Một số biện pháp rèn kỹ năng nghe nói cho học sinh lớp 2 qua môn tiếng việt - Pdf 44

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc “ nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của mỗi bậc học. Ở mọi lúc, mọi nơi giáo dục được đặt ở vị trí hàng
đầu. Hơn thế nữa nghị quyết số 29 – NQ/TƯ Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản toàn, toàn diện giáo dục
và đào tạo nhằm hướng tới những mục tiêu cụ thể cần đạt. Chính vì vậy, để
phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ thì phải rèn kĩ năng nghe – nói ngay từ
đầu cấp Tiểu học. Bởi đây là những hoạt động diễn ra thường xuyên trong
cuộc sống của chúng ta.
- Nghe – nói là cặp hoạt động ngôn ngữ nói dạng giao tiếp bằng âm
thanh, trong các hoạt động ngôn ngữ, hoạt động nghe – nói là phương
tiện đắc lực song hành cùng con người, giúp con người nhận thức và
tìm hiểu về thế giới xung quanh một cách có hiệu quả. Nó diễn ra ở
mọi lúc, mọi nơi.
-

Mỗi chúng ta khi giao tiếp không chỉ biết nói mà không biết nghe.
Muốn sử dụng kĩ năng nghe – nói có hiệu quả thì cần luyện tập thường
xuyên, liên tục và có kế hoạch.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những nội dung cũng như các

biện pháp rèn kĩ năng nghe – nói cho HS Tiểu học nói chung. Nhất là HS
đầu cấp Tiểu học như lớp 2 nói riêng, một cách có hiệu quả là hết sức cần
thiết.
Vì vậy, tôi đã nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp:
“ Rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 2”
2. Mục đích nghiên cứu:
- Khảo sát, thống kê phân loại biện pháp rèn kĩ năng nghe – nói cho HS lớp
2 qua môn Tiếng Việt.

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Kĩ năng nghe - nói là một hoạt động không thể thiếu của con người ở mọi
lứa tuổi, đặc biệt là lứa tuổi Tiểu học. Bởi lẽ, rèn kĩ năng nghe – nói cho HS
lớp 2 là rất quan trọng, là nền tảng để phát triển toàn diện nhân cách cho HS
và được đánh giá cao trong giảng dạy.
Kĩ năng nghe – nói là hoạt đọng hết sức quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng học tập của HS Tiểu học nói chung và của HS lớp 2 nói riêng.
Nghe – nói tốt giúp các em giao tiếp có hiệu quả và là cơ sở tạo ra sự thành
công trong học tập. Nó là phương tiện để HS tư duy và nhận thức về thế giới
xung quanh một cách tích cực. Chính khả năng nghe – nói của các em đã ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả giao tiếp của các em.
Kĩ năng nghe – nói tốt là cơ sở giúp trẻ phát triển năng lực học tập, năng
lực tư duy, năng lực hợp tác. Đồng thời giúp trẻ tự mình tìm hiểu và khám phá
thế giới xung quanh một cách dễ dàng. Vì vậy chúng ta cần rèn kĩ năng nghe
– nói cho HS ngay từ lớp 2 sẽ:
* Giúp các em biết tiếp nhận lời người khác một cách đầy đủ, chính xác,
biết chia sẻ kiến, biết cách giao tiếp với người khác.
* Giúp các em biết tạo lập lời nói của mình một cách có văn hóa, lễ phép,
phù hợp với những nhân tố khác nhau trong giao tiếp.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1. Thực trạng của học sinh:
- Các em mới bước đầu bước ra thế giới thu nhỏ của gia đình nên việc
phát triển hoạt động nghe – nói, giao tiếp với bạn bè còn hạn chế.
- Khi GV đưa ra một câu hỏi, các em trả lời không rõ ràng, mạch lạc,
không có đủ thành phần câu hoặc chưa biết cách diễn đạt.
- Các em chưa hiểu được việc nghe – nói là cần thiết và giúp ích cho bản
thân trong quá trình học tập.

3



Điểm 7 - 8
SL
16

%
40,0

Điểm 5 - 6
SL
8

%
20,0

Điểm dưới 5
SL
5

%
12,5

Qua bảng khảo sát trên, cho thấy chất lượng rèn kĩ năng nghe – nói chưa
có gì khả quan, số HS có điểm 5 – 6 và điểm dưới 5 vẫn còn cao. Vậy cần
làm gì? để rèn kĩ năng nghe – nói cho HS lớp 2 nhằm nâng cao chất lượng
học tập thì tôi đã nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp sau:
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ CÁCH TỔ CHỨC THỰC HIÊN:
1. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

4


5


của các em mà phải khơi dậy những y tưởng hồn nhiên, trong sáng của các
em.
- Nội dung thứ hai là rèn kĩ năng nghe – nói thông qua việc kể chuyện. Đây
là hình thức luyện tập yêu cầu ở mức độ cao hơn, cụ thể là: HS phải nói được
nhiều câu, biết liên kết các câu thành đoạn, liên kết các đoạn thành bài. Câu
chuyện kể phải thể hiện được nội dung tư tưởng và y nghĩa rõ ràng, câu
chuyện phải có nhân vật, hành động, sự kiện… để tạo nên cốt chuyện một
cách chặt chẽ, logic.
* Quy trình vận dụng: Để sử dụng kênh hình kết hợp với đàm thoại trong
quá trình rèn kĩ năng nghe – nói cho HS đạt hiệu quả có thể thực hiện theo
quy trình sau:
Bước 1: HS quan sát tranh
Ví dụ: Bức tranh quét nhà ( Quét nhà là một đề tài phù hợp với HS. Vì
hoạt động này là hoạt động các em trực tiếp quan sát bố mẹ, anh chị hoặc em
đã làm.)
Bước 2: Tổ chức HS đàm thoại
GV có thể đàm thoại với HS xung quanh bức tranh này với các câu hỏi như
sau:
- Trong tranh các em thấy bạn đang làm gì?
- Bạn dùng gì để quét nhà?
- Em thử đoán xem, bạn đó quét nhà vào khi nào?
- Theo em bạn quét nhà như thế nào thì nhà mới sạch?
- Bạn quét xong, ông bà, bố mẹ, anh chị của bạn có vui không?
Bước 3: HS nói thành câu, thành bài
Sau khi đàm thoại, GV có thể dựa vào kết quả ấy để giúp HS nói thành
chuỗi câu hoặc bài nói hoàn chỉnh. Trong khi HS nói GV chú sửa lỗi cho các

tính tư tưởng , tính thẫm mĩ, tính hình thức và tính mục đích. Sau khi lựa chọn
được ngữ liệu. Tôi đã giới thiệu ngữ liệu đó để HS tiếp cận. Trong việc rèn kĩ
năng nghe – nói , ngữ liệu mẫu tồn tại dưới dạng âm thanh của ngôn ngữ.
Bước 2: Phân tích ngữ liệu.

7


Bằng thao tác phân tích. Tôi đã giúp HS nhận xét, tìm hiểu để rút ra đặc
điểm chung của ngữ liệu. Những đặc điểm này chính là nội dung chốt, HS cần
ghi nhớ. Mỗi mẫu có thể chứa một hay nhiều nội dung cần ghi nhớ. Vì vậy,
tôi đã lựa chọn để nêu những đặc điểm của mẫu sao cho phù hợp với nội dung
bài giảng.
Bước 3: Vận dụng
HS dựa vào đặc điểm cấu tạo của mẫu mà mình đã tiếp nhận để tạo lập một
đơn vị lời nói theo mẫu. Sản phẩm các em tạo ra sẽ mang đầy đủ đặc điểm
của mẫu.
Bước 4: Nhận xét, đánh giá.
Dựa trên những sản phẩm tạo theo mẫu của HS, GV cần nhận xét, đánh giá
chất lượng của sản phẩm. Nếu như sản phẩm này chưa đáp ứng được yêu cầu
thì tôi lại giúp HS tự chỉnh sửa sản phẩm mang đặc điểm của mẫu.
Như vậy, biện pháp làm mẫu luôn thể hiện ở 2 khía cạnh: Nhận diện mẫu
và tổ chức tạo mẫu. Khía cạnh thứ nhất nghiêng về quá trình tiếp nhận các
mẫu ngôn ngữ của HS, còn khía cạnh thứ 2, nghiêng về quá trình tổ chức tạo
mẫu.
2.3. Biện pháp ghép nhóm và tổ chức hoạt động nhóm:
Việc ghép nhóm và tổ chức hoạt động theo nhóm có tầm quan trọng trong
quá trình dạy học các môn học nói chung và đặc biệt có tác động rất lớn trong
việc dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 , cụ thể là: giúp HS tích cực và tham gia
nhiều hơn các kĩ năng giao tiếp về thế giới xung quanh và một số kĩ năng

công việc của
nhóm

Người trình bày
Trình bày công
việc và kết quả
của nhóm

Các thành viên
trong nhóm
- Trao đổi, góp
y kiến về nhiệm
vụ được giao

Người quản lý
- Thu thập quản
ly các học sinh
- Tính thời gian

* Quy trình vận dụng:
Bước 1: GV nêu yêu cầu, nhiệm vụ HS phải làm.
Bước 2: GV hướng dẫn chia nhóm dựa theo yêu cầu bài tập ( mỗi nhóm đều
phải có thư kí, nhóm trưởng, người trình bày) mọi thành viên trong nhóm đều
tham gia đóng góp y kiến .
Bước 3: GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm và giới hạn thời gian thảo luận.
Bước 4: Quan sát hoạt động thảo luận, hướng dẫn, gợi y các nhóm thảo
luận.
Bước 5: Đại diện các nhóm trình bày kết quả.
Bước 6: Tổ chức nhận xét, đánh giá xếp loại, bổ xung những y kiến cần
thiết, động viên tinh thần làm việc của nhóm.

làm của từng vai diễn.
* Nội dung thể hiện

10


Biện pháp đóng vai thể hiện ở 3 khía cạnh cơ bản đó là người tham gia
đóng vai, cách tổ chức đóng vai và nội dung của hoạt động đóng vai.
- Người tham gia đóng vai là HS trong tổ, trong lớp. Các em đóng vai
không nhằm luyện tập các kĩ năng biểu diễn mà các em đóng vai chủ yếu
nhằm mục đích luyện tập theo chủ đề hội thoại giao tiếp để sau đó cả lớp cùng
phân tích, nhận xét, rút kinh nghiệm.
* Cách tổ chức đóng vai:
Khi đóng vai thực hiện một tình huống giả định, các nhân vật tham gia hội
thoại có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau để phát triển đề tài, thực hiện
cuộc hội thoại như biện pháp hỏi-đáp, phiếu học tập để đưa ra lời giải trên
giấy.
* Hoạt động đóng vai:
Theo sự phát triển của tình huống giao tiếp giả định, hội thoại trong hoạt
động đóng vai được thực hiện trong mỗi giai đoạn của cuộc giao tiếp với
những chức năng nhiệm vụ khác nhau
+ Hoạt động mở đầu cuộc giao tiếp bao gồm những lời nói dùng trong lúc
gặp gỡ, làm quen và các lời thoại giới thiệu đề tài giao tiếp.
+ Hoạt động triển khai đề tài giao tiếp bao gồm những đoạn thoại của các
nhân vật để trò chuyện và thương lượng hay trình bày, phân tích trao đổi, thảo
luận… về đề tài.
+ Hoạt động kết thúc cuộc giao tiếp bao gồm những lời nói, lời chia tay,
lời tạm biệt, hẹn gặp lại…
* Quy trình vận dụng
Bước 1: Chuẩn bị

thần.
- Nội dung: Để vận dụng trò chơi học tập vào trong từng tiết học thành
công, bên cạnh mục đích củng cố kiến thức, GV cần thường xuyên rèn cho
HS các kĩ năng , kĩ xảo khi tham gia trò chơi. Trong đó kĩ năng đáng quan
tâm nhất là kĩ năng nghe – nói.
* Nội dung chơi: Nội dung của các trò chơi học tập cần phải gắn với các
tri thức, kĩ năng của phân môn Tiếng Việt lớp 2.
12


* Luật chơi: Để tổ chức trò chơi đạt mục đích học tập của HS. GV cần
phải đưa ra những luật chơi nhất định. Tuy nhiên đối với HS đầu cấp Tiểu học
như lớp 2 thì luật chơi đưa ra cần đơn giản, rõ ràng, dễ nhớ, không đòi hỏi
nhiều thời gian cho việc huấn luyện. Ngoài ra, trò chơi học tập thường được
diễn ra trong thời gian rất ngắn, phù hợp với trình độ của HS, luật chơi cần
được giới thiệu trước khi chơi bao gồm: nội dung chơi, cách tổ chức chơi và
cách tính điểm cho người chơi.
- Thời gian và thời điểm chơi: Trò chơi luôn là một khâu kết nối khá
quan trọng trong quá trình tổ chức giờ học. Nếu như việc sử dụng trò chơi học
tập đúng mục đích, đúng liều lượng thì sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong
việc rèn kĩ năng nghe –nói. Nhưng nếu lạm dụng trò chơi thì giờ học sẽ biến
thành giờ thư giản, giải trí không đạt mục đích của tiết học.
Trò chơi học tập thường được đưa vào cuối tiết học, nhằm củng cố kiến
thức và kĩ năng học tập trong tiết học đó, khi HS có dấu hiệu mệt mỏi thì trò
chơi tạo sự hưng phấn cho HS để kết thúc tiết học vui vẻ. Tuy nhiên, có
những trường hợp trò chơi có thể đưa vào đầu tiết học nhằm kiểm tra các kiến
thức đã được học và có giá trị như một màn khởi động tạo tâm thế học tập cho
HS.
Ngoài các vấn đề cần lưu y trên GV cũng luôn phải xác định được mục
đích của trò chơi nhằm củng cố kiến thức, theo dõi, kiểm soát và đánh giá

xử phạt” những HS phạm luật chơi, khen thưởng đối với những HS thực hiện
tốt.
+ Trong quá trình tổ chức chơi cần lưu y vai trò của người tổ chức và chế độ
thưởng phạt.
Vai trò của người tổ chức hay là người quản trò có vị trí quan trọng, nó gây
được hứng thú cho người tham gia có khả năng lôi cuốn, thu hút HS, biết kiên
nhẫn, diễn đạt mạch lạc, biết dừng trò chơi đúng lúc, thực hiện đúng luật chơi,
đánh giá y nghĩa của trò chơi.
Thưởng phạt cũng phải công bằng khiến người tham gia chơi cảm thấyvui
vẻ, thoải mái.
Bước 4: Nhận xét, đánh giá và rút kinh nghiệm
- Cần nhận xét,đánh giá trò chơi bằng những kiến thức được củng cố và kĩ
năng luyện tâp.
- Nhận xét thái độ tham gia của người chơi và rút kinh nghiệm.
14


Biện pháp trò chơi học tập không chỉ giúp HS củng cố kiến thức mà phát
triển cho HS những kĩ năng tổ chức, kĩ năng trình bày, kĩ năng nghe, kĩ năng
quan sát, nhận xét, đánh giá và tham gia thảo luận. Ngoài ra, HS sẽ dần dần
có y thức trách nhiệm,biết tôn trọng kỉ luật, biết giúp đỡ bạn bè và sẵn sàng
phấn đấu, cố gắng vì danh dự của nhóm…Thông qua trò chơi học tập, HS đặc
biệt có cơ hội để thể hiện bản thân mình từ tính cách, năng lực đến khả năng
trình bày, diễn đạt.
Như vậy, thông qua biện pháp tổ chức trò chơi học tập, sẽ có tác động
tích cực tới việc hình thành và phát triển kĩ năng nghe – nói cho HS lớp 2, từ
đó giúp HS tiếp thu kiến thức môn học Tiếng Việt được tốt hơn, tư duy phát
triển nhanh hơn và kĩ năng đọc – viết cũng tốt hơn.
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện” Biện pháp rèn kĩ năng nghe –


SL
23

SL
12

SL
5

SL
0

Số
HS

%
57,5

%
30,0

%
12,5

%

Qua kết quả trên, tôi thấy việc áp dụng biện pháp : Rèn kĩ năng nghe –
nói cho học sinh lớp 2 trong môn Tiêng Việt là rất khả thi và bước đầu đã đạt
được kết quả đáng khích lệ, không còn điểm dưới 5 điều đó cho thấy rằng:

dung của người khác.
Người viết

Hoàng Thị Duyên

17


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1

1. Lý do chọn đề tài

1

2. Mục đích nghiên cứu

1

3. Đối tượng nghiên cứu

2

4. Phương pháp nghiên cứu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status