ở đâu? Đó là việc gì?
- Em (Bạn ấy) đã làm như thế nào?
- Em suy nghĩ gì khi làm ( thấy bạn làm ) việc tốt đó?...
Biện pháp 2:
Giúp học sinh nắm được trình tự các bước khi viết một đoạn văn:
* Viết câu mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết.(Có thể diễn đạt bằng một
chim này
có ích cho con người.
Giỏo viên cần giúp cho học sinh hiểu có nhiều cách diễn đạt để bài làm
các em được phong phú, tránh tình trạng dạy học sinh làm văn mẫu. Cần chủ
động hình thành kỹ năng từng bước ở từng thời điểm thích hợp.Không nên áp
đặt và đòi hỏi các em phải thể hiện được ngay những kỹ năng mới được hình
thành. Trong quá trình giảng dạy, GV phải kiên nhẫn luôn tái hiện và lặp lại
kiến thức cho HS trong suốt năm học, giúp HS có được nền móng tốt cho việc
học tập môn Tập làm văn ở các lớp trên.
Biện pháp 3. Tăng cường ôn tập củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh:
- Giáo viên phải nắm các dạng đề Tập làm văn ở lớp 2 để tổ chức ôn tập cho
HS.
Khi học sinh được ôn tập tốt, kiến thức được hệ thống hóa một cách chắc
chắn, phân biết rõ đặc điểm của các đối tượng sẽ giúp các em tránh được những
nhầm lẫn đáng tiếc, ảnh hưởng đến chất lượng bài viết của các em.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần liên hệ những nội dung kiến thức
có liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn Tập đọc, Luyện từ và
câu với phân môn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ ngữ về
sự vật, hiện tượng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến thức, không bỡ
ngỡ khi gặp những đề bài mới chưa được luyện tập trên lớp. Giúp học sinh có
hiểu biết về đề tài, vận dụng kỹ năng thực hành để bài viết đạt kết quả.
Ví dụ:
Khi học về chủ đề “ Ông bà“ “Cha mẹ”, “Anh em” ( từ tuần 10 đến tuần 16),
với rất nhiều những bài đọc thắm đượm tình cảm thương yêu trong gia đình,
10
cùng với những tiết học phân môn Luyện từ và câu cung cấp, mở rộng vốn từ
ngữ cho HS, ngoài việc giúp HS hiểu từ và nắm chắc người thân của minh là
những ai, ngoài việc khai thác và giáo dục tình cảm cho HS thông qua các nhân
- Lỗi về kết hợp từ .
- Lỗi dùng thừa từ , lặp từ.
- Lỗi dùng từ không đúng phong cách.
- Lỗi dùng từ thiếu hình ảnh , cảm xúc…
Trong quá trình chấm bài, GV phát hiện, giúp HS khắc phục, biết lựa
chọn, thay thế các từ ngữ cho phù hợp. Đối với những bài làm có ý hay, GV giúp
học sinh gọt giũa, trau chuốt thêm cho bài văn được hay hơn.
11
Khi sửa bài, GV nên tuân theo các bước chủ yếu sau:
Phát hiện lỗi.
Phỏng đoán nguyên nhân mắc lỗi.
Căn cứ vào nguyên nhân để xác định cách chữa.
GV giới thiệu những bài làm hay ở năm học trước,hoặc những bài hay của học
sinh trong lớp cho các em tham khảo, từ đó nhận thấy sự khác nhau về cách diễn
đạt trong cùng một đề tài để các em hiểu rằng những bài làm thể hiện suy nghĩ
độc lập của cá nhân luôn được khích lệ và tôn trọng.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Sau một thời gian học tập và rèn luyện, sau khi sử dụng các giải pháp trên, chất
lượng học tập của HS lớp tôi dạy đã được nâng cao rõ rệt. Kết quả học tập phân
môn Tập làm văn giai đoạn hiện nay của lớp tôi như sau:
Lớp 2A4(42 em )
Trước khi
hiện đề tài
Mức độ 1
thực 12 em
(28,5%)
(62,3%)
So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài ta thấy có sự thay đổi rất rõ
rêt. Hiện nay học sinh lớp tôi khi học giờ tập làm văn rất hăng hái tham gia xây
dựng bài , giờ học sôi nổi, học sinh biết viết đoạn văn tốt hơn đầu năm rất nhiều.
Qua chấm bài tôi thấy các em đã có kỹ năng viết đoạn văn ngắn. Các em đó
biết cách chọn và dùng từ để nói , viết câu văn có hình ảnh và đúng với mục
đích ,yêu cầu của đề bài .Việc đổi mới phương pháp dạy học đó tạo điều kiện
cho học sinh học tập tích cực hơn, tìm tòi được kiến thức và nắm được kiến thức
sâu hơn.
12
PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
* KẾT LUẬN :
Đứng trước vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc dạy Tập làm văn cho HS
Tiểu học nói chung và đối với HS lớp hai nói riêng,tôi thấy việc hướng dẫn cho
các em được phương pháp học phân môn Tập làm văn là hết sức cần thiết.
Dạy Tập làm văn mà chỉ thiên về cung cấp những kiến thức thì phân môn
Tập làm văn sẽ trở nên nghèo nàn và buồn tẻ biết bao nhiêu. Mỗi bài “Tập làm
văn” là một dịp cho các em có thêm kiến thức và kĩ năng chủ động tham dự vào
cuộc sống văn hoá thường ngày.Vì vậy, GV cần hết sức linh hoạt để làm cho tiết
“Tập làm văn ”trở thành một tiết học hứng thú và bổ ích. Điều quan trọng là cần
căn cứ vào nội dung, tính chất của từng bài, căn cứ vào trình độ HS và năng
lực,sở trường của GV; căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng trường,
từng lớp mà lựa chọn,sử dụng kết hợp các phương pháp và hình thức dạy học
một cách hợp lý, đúng mức. Tôi tự nhận thấy mình đã tìm được hướng đi đúng,
cách làm phù hợp cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tập làm văn.Tôi
thấy mỗi giờ dạy bản thân mình cũng tạo được sự say mê, hứng thú trong việc
Thanh Hóa ngày 20 tháng 3năm
2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Ký tên
Phan Thị Yến
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT
1
Tên tác giả
Tên tài liệu tham khảo
Nhà xuất bản
Nguyễn
Hữu Phương pháp dạy học các Nhà xuất bản giáo
Châu
môn học ở Tiểu học.
dục
Nguyễn Minh Sách giáo khoa, sách giáo Nhà xuất bản giáo
2
Thuyết
3 Đối tượng nghiên cứu
2
4 Phương pháp nghiên cứu
2
Phần II: Nội dung
1. Cơ sở lý luận
3
2. Cơ sở thực tế
4
3 Cỏc biện pháp nõng cao chất lượng học phân môn Tập làm văn 4-12
lớp 2
4. Kết quả nghiờn cứu:
12
Phần III :Kết luận và kiến nghị
Kết luận
13
Kiến nghị
13
Tài liệu tham khảo
15
16
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HOÁ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC