SKKN SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC NẬM LOỎNG - Pdf 44

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TRƯỜNG TIỂU HỌC NẬM LOỎNG

THUYẾT MINH SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 4- TRƯỜNG TIỂU HỌC NẬM LOỎNG

Đồng tác giả:
1. Nguyễn Thị Thanh
Trình độ chuyên môn: Đại học tiểu học
Chức vụ: Giáo viên
2. Vàng Văn Tuyến
Trình độ chuyên môn: Đại học tiểu học
Chức vụ: giáo viên
Nơi công tác: Trường Tiểu học Nậm Loỏng
- Thành phố Lai Châu- Tỉnh Lai Châu

1


Thành phố Lai Châu, Ngày 20 tháng 2 năm 2017

THUYẾT MINH SÁNG KIẾN
I. THÔNG TIN CHUNG
1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh
lớp 4”.
2. Đồng tác giả.
ST
Họ và tên
T



ĐH

TP

ĐH

GV

Nơi
làm
việc
Trường
THNL

Tỷ lệ đóng
góp tạo ra
sáng kiến
096247 50 %
2378

Trường
THNL

016363 50 %
36801

Điện
thoại


thức. Cũng nhằm hình thành thói quen, ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp
của tiếng Việt, góp phần hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Khi đã có kĩ giao tiếp các em sẽ tự tin trước đám đông, truyền tải được
đến với người nghe những gì mình muốn nói và chắc chắn rằng các em sẽ thành
công trong nhiều lĩnh vực.
Trong thực tế hiện nay chúng ta thấy xã hội ngày càng phát triển nhưng kĩ
năng giao tiếp của học sinh ngày càng giảm sút, sự đối lập này do đâu? Một câu
hỏi được đặt ra cho tất cả người lớn, đặc biệt là cha mẹ và các thầy cô giáo
những người thường xuyên gần gũi các em nhất.
Để giúp học sinh khắc phục được những hạn chế trong giao tiếp, để các em
trở thành những học sinh phát triển một cách toàn diện dưới mái trường xã hội
chủ nghĩa, thích ứng với các tình huống xảy ra trong xã hội, và đặc biệt giúp các
em có cơ hội bày tỏ niềm vui, chia sẻ những nỗi buồn với cha mẹ, thầy cô, bạn
bè, những người xung quanh bằng chính ngôn ngữ và việc làm của chính mình,
chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp
cho học sinh lớp 4”.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
Giáo viên, học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Nậm Loỏng
3. Mô tả sáng kiến:
a. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
Hiện trạng:
3


Trong những năm gần đây, phần lớn trẻ em học sinh dân tộc đã học qua
lớp mẫu giáo thực hiện chương trình làm quen tiếng Việt nhưng nhìn chung,
vốn từ và kỹ năng nghe, nói của các em còn hết sức hạn hẹp. Cụ thể:
Về số lượng từ các em sử dụng được trong giao tiếp chỉ ở mức có thể
nói được những lời nói đơn giản như chào cô, chào thầy, thưa cô, thưa thầy,
cha, mẹ, ông bà hay các sự vật gần gũi như cái bàn, cái ghế, quyển sách, cái

các em học sinh dân tộc hết sức hạn hẹp và thiếu tính tích cực. Ở trường, khi
học trên lớp, chủ yếu các em được nghe cô giáo giảng bài, được luyện đọc
nhưng không hiểu nội dung bài đọc; được luyện viết nhưng chỉ luyện để
viết đúng con chữ mà không thể viết thành bài văn hoàn chỉnh được. Còn
khi ra chơi, các em lại nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Về với gia đình và
cộng đồng, các em lại sống trong môi trường thuần tiếng dân tộc, vốn TV
tạm thời bị chìm vào dạng tiềm năng. Môi trường giao tiếp bằng TV bị hạn
hẹp chính là nguyên nhân, là rào cản lớn nhất của sự hình thành kỹ năng sử
dụng TV của các em học sinh dân tộc đẫn đến kĩ năng giao tiếp của các em
cũng gặp khó khăn.
b. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
* Tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ.
Tính mới: Với các biện pháp giáo dục linh hoạt giáo viên giúp học sinh
mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Biết mạnh dạn trình bày ý kiến và mong muốn
của mình trước tập thể, gần gũi trao đổi với cô giáo, bạn bè, bố mẹ, ... mạnh dạn
đưa ra các ý kiến, thắc mắc trong học tập cũng như trong việc thực hiện các hoạt
động chung của lớp.
Các em đã biết chia sẻ cảm xúc của mình với bạn bè, thầy cô, cha mẹ, ...
trong khi trò chuyện, tham gia các hoạt động tập thể.
Sự khác biệt: Với các giải pháp đã sử dụng trong đề tài người giáo viên
vừa tổ chức cho học sinh mạnh dạn hơn trong giao tiếp, có thể trình bày rõ ràng
vấn đề muốn nói- là điều khó khăn với học sinh dân tộc Mông khi ngôn ngữ
tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai, không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ.
Qua nhiều năm làm công tác giảng dạy ở khối 4 chúng tôi nhận thấy: Để
học sinh có thể mạnh dạn hơn trong giao tiếp, có thể trình bày rõ ràng vấn đề
muốn nói, nhằm đạt mục tiêu giáo dục toàn diện cần một số biện pháp sau.

5



6


Ban đầu chúng tôi hướng dẫn các em nói theo lời của thầy cô. Tiếp theo
chúng tôi tổ chức cho các em trải nhiệm thực tế bằng cách đóng vai, chơi các trò
chơi. Qua việc được trải nghiệm các em rút ra được nhận xét lời nói đúng nên
nói, lời nói sai không nên nói. Các em được tự mình sửa cách nói không nên nói
thành cách nói ngược lại.
Qua việc được xem bạn đóng vai bằng những tình huống cụ thể, chúng tôi
tiến hành đưa ra hệ thống câu hỏi như:
+ Qua trò chơi em thích cách nói của bạn nào? Vì sao em thích?
+ Qua trò chơi em không thích cách nói của bạn nào? Vì sao em không
thích?
+ Nếu em là bạn em sẽ nói thế nào?
Với cách tiến hành như trên các em học sinh ở hai lớp đã biết nói đầy đủ
câu, biết thưa gửi khi trình bày nội dung, ứng xử phù hợp trong từng tình huống
cụ thể đặc biệt là không còn hiện tượng nói trống không, xưng hô đúng mực khi
giao tiếp giữa trò với thầy và giữa trò với trò. Bên cạnh đó qua việc được đóng
vai đã tạo cho các em mạnh dạn hơn, nói to dõng dạc hơn khi đứng trước đám
đông.
Biện pháp 2: Rèn kỹ năng giao tiếp phù hợp, đúng chuẩn mực
Ở biện pháp 1 chúng tôi hướng dẫn bằng cách cho các em nói theo “mẫu
câu” khi giao tiếp và bước đầu nhận định điều nên và không nên cư xử của từng
học sinh trong các tình huống cụ thể ngoài ra với phương pháp đó cung cấp kiến
thức ở mức độ đơn giản. Ở biện pháp này để rèn cho học sinh có kỹ năng giao
tiếp thuần thục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Qua quá trình trải nghiệm
chúng tôi tiếp tục tiến hành cho học sinh đóng vai ở giai đoạn này khi đưa ra
tình huống cụ thể học sinh được tự bàn bạc ở trong nhóm về các xử lý của từng
nhân vật, sau đó các nhóm tự đóng vai để học sinh dưới lớp được quan sát. Để
học sinh có được nhiều cách xử lý chúng tôi tiến hành cho học sinh thảo luận, tự

thích của mình, mạnh dạn khi biểu diễn, biết nói cảm ơn xin lỗi trong từng tình
huống cụ thể, biết thể hiện thái độ lễ phép với thầy cô, thân thiện với bạn bè.
Giải pháp 3: Tạo không khí tiết học sôi nổi, nhẹ nhàng, hấp dẫn

8


Học sinh là người dân tộc thiểu số vốn dĩ rất nhút nhát, ngại giao tiếp với
thầy cô giáo. Nhiều em khi thầy cô gọi đứng dậy trả lời chỉ đứng và im lặng vì
hoặc là không hiểu được câu hỏi hoặc là không tự tin với những câu trả lời bằng
tiếng phổ thông của mình do vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế. Trong khi
chương trình sách giáo khoa quá tải, chưa thật sự phù hợp với học sinh dân tộc
thiểu số; giáo viên thì ôm đồm, tìm mọi cách để làm sao truyền đạt, chuyển tải
hết những kiến thức trong sách giáo khoa đồng thời rèn cho các em thành thạo
các dạng mà bài học đã đưa ra. Do đó tiết học thường rơi vào tình trạng hối hả
nhưng trầm lặng, nặng nề, khô khan và thường diễn ra theo hướng một chiều. Vì
vậy, muốn tiết dạy đạt hiệu quả cần tạo ra một không khí thật nhẹ nhàng, hấp
dẫn. Đây là giải pháp đặc trưng trong quá trình giảng dạy đối với học sinh dân
tộc thiểu số ở tất cả các bậc học đặc biệt là ở Tiểu học.
Hiểu được tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số, chúng tôi đã đổi mới
phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh tùy theo các môn học
nhưng đều chú trọng đến những yếu tố vừa truyền đạt kiến thức của bài học
đồng thời tăng cường tiếng Việt bằng những trò chơi ở tất cả các môn học (chủ
yếu là các trò chơi về ngôn ngữ, trò chơi trí tuệ sử dụng ngôn ngữ) như:
- Đóng vai
Đóng vai là một trong những phương pháp gây được hứng thú trong học tập
cho học sinh (học mà chơi, chơi mà học), rèn tính tự tin, tinh thần đoàn kết đặc
biệt đây cũng là điều kiện tốt để tăng cường tiếng Việt cho học sinh song để
mang lại hiệu quả, giáo viên và học sinh phải đầu tư nhiều.
Các em hào hứng tham gia, tiết học trở nên sôi động và hấp dẫn, hiệu quả của

(Trước khi áp dụng)
2016-2017
(Sau khi áp dụng)

TS Thời điểm

mạch lạc, diễn
đạt tốt
SL
%

Số học sinhSố học sinh
nói đủ ý

nói chưa đủ ý

SL

SL

%

%

Số

nhút nhát
phát biểu
SL
%

mọi lục, mọi nơi.
10

học


Việc thầy cô uốn nắn, giúp đỡ các em trong từng lời ăn, tiếng nói, từng việc
làm, giúp các em trưởng thành nên rất nhiều.
Các em mạnh dạn trình bày ý kiến và mong muốn của mình trước tập thể,
gần gũi trao đổi với cô giáo, bạn bè, bố mẹ,... mạnh dạn đưa ra các ý kiến, thắc
mắc trong học tập cũng như trong việc thực hiện các hoạt động chung của lớp.
Các em đã biết chia sẻ cảm xúc của mình với bạn bè, thầy cô, cha mẹ,
...bằng rất nhiều hình thức; nói chuyện, vẽ tranh, các hoạt động tập thể.
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
Sáng kiến “Một số biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 4”.
Sáng kiến có tính khả thi và có thể triển khai áp dụng hầu hết ở các trường tiểu
học nói chung theo định hướng phát huy tính tích cực của học sinh, đáp ứng
được mục tiêu của công tác giáo dục.
6. Các thông tin cần được bảo mật: Không
7. Kiến nghị, đề xuất:
a) Kiến nghị: Không
b) Đề xuất: Không
8. Tài liệu đính kèm: Không
Trên đây là nội dung, hiệu quả của sáng kiến do chúng tôi thực hiện không
sao chép hoặc vi phạm bản quyền./.
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

TÁC GIẢ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status