SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
SÁNG KIÊN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ NHẰM TẠO
HỨNG THÚ VÀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐẠO ĐỨC
DÂN TỘC CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRONG DẠY- HỌC
MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
Người thực hiện: Trần Thị Vân
Tổ : Sử - Địa – GDCD
SKKN Thuộc môn: GDCD
THANH HOÁ NĂM 2013
A. ĐẶT VẤN ĐỀ :
I. LỜI NÓI ĐẦU :
Đổi mới phương pháp dạy – học là một khâu rất cần thiết của giáo dục
hiện nay. Làm thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy – học, đó là
câu hỏi luôn trăn trở đối với mỗi giáo viên đứng trên bục giảng có tâm huyết.
Mục đích cuối cùng của giáo dục là : “Giúp cho học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân
cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…”
( Trích điều 23 – luật GD năm 2005 )
Để thực hiện được điều đó, các môn học, các hoạt động giáo dục trong
nhà trường đều có ý nghĩa, vai trò nhất định. Trong đó môn GDCD giữ vai trò
quan trọng và trực tiếp trong việc giáo dục đạo đức, phát triển tâm lực và nhân
cách người Việt Nam. Giáo dục đạo đức cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan
trọng của chương trình giảng dạy môn GDCD bậc THPT. Nhiệm vụ của phần
này là trang bị cho học sinh một hệ thống những tri thức về đạo đức, trên cơ sở
đó mà giáo dục truyền thống dân tộc và phát triển các phẩm chất đạo đức người
công dân, người lao động trong xã hội mới. Hiện nay nhiều người cho rằng giáo
dục đạo đức là một nội dung giảng dạy tương đối dễ vì ít nhiều học sinh đã học
ở các lớp dưới, ở các môn học xã hội khác và tự học hỏi từ thực tiễn cuộc sống.
Nhưng thực tế không phải vậy, bởi vì chúng ta biết rằng, đạo đức là toàn bộ
hoài bão bằng con đường thi cử.
- Phụ huynh và học sinh đa số chỉ chú tâm đầu tư cho những môn học mà
các em sẽ thi tốt nghiệp, thi vào chuyên nghiệp, còn môn GDCD bị các em coi
nhẹ, các em không học bài cũ, không chuẩn bị bài mới, khi giáo viên đưa ra một
yêu cầu nào đó cho học sinh về nhà làm thì các em không làm hoặc có làm cũng
mang tính đối phó, qua loa, chiếu lệ.
- Mặt khác GDCD là môn khoa học xã hội kiến thức môn học khá rộng
nó liên quan đến đạo đức, pháp luật, triết học, kinh tế, chính trị - xã hội nên rất
“khô khan”, trừu tượng, khó hiểu, do vậy học sinh không hứng thú học, hiệu quả
dạy- học GDCD không cao.
- Từ việc không học môn GDCD nên nhiều học sinh có dấu hiệu sa sút
nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, ý thức chấp hành
pháp luật kém, mất niềm tin vào người khác, sống không có lý tưởng, sống vô
cảm với mọi người, không có chính kiến của mình nên dễ bị lôi kéo vào những
việc xấu và các tệ nạn xã hội như: gây bè phái đánh nhau, không tôn trọng người
già, vô lễ với giáo viên, nghiện ma túy, mại dâm, lô, đề, bài bạc, game, chat…
2.2 Về phía chủ quan:
Do quan niệm của học sinh và nhiều người trong xã hội cho rằng: “Thi gì
học nấy, không thi không học”, môn GDCD không đưa vào các kỳ thi nên nó bị
3
coi là môn phụ học sinh không học. Vai trò của môn GDCD từ trước đến nay
đang bị lu mờ, chưa được mọi người nhìn nhận một cách đúng đắn như nó vốn
có. Từ chỗ học sinh chán không học bị nhiều người xem nhẹ dẫn đến giáo viên
cũng chán không muốn dạy, đa số giáo viên không tâm huyết với nghề nên chưa
đầu tư xứng đáng cho môn học. Giáo viên vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức
theo kiểu thuyết trình, giảng giải, ít phát huy tính tích cực và phát triển tư duy
chỉ khai thác những thông tin có sẵn trong sách giáo khoa, chưa chịu tìm tòi mở
rộng.
Rút kinh nghiệm ở các khóa trước, trong quá trình giảng dạy cho học sinh
các lớp 10B1, 10B2, 10B3, 10B4, 10B5, 10B6 năm 2012 - 2013. Bên cạnh
đức bản thân. Trong rất nhiều phương pháp, tôi đã vận dụng phương pháp mới "
Sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ ". Bởi ca dao, tục ngữ là một thành phần văn
học mà các em đang được học trong chương trình ngữ văn lớp 10. Hơn nữa đây
là sản phẩm tinh thần của nhân dân lao động, các em đã được tiếp cận qua bà,
qua mẹ từ khi còn thơ bé, hàng ngày nhân dân lao động cũng thường hay ứng
dụng trong cuộc sống.
2. Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu là học sinh khối 10 trường THPT Như Thanh năm
học 2012 – 2013. Phạm vi nghiên cứu SGK GDCD lớp 10.
3. Phương pháp nghiên cứu :
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu của phép biện chứng duy vật như:
Phân tích, tổng hợp, so sánh, logic, trao đổi ý kiến với giáo viên trong nhóm, đặc
biệt trú trọng phương pháp sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào giảng dạy.
Đây cũng là phương pháp "Tích hợp" - một trong những phương pháp đổi mới
dạy - học mà Bộ giáo dục và đào tạo đang ứng dụng.
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Hướng dẫn học sinh hiểu và làm quen với phương pháp “Sử dụng ca dao, tục
ngữ, thành ngữ” vào giảng dạy GDCD lớp 10, giáo viên phải thực hiện các bước
sau :
Bước 1 : Giáo viên và học sinh sưu tầm, chuẩn bị các câu ca dao, tục ngữ,
thành ngữ có nội dung phù hợp để đưa vào bài học.
Bước 2 : Học sinh lắng nghe và trình bày những câu ca dao, tục ngữ mà
mình đã sưu tầm bằng các hình thức ngâm, đối đáp, sau đó giáo viên yêu cầu
học sinh phân tích và phát biểu cảm nghĩ của mình.
Bước 3 : Giáo viên theo dõi, lắng nghe và tổng hợp ý kiến của học sinh
trả lời đồng thời xem xét, bổ sung thông qua hình thức trò chơi chia lớp thành
các tổ, nhóm cùng sưu tầm theo một chủ đề mà giáo viên đưa ra.
5
Bước 4: Yêu cầu học sinh rút ra bài học về nhận thức, hành động, tình
cảm qua hình thức phát biểu, viết bài luận và tham gia ngoại khoá.
Vd 2 : Để giới thiệu bài 10 “quan niệm về đạo đức” giáo viên có thể sử
dụng ngay câu thành ngữ : “Tiên học lễ, hậu học văn”. Vì câu thành ngữ này rất
6
quen thuộc với mỗi học sinh nên tôi đặt câu hỏi luôn : "Nội dung câu thành ngữ
trên nói điều gì? ".
Giáo viên chỉ định học sinh trả lời sau đó kết luận : “Lễ” ở đây được hiểu
là đạo đức, còn “Văn” là kiến thức văn hóa. Câu thành ngữ này nhằm khẳng
định đạo đức giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong sự phát triển nhân cách và trí
tuệ của con người. Thế đạo đức là gì ? Đạo đức có vai trò như thế nào trong sự
phất triển của cá nhân, gia đình và xã hội ? Để trả lời những câu hỏi trên cô trò
ta cùng tìm hiểu bài 10.
Vd 3 : Giới hiệu bài 7 SGK “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức” giáo viên có thể dùng các câu thành ngữ sau :
“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.
“Đi ra biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”.
Giáo viên đặt câu hỏi : Em hiểu nội dung hai câu thành ngữ trên muốn
nói điều gì ? Cũng như các ví dụ trên giáo viên chỉ định học sinh trả lời, gọi học
sinh khác bổ sung và sau đó kết luận. Hai câu thành ngữ trên muốn nói lên vai
trò quan trọng của thực tiễn đối với nhận thức con người. Nếu không có thực
tiễn thì con người sẽ không có nhận thức đúng đắn, sâu sắc. Thế thực tiễn là gì ?
Thế nào là nhận thức ? Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức như thế nào ? Ta
cùng đi nghiên cứu bài 7.
2.3. Sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong quá trình truyền thụ kiến
thức cơ bản đồng thời giáo dục truyền thống đạo đức của dân tộc cho học
sinh.
Vd 1 : Khi giảng dạy phần 2a của bài 13 : “Nhân nghĩa” để học sinh hiểu
rõ nội dung này, giáo viên đưa ra câu hỏi vấn đáp: Em hiểu như thế nào là nhân
nghĩa ?
Học sinh trả lời : “Nhân” là lòng thương người, “Nghĩa” là điều được
- Ăn cháo đá bát.
- Giả nhân giả nghĩa.
- Ngậm máu phun người.
- Ghét người yêu của.
- Trách người một trách ta mười.
Bởi ta bạc trước cho người tệ sau.
- Ai mà phụ nghĩa quên công
Đeo trăm cành hồng cũng chẳng thấy thơm…
Để phát huy truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, học sinh cần phải biết
quan tâm chia sẻ nhường nhịn mọi người như thầy cô, bạn bè, hàng xóm láng
giềng. Biết cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn hoạn
nạn, tích cực tham gia các hoạt động uống nước nhớ nguồn đền ơn đáp nghĩa,
hoạt động nhân đạo do trường, do cộng đồng tổ chức như : Hiến máu nhân đạo,
giúp đỡ các bạn học sinh nghèo vượt khó, mua tăm tre ủng hộ người mù, ủng hộ
nạn nhân chất độc da cam, đồng bào bị thiên tai…
Vd 2 : Khi giảng dạy bài 12 “Công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình”
8
Giáo viên đặt câu hỏi : em quan niệm về tình yêu như thế nào ? Hãy sưu
tầm những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ nói về tình yêu đôi lứa.
Hỏi : Giáo viên gọi một số học sinh đứng lên trình bày quan điểm của mình về
tình yêu và đọc các câu mà mình đã sưu tầm.
Học sinh sẽ trả lời : Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa
hai người khác giới. Ở họ có sự phù hợp về nhiều mặt làm cho họ có nhu cầu
gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho
nhau cuộc sống của mình. Học sinh đã sưu tầm được một số câu ca dao, tục ngữ
nói về tình yêu nam nữ:
- Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Học sinh trả lời:
a. Quan hệ vợ – chồng:
Giáo viên lại tiếp tục đặt câu hỏi phụ: Vợ chồng có nghĩa vụ, trách nhiệm
với nhau như thế nào ? Em hãy đọc các câu ca dao, tục ngữ nói lên quan hệ đó ?
Học sinh trả lời: Quan hệ vợ chồng dựa trên cơ sở tình yêu và được pháp
luật thừa nhận. Vợ chồng phải có trách nhiệm chung thủy, yêu thương, quý
trọng, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến
bộ.
Các câu nói về quan hệ vợ chồng như :
- Thuận vợ, thuận chồng, tát biển đông cũng cạn.
- Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.
- Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
- Vợ chồng là nghĩa tao khang
Chồng hòa, vợ thuận nhà thường yên vui
Sinh con mới ra thân người
Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.
- Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười hớn hở : Rằng anh giận gì?
- Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa, một đời không khê.
- Xấu xa cũng thể chồng ta
Dù cho tốt đẹp cũng ra chồng người .
- Tay nâng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau…
10
b. Quan hệ cha mẹ với con cái:
Giáo viên đọc câu hỏi : Cha mẹ phải có trách nhiệm thế nào với con cái
và ngược lại ? Đọc những câu nói lên mối quan hệ này
Học sinh trả lời: Anh chị em phải có trách nhiệm thương yêu, đùm bọc,
biết bảo ban, chăm sóc giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
11
Các câu ca ngợi tình cảm anh chị em với nhau như :
- Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.
- Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
- Anh em đóng cửa bảo nhau.
- Chị ngã em nâng.
- Anh em như tre cùng khóm
Chị em gái như trái cau non.
- Anh em ăn ở thuận hòa
Chớ điều chênh lệch người ta chê cười…
Phần này ngoài làm rõ khái niệm gia đình, mối quan hệ các thành viên
với nhau thì học sinh phải biết áp dụng những kiến thức đã học vào gia đình
mình để cư xử với nhau cho đúng mực, các em phải biết cố gắng học tập và rèn
luyện đạo đức bản thân để trở thành người con ngoan, có hiếu với ông bà, cha
mẹ.
Vd 4 : Giảng dạy phần 3 bài 11: “Nhân phẩm và danh dự”
Giáo viên đặt câu hỏi : Em hãy đọc những câu ca dao, tục ngữ nói về
nhân phẩm và danh dự con người.
Học sinh đã sưu tầm được những câu sau :
- Đói cho sạch rách cho thơm.
- Giấy rách phải giữ lấy lề.
- Chết đứng hơn sống quỳ.
- Chết vinh còn hơn sống nhục.
- Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
- Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.
- Ăn một miếng, tiếng một đời.
đoàn kết, tranh giành nhau vì mục đích trục lợi cá nhân hoặc một nhóm người.
Qua bài học này giáo viên giáo dục truyền thống hợp tác của cha ông ta cho học
sinh, các em biết vận dụng hợp tác trong học tập, qua việc học nhóm để những
bạn học tốt có thể giúp đỡ, dìu dắt những bạn học kém hơn.
- Như vậy với việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào quá trình
truyền thụ kiến thức cơ bản, giáo viên đã khơi dậy được tính tích cực, chủ động,
tự giác tiếp thu được những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, góp phần
khắc phục tình trạng lười học môn GDCD của học sinh.
2.4. Sử dung ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong việc củng cố bài học và kiểm tra
đánh giá.
Sau khi giúp học sinh tìm hiểu xong các giá trị truyền thống đạo đức dân
tộc, giáo viên tiếp tục sử dụng một số câu nhằm củng cố, kiểm tra kiến thức,
kiểm tra khả năng liên hệ thực tiễn của các em như:
13
- Nhường cơm sẻ áo.
-Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng.
Nhuỵ vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
- Yêu nhau cởi áo cho nhau.
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay.
Hỏi : Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình khi đọc các câu trên và hãy nêu biểu
hiện trái với truyền thống đó cần được lên án, phê phán trong xã hội ta hiện nay.
3. Đối chiếu, so sánh phương pháp dạy học mới với phương pháp dạy học cũ.
Phương pháp dạy học cũ Phương pháp dạy học mới
- Mục đích: Trang bị cho học sinh
những kiến thức cơ bản có hệ thống
trong SGK.
- Ưu điểm của phương pháp cũ. Học
sinh chỉ cần nắm vững kiến thức trong
học, các em còn đầu tư nhiều thời gian
để đọc, tìm hiểu các tài liệu tham khảo,
14
- Kết quả: Giảng dạy theo phương
pháp cũ hầu hết học sinh đều nắm
được những kiến thức cơ bản nhưng để
giáo dục truyền thống đạo đức cho học
sinh thì gặp rất nhiều khó khăn.
thu thập các thông tin và phải có sự
hiểu biết nhất định về kiến thức xã hội.
- Kết quả: Hầu hết học sinh nắm vững
kiến thức bộ môn một cách sâu sắc và
toàn diện. Học sinh rất tích cực, chủ
động trong quá trình học tập, đồng thời
các em biết trân trọng, biết kết thừa
những giá trị thuyền thống đạo đưc tốt
đẹp của cha ông ta.
C. KẾT LUẬN
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
1. Kết quả : Qua 13 năm giảng dạy tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau và đã mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên dạy học là một ngành
luôn đòi hỏi sự sáng tạo ? Mỗi khoá học đi qua người thầy lại tìm thêm được
những phương pháp dạy mới hay hơn, sáng tạo hơn dựa trên kinh nghiệm từ
thực tiễn. Chính bởi vậy được nhà trường, nhóm chuyên môn phân công dạy các
lớp 10B1 đến 10B6 năm nay, bên cạnh những phương pháp dạy học truyền
thống tôi đã vận dung thêm chuyên đề "Sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ" và
đã đạt được những kết quả khả quan.
Thông qua phương pháp dạy - học mới này giúp học sinh hứng thú hơn
trong học tập, tạo cho các em một phương pháp học mới hiện nay là tự học, tự
tìm tòi, tự sáng tạo và đưa ra quan điểm chính kiến của mình. Đây cũng là một
Lớp Sĩ số
Số học sinh
hứng thú với
môn học
Số học sinh
có thái độ
bình thường
Số học sinh
không hứng
thú với môn
học
10B1 49 37,8% 44,8% 13,4%
10B3 47 45% 35% 20%
10B6 45 30,2% 46,5% 23,3%
II. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
1. Đối với Bộ và Sở Giáo dục - Đào tạo:
Nghiên cứu xem xét để đưa môn GDCD vào các kỳ thi do Bộ và Sở tổ
chức như: Thi vào 10, thi tốt nghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng, Trung học
chuyên nghiệp để học sinh chú trọng, để mọi người trong xã hội, đặc biệt là phụ
huynh học sinh thấy được tầm quan trọng của môn GDCD từ đó để đôn đốc con
em mình học tập một cách tích cực.
Hàng năm Sở Giáo dục - đào tạo Thanh Hoá nên mở nhiều hơn những
chuyên đề về cải tiến phương pháp dạy - học môn GDCD để tất cả các giáo viên
chuyên ngành đi tiếp thu. Sở GD&ĐT nên lựa chọn một số giáo viên có năng
lực chuyên môn cao, lại có kinh nghiệm giảng dạy ở các trường chất lượng cao
trong tỉnh truyền đạt những kinh nghiêm, những sáng kiến mới để giáo viên
được học tập.
2 Đối với nhà trường và tổ chuyên môn:
Nên xây dựng hệ thống tư liệu tham khảo đầy đủ, phong phú hơn để giáo
viên có tài liệu tham khảo. Mỗi giáo viên phải xây dựng cho mình thói quen đọc