sáng kiến một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt cho học sinh lớp 2 - Pdf 45

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: …………………………………………
1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt cho học sinh
lớp 2.”
2. Lĩnh vực áp dụng: Trong công tác giảng dạy ở tiểu học.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết

Kĩ năng đọc là một trong bốn kĩ năng hoạt động của ngôn ngữ. Đặc biệt
ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng, kĩ năng đọc có ý nghĩa rất sâu sắc,
đọc để nắm được ý chính của đoạn văn, biết đặt đầu đề cho đoạn văn, biết
nhận xét về một số hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong bài học.
Việc đọc có ý nghĩa cơ bản đầu tiên của học sinh bậc Tiểu học. Học đọc
rồi mới đọc để hiểu, đọc để chiếm lĩnh ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập.
đồng thời đọc cũng là công cụ để học tốt môn khác, có tác dụng tích cực đến
trình độ ngôn ngữ, trình độ tư duy của học sinh. Do đó rèn kĩ năng đọc cho
học sinh có tầm quan trọng đặc biệt. Trước hết rèn cho học sinh đọc đúng
đảm bảo tốc độ vừa phải đạt 50 chữ/phút sau đó mới đọc diễn cảm. Có đọc
diễn cảm thì mới hiểu được ý nghĩa của nội dung văn bản và từ ngữ trong văn
cảnh. Nói tóm lại phân môn tập đọc là một phân môn có tầm quan trọng to
lớn với bậc tiểu học. Muốn học giỏi thì trước hết phải đọc thông, viết thạo thì
các em mới nắm được nội dung bài, yêu cầu của đề. Từ đó các em mới suy
luận, tìm tòi để làm bài được tốt;
Thế nhưng, qua tìm hiểu bạn bè đồng nghiệp và qua thực tế giảng dạy
hiện nay tôi thấy kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 còn nhiều hạn chế. Vì thế tôi
băn khoăn, trăn trở và đã tìm ra một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt cho học
sinh lớp 2. Trong quá trình thực hiện vẫn còn gặp những ưu điểm và hạn chế .


- Giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp, đọc mẫu thật hấp dẫn
để lôi cuốn học sinh. Giáo viên đọc chuẩn xác, phù hợp với từng văn bản để
học sinh học tập;
- Rèn cho học sinh luyện phát âm đúng chuẩn, chú ý các từ ngữ, luyện
đọc những từ ngữ học sinh phát âm sai ngay lúc đó nhiều lần;
2


- Học sinh luyện đọc rành mạch, đọc lưu loát cả văn xuôi, thơ ca, hò vè.
Đọc đúng nhịp thơ, thể hiện ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng các từ ngữ, biết
thay đổi giọng đọc theo đúng ngữ cảnh và tình cảm của câu;
- Học sinh luyện đọc diễn cảm theo hình thức phân vai, đọc biết kết hợp
giảng giải của giáo viên.
b) Các bước thực hiện của giải pháp
Qua thực tế giảng dạy tôi đã tiến hành các biện pháp theo thứ tự sau:
Sử dụng phối hợp các phương pháp hạy học
- Phương pháp trực quan: Phương pháp này phù hợp với tư duy, tâm lý,
lứa tuổi học sinh. Trực quan bằng giọng đọc của giáo viên. Giọng đọc mẫu của
giáo viên là hình thức trực quan sinh động và có hiệu quả cao, có tác dụng làm
mẫu cho học sinh luyện đọc. Mỗi bài văn, bài thơ viết ở thể loại khác nhau. Có
bài giọng đọc náo nức, phấn khởi; có bài giọng đọc trang nghiêm trầm lắng; có
bài giọng đọc ân cần khuyên nhủ nghĩa là mỗi bài một vẻ. Do đó giáo viên cần
đọc đúng thể loại ngữ liệu, tránh đọc đều đều, không cảm xúc kết hợp biểu hiện
tình cảm, qua ánh mắt, nét mặt, nụ cười. Khi giới thiệu bài nên dùng trực quan
bằng tranh ảnh, vật thật giúp các em háo hức tìm hiểu và cảm thụ bài đọc. Trực
quan bằng một đoạn văn chép sẵn được ngắt theo cụm từ để các em đọc ngắt
hơi, nghỉ hơi đúng chỗ. Có thể trực quan bằng cách nghe giọng đọc hay của học
sinh trong lớp;
- Phương pháp đàm thoại: Phương pháp này phù hợp với tâm lí trẻ nhỏ.
Các em thích hoạt động (hoạt động lời nói) giáo viên đưa ra một hệ thống câu

Hầu hết học sinh đã biết đọc to, rõ ràng, biết ngắt nghỉ ở chỗ có dấu câu,
nhưng khi đọc những câu dài không có dấu phẩy ngăn cách giữa các cụm từ các
em thường tỏ ra lúng túng. Với đối tượng này tôi ghi sẵn các câu khó cần luyện
đọc ra bảng phụ, đọc mẫu giúp học sinh tìm ra cách đọc cho mình.
Ví dụ:

Sói sắp tóm được Dê Non/ thì bạn con đã kịp lao tới, dùng
đôi gạc chắc khoẻ/ húc Sói ngã ngửa.//
(Bài Bạn của Nai Nhỏ-Tiếng Việt 2 tập 1, trang 23)

- Cô đã ngắt hơi chỗ nào;
- Học sinh phát hiện chỗ ngắt hơi rồi đọc lại;
Khi đọc thơ các em cũng gặp khó khăn vì chưa biết ngắt nhịp, tôi cũng
tiến hành tương tự như trên.
Ví dụ:

Những ngôi sao/ thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ/ đã thức vì chúng con.
(Bài Mẹ - Tiếng Việt 2 tập 1, trang 101)
Ai mang nước ngọt,/ nước lành,
4


Ai đeo/ bao hũ rượu/ quanh cổ dừa.
(Bài Cây dừa - Tiếng Việt 2 tập 2, trang 88)
- Cô đã ngắt nhịp như thế nào;
- Học sinh phát hiện chỗ ngắt nhịp rồi đọc lại.
Để giúp học sinh đọc các dấu câu đúng ngữ điệu tôi hướng dẫn các em
với kiểu câu cảm thì chú ý đến cảm xúc của tác giả (vui, buồn, giận dữ, hài
hước,…). Với kiểu câu hỏi thì cần lên giọng ở cuối câu, nhấn giọng ở các từ để

Yêu cầu đầu tiên đối với khả năng đọc chính xác, luyện đọc chính xác
thực chất là rèn luyện phát âm đúng cho học sinh;
Để dạy cho học sinh phát âm đúng tôi không quên rèn kĩ năng nghe . Ở
đây vai trò giọng đọc của giáo viên rất quan trọng. Giữa nghe và phát âm có
mối quan hệ rất chặt chẽ cho nên rèn luyện kĩ năng nghe cũng hỗ trợ rất nhiều
cho kĩ năng đọc.
Lỗi mà học sinh còn phát âm sai do 2 nguyên nhân :
+ Nguyên nhân chủ quan: như nói lắp, nói ngắn lưỡi khó đọc do tật
bẩm sinh;
Ví dụ: s / x: sung / xung, sâu / xâu, ...
+ Nguyên nhân khách quan: do cách phát âm sai của phương ngữ tạo
cho các em thói quen nghe và nói từ khi nhớ;
+ Để chữa lỗi phát âm sai tôi dùng biện pháp giảng giải trên cơ sở lí
thuyết ngữ âm và ý nghĩa từ;
+ Cho học sinh luyện đọc lại từ ngữ phát âm sai ngay lúc đó nhiều lần.
Ví dụ: phát âm s / x:
+ Khi phát âm s (sờ): phải uốn lưỡi, hơi thoát ra chân răng đầu lưỡi;
+ Khi phát âm x (xờ): hơi ra ở mặt lưỡi và chân răng.
Ví dụ: phát âm tr / ch:
Phát âm tr (trờ): hơi ra qua đọng tác bật đầu lưỡi với chân răng;
- Mặt khác là việc sửa sai qua giảng nghĩa từ.
Ví dụ: xâu / sâu : ''xâu kim'' với ''sâu trong lòng đất ''
- Luyện đọc
Từ chỗ đọc đúng âm, đúng thanh tiến tới cho học sinh đọc được mức
độ cao hơn: đọc rành mạch tốc độ đọc 50 tiếng/phút, nắm được ý cơ bản của
6


bài, đọc lưu loát và bước đầu đọc diễn cảm bằng đọc thành tiếng và đọc thầm,
đọc chữ in và đọc chữ viết;

''Chạy đi! Voi rừng đấy!''.
Tôi hướng dẫn học sinh biết ngắt nghỉ ở các dấu ngắt câu, ở các từ ngữ
cần nhấn giọng: ''ập xuống, ngăn lại, chạy đi, vội vã'' .
+ Đọc văn vần:
Học sinh đọc văn xuôi đã khó, đọc văn vần lại càng khó hơn. Khi đọc
văn vần cần chú ý tiết tấu của đoạn văn. Tiết tấu là nhịp điệu của âm nhạc, ở
sách tiếng việt lớp 2 có nhiều thể văn vần chúng ta thường gặp như: Thơ lục
bát, thơ đường, thơ 5 chữ, thơ 4 chữ, thơ tự do. Ở đây không phải thể thơ nào
cũng giống nhau phải thay đổi theo tiết tấu của câu, bài thơ theo thể thơ nào.
- Khi đọc thơ lục bát thường đọc ngắt nhịp 2/4 (ở câu 6 chữ ) và nhịp
4/4 (ở câu 8 chữ).
Ví dụ: Bài thơ ''Mẹ''
Lặng rồi / cả tiếng con ve
Con ve cũng mệt /vì hè nắng oi
Nhà em/ vẫn tiếng ạ ơì
Kẽo cà tiếng võng /mẹ ngồi mẹ ru.
- Thơ 7 chữ (thơ đường): đọc theo nhịp 4/3 hay 3/4.
Ví dụ: Bài thơ ''Gió''.
Gió ở rất xa / rất rất xa
Nhưng thơ lục bát cũng có khi đọc theo nhịp 3/3 và 3/5
Những ngôi sao / thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ / đã thức vì chúng con.
- Đọc thơ câu 4 chữ theo nhịp 2/2.
Ví dụ: Bài thơ ''Tiếng võng kêu''
Có gặp / con cò /
Lặn lội / bờ sông ?/
Có gặp / cánh bướm /
Mênh mông / mênh mông /
- Đọc thơ 5 chữ theo nhịp 2/3 hoặc 3/2.
8

em phấn khởi, vui vẻ và tự tin hơn.
Mặt khác tôi không chê bai học sinh một cách lộ liễu trước cả lớp. Đối với
những em chậm tiến bộ tôi nhẹ nhàng nhắc nhở, tìm hiểu nguyên nhân để tìm
cách khắc phục chứ không phê bình gay gắt.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Qua nghiên cứu thực hiện, tôi đã vận dụng tốt các giải pháp trên vào thực
tế giảng dạy cho lớp có hiệu quả. Đạt hiệu quả là nền tảng vững chắc để giúp
11


các em học tốt ở các lớp cao hơn. Tôi đã nhân rộng giải pháp này cho giáo viên
trường tôi và cho tất cả trường bạn thực hiện. Tùy theo thực tế của từng trường,
lớp mà có thể điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp để việc rèn kĩ năng đọc cho học
sinh lớp 2 đạt hiệu quả.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp

Qua một thời gian giảng dạy ở lớp 2 áp dụng các biện pháp trên tôi
nhận thấy:
- Kĩ năng đọc của học sinh lớp tôi đã tiến bộ rõ rệt, học sinh đọc lưu
loát, diễn cảm hơn nhiều so với trước đây;
- Học sinh hứng thú hơn trong học tập đặc biệt là phân môn tập đọc. Từ đó
các em cảm thấy yêu thích tiếng việt hơn;
- Số học sinh đọc chưa đạt yêu cầu đã giảm rất nhiều, số học sinh
trung bình về phần đọc đã được nâng lên;
- Không còn học sinh phát âm sai các từ ngữ có âm, vần, thanh khó đọc;
- Học sinh biết đọc phân biệt lời người kể và lời các nhân vật;
- Không còn ngắt nghỉ hơi tuỳ tiện mà đọc trôi chảy nhấn giọng ở những
từ gợi tả, gợi cảm, cảm thụ được cái hay, cái đẹp của bài văn, bài thơ;
- Đặc biệt càng gần cuối năm học kĩ năng đọc của các em càng thành
thạo, đáp ứng được yêu cầu đặc trưng của phân môn. Các em ham thích đọc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status