Tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường trong dạy học môn toán ở trường THCS - Pdf 44

1


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD & ĐT HOẰNG HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÍCH HỢP KIẾN THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG THCS

Người thực hiện: Bùi Văn Cường
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Hoằng Trạch
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

THANH HÓA NĂM 2016
2


MỤC LỤC
A
1
2
3
4
B
I
1

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị

Trang
1
1
1
1
1
2
2
2
2
3
4
5
7
9
11
13
14
14
15

3


A. PHẦN MỞ ĐẦU

- Học sinh nắm vững kiến thức về bảo vệ môi trường đồng thời nâng cao ý
thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường.
- Phát huy tính tích cực, năng nổ trong các hoạt động về môi trường.
- Nghiên cứu các vấn đề về kiến thức, cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
- Truyền thụ những kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường cho học sinh.
- Thực nghiệm kiểm tra hiệu quả của việc áp dụng đề tài trong từng hoàn cảnh
cụ thể để có những biện pháp đưa ra điều chỉnh kịp thời.
3. Đối tượng nghiên cứu:
4


- Tài liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách luật bảo vệ môi trường 2005,
sách văn hoá giáo dục, tạp chí môi trường, phương pháp dạy học môn toán, tài
liệu tham khảo môn toán.
- Giáo viên đang dạy môn toán trường THCS Hoằng Trạch – Hoằng Hóa.
- Học sinh các khối lớp của trường THCS Hoằng Trạch qua các năm học:
2014-2015, 2015-2016.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp dạy học bộ môn toán THCS.

B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận và thực tiễn:
1. Cơ sở lí luận:
* Trước tiên ta hiểu môi trường là gì?
Trích điều 3 luật bảo vệ môi trường năm 2005 “ Môi trường bao gồm các yếu
tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. Môi trường

sinh môi trường đã xả nước thải, rác thải, khí thải nhà máy bừa bãi gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng. Chủ trương của Đảng và Nhà Nước là trồng
cây gây rừng được coi trọng, diện tích rừng được tăng lên nhưng chất lượng
rừng bị giảm suốt. Dân số tăng, các hoạt động kinh tế gia tăng và công tác
quản lý tài nguyên chưa tốt khiến tài nguyên quốc gia cạn kiệt nghiêm trọng
trong đó có tài nguyên nước không khí bị cạn kiệt và ô nhiễm, nồng độ bụi ở
các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần đường giao thông
lớn đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần. Việt Nam được coi là một
trong 15 trung tâm đa dạng sinh học trên thế giới nhưng trong những năm gần
đây đa dạng sinh học đã bị suy giảm nhiều.
Các nhà khoa học đã khẳng định rằng một trong các nguyên nhân chính gây
suy giảm đa dạng sinh học là do sự thiếu hiểu biết và thiếu ý thức của con
người. Do đó giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp
hữu hiệu nhất, kinh tế nhất, đảm bảo tính bền vững. Thông qua giáo dục về
kiến thức bảo vệ môi trường mà từng người trang bị cho mình kiến thức về
môi trường từ đó nâng cao ý thức của bản thân về trách nhiệm bảo vệ môi
trường. Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp trong các môn
học thông qua các chương, bài cụ thể . Khi soạn giáo án giáo viên cần xem xét
nghiên cứu và chọn lọc nội dung giáo dục môi trường phù hợp để đưa vào nội
dung bài giảng dưới dạng lồng ghép toàn phần hay từng phần.
Mục đích quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh không
chỉ làm cho các em hiểu rõ sự cần thiết phải bảo vệ môi trường mà quan trọng
là phải có thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thận thiện với môi trường .
II. Thực trạng về bảo vệ môi trường ở địa phương và nhà trường:
Trong thực tế công tác bảo vệ môi trường cũng đã được nhiều địa phương
quan tâm, trên địa bàn xã thường xuyên nhắc nhở làm vệ sinh đường làng ngõ
xóm, Đoàn thanh niên của xã kết hợp với nhà trường nên mọi hoạt động về
công tác bảo vệ môi trường của Nhà trường cũng như các thôn đều được
hưởng ứng, song do ý thức của người dân cũng như một đại bộ phận học sinh
đang còn ý thức kém về việc bảo vệ môi trường, nhiều người dân đang còn đổ

30,2
69,8

Bên cạnh nhiều thuận lợi thì khi thực hiện đề tài thì tôi gặp rất nhiều khó
khăn, có thể nói khó khăn lớn nhất là mọi người, mọi học sinh lại chủ quan cứ
tưởng như mình biết rồi, có thuận lợi hơn là dạy lồng ghép vào môn học bắt
buộc các em phải suy nghĩ song môn Toán lại không dễ vì không giống như
các môn khác kiến thức liên quan đến môi trường thì sách giáo khoa môn toán
số lượng bài tập có liên quan đến môi trường là quá ít nên khi thực hiện lồng
ghép kiến thức tôi phải đắn đo rất kĩ nên lồng ghép kiến thức, bài tập về bảo vệ
môi trường vào phần nào, chương nào, bài nào, tiết nào cho phù hợp. Lúc đầu
tôi cũng sợ tình huống đưa bài toán, bài tập vào không phù hợp với kiến thức
bộ môn cũng như trình độ tiếp thu bài của học sinh. Song khi thực hiện tôi
thấy rằng không chỉ học sinh tiếp thu bài tốt mà các em còn có hứng thú học
tập hơn.
Trước thực trang ô nhiễm môi trường như vậy nhà trường và Đoàn – Đội
đã đưa ra một số giải pháp như: Yêu cầu học sinh các lớp cam kết đổ rác thải
đúng quy định. Đoàn thanh niên của xã và nhà trường thống nhất mỗi tháng
dọn vệ sinh chung một lần. Tuy nhiên các giải pháp đó đưa ra chỉ đáp ứng
được phần nào thực trạng ô nhiễm môi trường, bởi vì vấn đề bảo vệ môi
trường xuất phát từ ý thức chung của mỗi người. Vì vậy thiết nghĩ phải lồng
ghép vào nội dung từng bài giảng cho học sinh thì hiệu quả sẽ được tăng lên
rất nhiều.
III. Một số biện pháp tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường trong giảng
dạy môn toán ở trường THCS:
Sáng kiến kinh nghiệm “ Tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường trong
giảng dạy môn toán ở trường THCS” là sáng kiến nhằm cung cấp cho học
sinh những kiến thức về tình trạng ô nhiễm môi trường và hậu quả của nó
thông qua các bài tập toán cũng như bài giảng trên lớp của giáo viên nhằm
giúp học sinh nắm được tính chất ô nhiễm môi trường hiện nay, góp phần nâng


20.000

SiO2

1,53

Ni Ken

1

A sen

1,5

Bụi
700
Khí độc 0,6
a) Em hãy cho biết chất nào thải vào môi
trường nhiều nhất?
b) Viết tập hợp A bốn chất thải ra môi
trường lớn nhất? Qua bài toán trên em hãy
cho biết nhóm chất nào là nguyên nhân
chính gây ô nhiễm môi trường hiện nay?
HS trả lời.
GV:? Nhận xét về thực trạng các chất khí
thải ra môi trường ở địa phương em?
GV: ? Chúng ta phải làm gì để giảm thiểu
lượng khí trên đối với môi trường?
HS trả lời và giáo viên kết luận

nạp 5kg, mỗi học sinh khối 8 phải nạp 6kg,
Gọi x (kg) là khối lượng
mỗi học sinh khối 9 phải nạp 7 kg.Tính số phế liệu mà mỗi khối phải
8


kg phế liệu mỗi khối phải nạp. Biết rằng số nạp.
kg phế liệu đó trong khoảng từ 400 đến 500. 400
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung bài học
GV: Đưa ra nội dung bài toán:
Bài giải:
Lớp 6A có 45 học sinh tham gia trực tuần * Số học sinh lớp 6A thích
làm vệ sinh. Trong đó

2
số học sinh thích quét rác là:
3

2
.45 = 30 (học
3

quét rác,

sinh)
2
* Số học sinh lớp 6A thích
60% thích tưới cây, thích xới cỏ. Tính số
9
tưới cây là: 60%.45 = 27 (học
học sinh lớp 6A thích quét rác, tưới cây, xới sinh)
9


cỏ.
* Số học sinh lớp 6A thích
2

6 7 8
HS: Trả lời.
+ Vì số cây trồng được của
? Có nhận xét gì về số cây của lớp 7C so với lớp 7 C nhiều hơn số cây
7B
trồng được của lớp 7B là 20
? Cả khối 7 trồng được bao nhiêu cây xanh? cây nên ta có: z − y = 20
HS: trả lời.
Áp dụng tính chất dãy tỉ số
? Trồng được nhiều cây xanh đem lại tác bằng nhau nên ta có:
x y z z − y 20
dụng gì đối với môi trường?
= = =
=
HS: trả lời.
6 7 8 8−7
1
GV tích hợp: Như ở lớp 6 các em đã biết x = 20.6 = 120
(t/mđk)
lượng khí CO2 mà con người thải ra môi y = 20.7 = 140
trường hàng năm đến 20.000 triệu tấn mà z = 20.8 = 160
tác dụng của cây xanh là hấp thụ khí Vậy số cây trồng được của
cacbonic và nhả ra o xi. Do đó chúng ta lớp 7A là 120 cây, số cây
trồng được càng nhiều cây xanh thì môi trồng được của lớp 7B là 140
trường của chúng ta càng trong sạch.
cây, Số cây trồng được của
lớp 7C là 160 cây.
* Trồng được nhiều cây xanh
sẽ làm trong sạch môi
trường.

3
4
3
3
5
4
2
3
1
3
4
3
5
3
a) Dấu hiệu cần tìm ở đây là gì?
b) Lập bảng tần số.
c) Trung bình mỗi gia đình sử dụng bao
nhiêu bóng đèn tiết kiệm điện.
GV: ? Dấu hiệu ở đây là gì? Từ đó lập bảng
tần số.
HS: thực hiện
? Dựa vào số trung bình cộng em hãy cho
biết mức độ các gia đình sử dụng đèn tiết
kiệm điện hiện nay?
HS: trả lời.
? Việc tiết kiệm điện đem lại tác dụng gì đối
với môi trường?
GV: Chúng ta đã biết nguồn năng lượng
điện mà hiện nay chúng ta đang sử dụng
hầu hết được lấy từ các nhà máy nhiệt điện

- Ra khỏi phòng tắt điện.
- Sử dụng hợp lí ti vi , quạt
điện,..
- Thực hiện nghiêm túc giờ
trái đất.
- Tuyên truyền gia đình và mọi
người tiết kiệm điện.
* Vì vậy việc tiết kiệm năng
lượng điện không những tiết
kiệm tài chính cho gia đình mà
còn thân thiện với môi trường

c) Tiết 52 (Đại số): giá trị của biểu thức đại số.

12


Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung bài học
Bài toán: Theo thống kê mỗi ngày lượng túi
ni lông thải ra môi trường tại Hà Nội là x
(tấn) và Thành Phố Hồ Chí Minh là y (tấn)
a) Viết biểu thức đại số biểu thị tổng lượng
túi ni lông mà hai thành phố thải ra môi
trường.
Bài giải:
b) Tính giá trị của biểu thức đó.
a) Biểu thứcđại số biểu thị tổng
Biết: x = 32 và y = 47
lượng túi ni lông mà hai thành

1070 cây xanh. Hỏi mỗi ngày mỗi đội trồng đội II trồng được là: 150-x
được bao nhiêu cây ?
(cây)
HS: Đọc đề bài.
Vì đội I trồng 5 ngày và đội II
GV: ? Muốn biết mỗi ngày mỗi đội trồng trồng 9 ngày, cả hai đội trồng
được bao nhiêu cây xanh ta làm thế nào?
được 1070 cây xanh nên ta có
HS: trả lời.
phương trình:
5 x + 9(150 − x ) = 1070
GV: ? Em hãy biểu diễn số cây xanh của đội
II trồng được, từ đó ta có pt nào?
⇔ 5 x + 1350 − 9 x = 1070
HS: trả lời.
⇔ −4 x = −320 ⇔ x = 80( t / m )
? Thực trạng rừng của nước ta hiện nay như Vậy: Mỗi ngày đội I trồng
thế nào?
được 80 cây xanh và mỗi ngày
HS: trả lời.
đội II trồng được 70 cây xanh.
GV: ? Để phủ xanh đất trống đồi núi trọc,
13


nhà nước ta đã thực hiện như thế nào?
HS: trả lời.
GV: ? Là một học sinh em phải làm gì để * Kết luận: Trái đất có nhiều
bảo vệ môi trường?
cây xanh thì:

GV: ? Muốn tính mỗi giá điện mức 1 bao
nhiêu tiền ta chọn ẩn như thế nào?
HS: Trả lời.
GV: ? Em hãy tính giá tiền mức 2 và mức 3
theo ẩn?
HS: Trả lời.
GV: Nhận xét
GV: ? Theo em việc tiết kiệm điện đem lại
lợi ích gì?
HS: Trả lời
GV: Nhận xét và bổ sung.

Nội dung bài học
A. Câu hỏi.
B. Bài tập:
Bài 56: (SGK-Tr34)

Bài giải:
Gọi x (đồng) là số tiền mỗi
số điện ở mức thứ nhất. ĐK:
x>0
Mức thứ nhất nhà Cường phải
trả số tiền là: 110.x (đồng)
Mức thứ hai nhà Cường phải trả
số tiền là: 55.(x+150) (đồng)
Mức thứ ba nhà Cường phải trả
số tiền là: 16,5.(x+350) (đồng)
Theo bài ra ta có pt:

110 x + 55( x + 150 ) + 16,5( x + 350 ) = 95700

sóc được 35 cây xanh. Vì chi đội lớp 7B tích xanh mà mỗi chi đội 7B, 8B
cực hơn nên số cây xanh chăm sóc được trồng được.
nhiều hơn chi đội 8B là 9 cây. Tính số cây ĐK: 0 < x, y < 35; x, y ∈ N
xanh mà mỗi đội đã chăm sóc được.
+ vì cả hai chi đội chăm sóc
HS: Đọc đề bài.
được 35 cây xanh nên ta có pt:
GV: ? Muốn tính được số cây xanh mà mỗi x + y = 35 (1)
đội đã chăm sóc được ta làm thế nào?
+ vì số cây xanh chăm sóc được
HS: Trả lời.
của chi đội 7B nhiều hơn chi
GV: ? Cả hai chi đội trồng được bao nhiêu đội 8B là 9 cây nên ta có pt:
x − y = 9 (2)
cây xanh từ đó ta có pt nào?
HS: Trả lời.
Từ (1) và (2) ta có hệ phương
GV: ? Số cây chăm sóc được của đội nào trình
nhiều hơn?
 x + y = 35
 2 x = 44
 x = 22
( t / m)
⇔
⇔

HS: Trả lời.
 x− y =9
 x + y = 35
 y = 13

GV: ? Để biết một mình mỗi nhà máy cần
hoạt động bao lâu thì xong ta phải làm thế
nào?
HS: Trả lời.
GV: ? Cả hai nhà máy xử lí trong 12 giờ thì
xong ta có pt nào?
HS: Trả lời.
GV: ? Nhà máy I hoạt động mấy ngày? nhà
máy II hoạt động mấy ngày? từ đó ta có pt
nào?
HS: Trả lời.
GV: ? Theo em thực trạng rác thải sinh hoạt
hiện nay gây ô nhiễm môi trường như thế
nào?
HS: trả lời.
GV: ? ở gia đình, em đã làm gì để giảm
thiểu rác thải do gia đình thải ra?
HS: Trả lời và giáo viên nhận xét và kết
luận.

c) Tiết 44 (Đại số):

Nội dung bài học
Bài giải:
Gọi x (h) là thời gian một
mình nhà máy I hoàn thành
công việc, và y (h) là thời gian
một mình nhà máy II hoàn
thành công việc.
ĐK: x,y>12.

=1
+
=1
 x
 x
y
y
1
1
 y = 30
 x = 20
⇔
⇔
 y = 30
1 = 1
 x 20

( t/mđk)

Vậy: Thời gian một mình nhà
máy I xử lí xong hết 20 giờ và
nhà máy II hết 30 giờ.
* Kết luận: Để giảm rác thải
của gia đình thì ta phải bỏ rác
đúng quy định và gom rác thải
và phế liệu để xử lí.
Luyện tập giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình:

Hoạt động của giáo viên và học sinh
Sau khi thực hiện xong bài 34 (sgk)

còn rác thải bởi túi ni lông?
HS: Trả lời và giáo viên kết luận vấn đề.

Bài giải:
Gọi x , y lần lượt là số túi ni
lông của gia đình A và B đã sử
dụng trong một tháng.
ĐK: 0 < x; y < 300; x ∈ N
+ Vì số túi ni lông gia đình A đã
sử dụng nhiều hơn hai lần gia
đình B trong một tháng là 30
nên ta có pt:
x − 2 y = 30 (1)
+ vì tổng số túi ni lông cả hai
gia đình đã sử dụng là 300 cái
nên ta có pt: x + y = 300 (2)
Từ (1) và (2) ta có hệ phương
trình
 x + y = 300
 3 y = 270
⇔

 x − 2 y = 30
 x + y = 300
 x = 210
⇔
 y = 90

Vậy: Trong một tháng gia đình
A đã sử dụng hết 210 túi ni

(hs)
(%)

STT

Mức độ nhận thức của học sinh

1

Hiểu rõ tác hại của ô nhiễm môi trường và có ý
thức bảo vệ môi trường

215/215

100

2

Chưa hiểu rõ tác hại của ô nhiễm môi trường và
chưa có ý thức trong việc bảo vệ môi trường.

0/215

0

Năm học: 2015-2016 sau khi tiếp tục áp dụng đề tài vào giảng dạy, cuối năm học
tôi thực hiện khảo sát lần II và thu được kết quả như sau:
STT
1
2

phải dể hiểu, số liệu trong từng bài tập phải phù hợp với thực tế ở địa phương
cũng như thực trạng chỉ số đo được của các nhà khoa học.
- Khi áp dụng đề tài thì yêu cầu học sinh phải thực hiện theo hướng dẫn nghiêm
túc, cẩn thận, có thái độ yêu thích môn học.

C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
18


1. Kết luận:
Đề tài này đã được áp dụng trong hai năm học: 2014 - 2015 và 2015 - 2016 tại
trường THCS Hoằng Trạch - Hoằng Hóa, tôi nhận thấy rằng việc áp dụng đề tài
trong giảng dạy môn toán là một việc làm thiết thực và có ý nghĩa quan trọng
trong việc hình thành kiến thức toán học nói chung và kiến thức bảo vệ môi
trường nói riêng cho học sinh đáp ứng được yêu cầu về giảm thải ô nhiễm môi
trường hiện nay. Khi thực hiện đề tài tôi thấy rằng bài giảng của mình không
những không mất đi tính toán học của bộ môn mà còn gây hứng thú học tập cho
học sinh đồng thời giúp các em học tốt môn toán một cách tự nhiên.
Khi khảo sát hiệu quả của việc áp dụng đề tài thì nhận thức học sinh về kiến
thức bảo vệ môi trường được nâng lên rõ rệt, không những thế các em còn cung
cấp cho gia đình và mọi người xung quanh kiến thức về thực trạng ô nhiễm môi
trường hiện nay và tuyên truyền cho mọi người nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo
vệ môi trường.
2. Kiến nghị:
- Hiện nay việc tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường trong giảng dạy môn toán
gặp nhiều khó khăn, vì vậy mong rằng nhà trường tạo mọi điều kiện thuận lợi để
giáo viên và học sinh thực hiện tốt các giờ dạy trên lớp cũng như các hoạt động
ngoại khoá.
- Đề nghị phòng giáo dục, các cơ quan quản lí giáo dục các cấp quan tâm tạo mọi
điều kiện thuận lợi để giáo viên toán tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status