BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-------&-------
MAI HỒNG KHÁNH
TÍCH HỢP NỘI DUNG PHÒNG, CHỐNG
THAM NHŨNG TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
Ở TRƯỜNG THPT VIỆT BẮC, TP LẠNG SƠN
Chuyên ngành
Mã số
: LL&PP Giảng dạy Giáo dục chính trị
: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Như Hải
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất, trước tiên tôi xin gửi tới PGS.TS. Nguyễn Như Hải người thầy hướng
dẫn trực tiếp của tôi. Trong suốt thời gian làm luận văn tôi đã nhận được sự
giúp đỡ tận tình, chu đáo của thầy.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô
giáo trong khoa Lý luận chính trị- Giáo dục công dân đã luôn giúp đỡ, chỉ
bảo, góp ý cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
HĐGD
CLB
TN
ĐC
Giáo dục
Đào tạo
Bồi dưỡng
Phòng chống tham nhũng
Chủ nghĩa xã hội
Giáo viên
Học sinh
Sinh viên
Giáo dục công dân
Trung học phổ thông
Sách Giáo khoa
Thành phố
Phương pháp dạy học
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động giáo dục
Câu lạc bộ
Thực nghiệm
Đối chứng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỤC LỤC
Biểu hiện của hành vi tham nhũng: Bộ luật hình sự, Luật phòng, chống
chủ trương, quan điểm của Đảng, Chương trình hành động của Chính phủ đã tăng
cường thực hiện Luật PCTN đã giao cho Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Hành chính quốc gia (nay là Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) và các cơ quan chức năng liên quan triển khai
1
việc đưa nội dung PCTN vào chương trình GD, BD, ĐT.
Từ năm học 2013-2014, nội dung PCTN được chính thức đưa vào giảng dạy.
Có thể nói, quá trình dạy học tích hợp nội dung PCTN trong môn GDCD cấp THPT
có nhiều mặt thuận lợi như đội ngũ giáo viên về cơ bản được đào tạo đúng theo quy
định, có kỹ năng sư phạm đã đóng góp quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng
dạy học. Mặt khác, PCTN là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Việc thực hiện dạy
học tích hợp nội dung PCTN trong môn GDCD được triển khai là một bước tiến
mới trong công tác giáo dục pháp luật về PCTN nhằm nâng cao nhận thức và trách
nhiệm của cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên đối với cuộc đấu tranh PCTN.
Bên cạnh những mặt thuận lợi, việc dạy học tích hợp nội dung PCTN trong
môn GDCD cũng gặp phải một số những khó khăn, trở ngại nhất định. Đó là PCTN
luôn là vấn đề nhạy cảm với xã hội, với đối tượng được dạy học ở lứa tuổi HS, SV
vì sự hiểu biết, nhận thức của các em về vấn đề này còn nhiều hạn chế.
Ngoài ra, GV dạy học ở các trường THPT nói chung và của trường THPT
Việt Bắc, thành phố Lạng sơn nói riêng còn gặp khó khăn trong việc lấy dẫn chứng
minh họa cho HS, tranh ảnh, tư liệu…phục vụ dạy và học về nội dung PCTN còn ít;
GV dạy môn GDCD chưa được ĐT, BD chuyên sâu về nội dung PCTN. Đây là những
trở ngại lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả dạy học nội dung PCTN cho HS.
Tất cả những vấn đề nêu ra ở trên đang đòi hỏi phải có sự tổng kết về lí luận,
trải nghiệm trong thực tiễn để làm cơ sở khoa học thiết thực và có hiệu quả cho quá
trình dạy học tích hợp nội dung PCTN trong môn GDCD ở trường THPT Việt Bắc,
tỉnh Lạng sơn nói riêng và trong các trường THPT cả nước nói chung.
Xuất phát từ những đòi hỏi đó mà tôi lựa chọn vấn đề: “Tích hợp nội dung
thực tiễn về tham nhũng, quyền thông tin, học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh về tham nhũng, lãng phí. Đồng thời, nghiên cứu chưa đề cập và
nghiên cứu các nội dung về PPDH và tích hợp nội dung PCTN trong dạy học môn
GDCD.
Hệ thống văn bản quy định và hướng dẫn việc đưa nội dung PCTN vào giảng
dạy tại các cơ sở GDĐT như: Quyết định số 137/2009/QĐ-TTg ngày 2/12/2009 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung PCTN và chương trình GDĐT,
bồi dưỡng; Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc
đưa nội dung PCTN vào giảng dạy tại các cơ sở GDĐT từ năm học 2013-2014;
3
Hướng dẫn số 5571/BGDĐT-TTr ngày 13/8/2013 của Bộ GDĐT về việc hướng dẫn
Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Công văn số 8784/BGDĐTGDTrH ngày 06/12/2013 về việc thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ và bộ Tài liệu giáo dục nội dung PCTN trong môn GDCD cấp THPT.
Các công trình, bài viết như: Tài liệu bồi dưỡng về PCTN (dành cho giáo
viên các trường THPT), Tài liệu tham khảo về PCTN, Sổ tay công tác PCTN, do
Viện Khoa học Thanh tra thuộc Thanh tra Chính phủ biên soạn, Nhà xuất bản chính
trị Quốc Gia (xuất bản năm 2011). Những nghiên cứu này đã cung cấp những kiến
thức cơ bản nhất về tham nhũng, quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về
PCTN, các giải pháp PCTN; góp phần nâng cao năng lực dạy học về PCTN cho đội
ngũ giáo viên trong các trường THPT; giúp người đọc nhận diện được các biểu hiện
về hành vi tham nhũng, những tác hại, nguy cơ, thách thức của tham nhũng và
những nỗ lực chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Qua đó, giúp
cho cán bộ, công chức, HS, SV có những nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng
của công tác PCTN, từ đó có thái độ tích cực tham gia công tác này.
Các nghiên cứu, bài viết trên chủ yếu chỉ ra các vấn đề chung về tham
nhũng, lãng phí, nguyên nhân, biểu hiện, tác hại của tham nhũng, cách thức nhìn
nhận và giải quyết vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các
môn GDCD ở trường THPT. Từ đó, đề xuất các nguyên tắc và biện pháp cơ bản
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tích hợp nội dung đó nhằm góp phần tăng cường
nhận thức, trách nhiệm và xây dựng thái độ, ý thức tự giác cho HS đối với công tác
PCTN ở trường THPT nói chung và trường THPT Việt Bắc, thành phố Lạng Sơn
nói riêng.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Khảo sát tích hợp nội dung PCTN trong chương trình môn GDCD ở trường
THPT.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các PPDH tích hợp nội dung PCTN trong
môn GDCD cấp THPT, thông qua việc khảo sát ở trường THPT Việt Bắc, thành
phố Lạng Sơn.
5. Giả thuyết khoa học
5
Dạy học tích hợp nội dung PCTN trong môn GDCD bằng những phương
pháp dạy học tích cực, phù hợp nếu thành công sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm,
năng lực thực hành pháp luật cho HS trong công tác PCTN.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát cơ sở khoa học của việc tích hợp nội dung PCTN trong chương
trình môn GDCD cấp THPT. Đồng thời, thực hiện việc dạy và học tích hợp nội
dung PCTN trong 7 bài thuộc chương trình môn GDCD lớp 10,11,12 cùng với các
hoạt động ngoại khóa cho HS trường THPT Việt Bắc, thành phố Lạng Sơn. Từ đó,
đề xuất các nguyên tắc và biện pháp nâng cao hiệu quả chất lượng dạy và học nội
dung này.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Tích hợp nội dung PCTN trong dạy học 7 bài thuộc chương trình môn
GDCD ở trường THPT Việt Bắc, thành phố Lạng Sơn” là một đề tài mới. Thông
qua dạy học môn GDCD, GV tích hợp nội dung PCTN trong hoạt động chính khóa
và hoạt động ngoại khóa. Từ đó, hình thành ở HS kiến thức, kỹ năng thực hành, xây
dựng thái độ, ý thức đấu tranh PCTN với trách nhiệm của người công dân (HS hiện
tại và người công dân-cán bộ công chức, viên chức, người lao động) tương lai của
đất nước.
Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, xây
dựng được thái độ, ý thức đấu tranh với nạn tham nhũng trong xã hội cho HS
trường THPT Việt Bắc, thành phố Lạng Sơn.
Mặt khác, cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn chưa có đề tài nào nghiên
cứu về tích hợp nội dung PCTN trong dạy học môn GDCD cho HS THPT. Do đó,
luận văn sẽ cung cấp thêm các luận chứng khoa học cho việc đổi mới PPDH theo
hướng hình thành và phát triển kĩ năng cho HS.
NỘI DUNG
Chương 1
7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍCH HỢP NỘI DUNG PCTN
TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Cơ sở lý luận của tích hợp nội dung PCTN trong dạy học môn GDCD ở
trường THPT
1.1.1. Các quan điểm về tích hợp và dạy học tích hợp, PPDH tích hợp
1.1.1.1. Các quan điểm về tích hợp
Khi đề cập đến quan điểm về tích hợp, trong hoạt động nhận thức đã xuất
hiện nhiều ý kiến khác nhau. Chẳng hạn, theo từ điển Tiếng Việt: Tích hợp là sự kết
hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối
chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp.
dụng tiết kiệm thời gian, công sức. Bởi vì quá trình này loại bỏ được nhiều điều
trùng lặp trong nội dung dạy học cũng như PPDH của những bộ môn gần nhau.
Tích hợp các bộ môn được thể hiện dưới hai hình thức đó là tích hợp dọc và
tích hợp ngang: Tích hợp dọc là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều
môn học thuộc cùng một lĩnh vực gần nhau; Tích hợp ngang là kiểu tích hợp dựa
trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học
khác nhau.
Nếu căn cứ vào hoạt động của Thầy và hoạt động của trò thì tích hợp được
thể hiện dưới hai hình thức đó là tích hợp giảng dạy và tích hợp học tập: Tích hợp
giảng dạy là sự tiến hành quá trình dạy học theo hướng liên kết, lồng ghép những tri
thức khoa học, những quy luật chung gần gũi nhau nhằm trang bị cho người học các
cách nhìn bao quát đối với nhiều lĩnh vực khoa học có chung đối tượng nghiên cứu,
đồng thời nắm được các phương pháp xem xét vấn đề một cách lôgic, biện chứng;
Tích hợp học tập là hành động liên kết học tập cùng một lần những kiến thức khác
nhau và những kĩ năng khác nhau về cùng một chủ đề giáo dục.
Nếu căn cứ vào mục đích của môn học thì tích hợp được thể hiện dưới hai
hình thức đó là tích hợp kiến thức và tích hợp kỹ năng: Tích hợp kiến thức là sự liên
kết, nối liền các tri thức khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống
nhất; Tích hợp kĩ năng là sự liên kết, rèn luyện hai hoặc nhiều kĩ năng thuộc cùng
một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực gần nhau để ghi nhớ và vận dụng.
1.1.1.2. Quan điểm về dạy học tích hợp
9
Dạy học tích hợp (được UNESCO định nghĩa) là cách trình bày các khái
niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt thống nhất, cơ bản các tư tưởng khoa
học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau.
Định nghĩa này chú ý tập trung cách tiếp cận các khái niệm và nguyên lý khoa học
chứ không phải là hợp nhất nội dung.
định hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân
hóa người học. Dạy học lấy người học là trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của
hoạt động học phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của
chính mình. Người học không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong
bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn,
cụ thể và sinh động của nghề nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần
khám phá học để hành, hành để học, tức là tự tìm kiếm kiến thức cho bản thân. Dạy
học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy người học là trung tâm. Đây là xu hướng
chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống.
Đặc điểm cơ bản nhất, có ý nghĩa trung tâm của đào tạo nghề theo năng lực
thực hiện là định hướng chú ý vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo xem người
học có thể làm được cái gì vào những công việc thực tiễn để đạt tiêu chuẩn đầu ra.
Người học đạt được những đòi hỏi đó còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người.
Trong đào tạo, việc định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng trong quá
trình đào tạo, cho phép người sử dụng sản phẩm đào tạo tin tưởng và sử dụng trong
một thời gian dài.
Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của người học để vận dụng
vào công việc tương lai nghề nghiệp sau này, đòi hỏi quá trình học tập phải đảm
bảo chất lượng và hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ. Từ những kết quả đầu ra đi
đến xác định vai trò của người có trách nhiệm tạo ra kết quả đầu ra này, một vai
trò tập hợp các hành vi được mong đợi theo nhiệm vụ, công việc mà người đó sẽ
thực hiện thật sự.
Dạy học tích hợp do định hướng kết quả đầu ra nên phải xác định được các
năng lực mà người học cần nắm vững, sự nắm vững này được thể hiện ở các công
việc nghề nghiệp theo tiêu chuẩn đặt ra và đã được xác định trong việc phân tích
nghề khi xây dựng chương trình.
11
12
nhũng năm 2005. Theo đó, “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền
hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.
Đặc trưng của tham nhũng: theo các quy định của pháp luật hiện hành, tham
nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau:
Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn: người có chức vụ, quyền
hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ
sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kĩ thuật trong cơ quan, đơn vị
thuộc công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà
nước; cán bộ lãnh đạo, quản lí là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại
doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi
thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao: Đây là đặc trưng
thứ hai của tham nhũng. Chủ thể tham nhũng phải sử dụng "chức vụ, quyền hạn của
mình như một phương tiện để thực hiện hành vi sai trái". nhằm mang lại lợi ích cho
mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Một người có chức vụ, quyền hạn
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vì động cơ vụ lợi nhưng hành vi đó không lợi
dụng chức vụ, quyền hạn thì không coi là tham nhũng (ví dụ như hành vi trộm cắp).
Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi: Mục đích của hành vi tham nhũng
phải là mục đích vụ lợi. Vụ lợi là lợi ích vật chất (tiền, nhà, đất, các vật có giá trị...)
hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn mong muốn đạt được từ việc
thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình. Lợi ích đó có thể cho
mình, cho gia đình mình hoặc người thân của mình.
Biểu hiện của hành vi tham nhũng: Bộ luật hình sự, Luật phòng, chống tham
nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã phân loại tham nhũng theo hành
vi. Theo đó, những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng:
1. Tham ô tài sản.
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi là
cá nhân vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm
trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân.
14
Lạm quyền trong khi thi hành công vụ: Lạm quyền trong khi thi hành công vụ
là cá nhân vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình
làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi. Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng của người khác để trục lợi là cá nhân lợi
dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền,
tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây hậu quả nghiêm
trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của
mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc
trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không
được phép làm.
Giả mạo trong công tác: Hành vi thứ 8 đến hành vi thứ 12 mới được bổ sung
do đây là những hành vi đã phát sinh và đang trở nên phổ biến trên thực tế, cần
được quy định cụ thể làm cơ sở pháp lí cho việc xử lí. Tuy nhiên, không phải mọi
hành vi tham nhũng đều bị xử lí về hình sự mà chỉ những hành vi hội đủ các dấu
hiệu cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự thì mới được xác định là tội
phạm và bị xử lí bằng biện pháp hình sự (các hành vi được quy định từ khoản 1 đến
khoản 7 Điều 3 của Luật) còn những hành vi khác (từ khoản 8 đến khoản 12 Điều 3
của Luật) được xác định là hành vi tham nhũng nhưng chưa cấu thành tội phạm thì
được xử lý bằng biện pháp kỷ luật.
xảy ra tham nhũng. Tham nhũng nảy sinh bởi nguyên nhân khách quan và chủ
quan:
Nguyên nhân khách quan
Quá trình chuyển đổi cơ chế, tồn tại và đen xen giữa cái mới và cái cũ, các
chuẩn mực giá trị không rõ ràng tạo điều kiện cho không ít đối tượng lợi dụng danh
nghĩa đổi mới, năng động, sáng tạo để chiếm đoạt tài sản nhà nước, lợi dụng chủ
trương xã hội hóa một số lĩnh vực để "thương mại hóa", thu lợi ích tối đa cho cá
nhân hoặc một nhóm người, thậm chí một cơ quan, đơn vị hay một địa phương.
Ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường, sự cạnh tranh và việc đề cao quá
mức giá trị đồng tiền làm cho người sản xuất kinh doanh có xu hướng tối đa hóa lợi
nhuận bằng mọi giá, tìm cách hối lộ công chức nhà nước để tạo lợi thế trong kinh
16
doanh. Trong kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt, các giá trị
xã hội bị đảo lộn, mọi người đều bị sức ép của việc kiếm thật nhiều tiền, xuất hiện
tâm lí mọi việc đều có thể mua bán.
Do ảnh hưởng của tập quán văn hóa, một số nét văn hóa như "miếng trầu là
đầu câu chuyện", đạo lí "ăn quả nhớ người trồng cây"... đã và đang bị lợi dụng để
thực hiện hành vi tham nhũng.
Nguyên nhân chủ quan
Hệ thống chính trị chậm được đổi mới, hoạt động của bộ máy nhà nước kém
hiệu quả. Đây là một trong những nguyên nhân gây nên sự yếu kém và bất cập của
quá trình đổi mới đất nước, tạo điều kiện phát sinh tham nhũng.
Phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị suy thoái, công tác
quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên yếu kém. Điều này đã được đánh giá trong
nhiều văn kiện của Đảng.
Cơ chế chính sách pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, việc
phân cấp quản lí giữa Trung ương và địa phương, phân biệt quản lí nhà nước và
Tác hại về chính trị
Tham nhũng là trở lực đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn
lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất
nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, tình hình tham nhũng ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng, đáng báo
động. Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự
án lớn mà còn xuất hiện nhiều trong các cấp chính quyền cơ sở - là cơ quan tiếp xúc
với nhân dân hàng ngày, giải quyết những công việc liên quan trực tiếp đến lợi ích
của nhân dân.
Tác hại nguy hiểm của tệ tham nhũng, lãng phí ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về kinh tế, xã hội hoặc một nhiệm
vụ quản lí nhất định của Nhà nước. Tổng quát hơn, sự nghiệp cách mạng xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Nhân dân
chính là động lực, chủ thể, mục đích của cách mạng.
Tác hại về kinh tế: Tham nhũng gây thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước,
của tập thể và của công dân.
Ở nước ta, trong thời gian qua, nạn tham nhũng diễn ra trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tiền, thời gian,
công sức của nhân dân. Giá trị tài sản bị thiệt hại, bị thất thoát liên quan tới tham
nhũng của mỗi vụ lên tới hàng chục, hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn tỷ đồng. Đó
18
là những con số lớn và đáng lo ngại so với số thu ngân sách hàng năm của nước ta.
Hậu quả của hành vi tham nhũng không chỉ là việc tài sản, lợi ích của Nhà nước,
của tập thể hoặc của cá nhân bị biến thành tài sản riêng của người thực hiện hành vi
tham nhũng, mà nguy hiểm hơn, hành vi tham nhũng còn gây thiệt hại, gây thất
thoát, lãng phí một lượng lớn tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân.
Tác hại về văn hóa, xã hội
thể. Theo Tài liệu giáo dục nội dung PCTN trong môn GDCD cấp THPT ban hành
kèm theo công văn số 8784/BGDĐT-GDTrH của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo ngày 06 tháng 12 năm 2013 được thể hiện trong các bài sau đây:
Lớp
10
Tên bài
Bài 10.
Quan
niệm về
đạo đức
Địa chỉ
tích hợp
Tích hợp vào
điểm a mục 1
" Đạo đức là
gì?"
Nội dung tích hợp
Ghi chú
Về kiến thức:
- Người có hành vi tham
nhũng chà đạp lên lợi ích
của Nhà nước và công
dân, là người không có
đạo đức.
- Khái niệm tham nhũng.
đức
Tích hợp vào
điểm a mục 2
"Lương tâm là
gì?"
Về kiến thức:
Người tham nhũng phải
sống trong trạng thái cắn
rứt lương tâm, hoặc không
cắn rứt lương tâm, không
ăn năn, hối hận, nhưng
đều phải sống trong trạng
thái không thanh thản.
Về kỹ năng:
Phân biệt trạng thái lương
tâm của người tham
nhũng với người không
tham nhũng.
Về thái độ:
20
Ví dụ: Người có
hành vi tham
nhũng nếu còn
thấy cắn rứt
lương tâm là
người còn có