I. MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài
Nước ta đang trên con đường đổi mới toàn diện xây dựng một đất nước công
nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước
nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp,nông nghiệp hiện đại ứng
dụng khoa học tiên tiến có chính xác có hiệu qủa cao và hội nhập với cộng đồng
quốc tế. Để đạt được mục tiêu trên thì yếu tố đào tạo nguồn tri thức khoa học kỹ
thuật cho thế hệ trẻ là nhân tố quyết định hàng đầu của việc đổi mới đất nước .
Điều này đặt ra những yêu cầu mới của hệ thống giáo dục nước ta hiện nay là “Xây dựng mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình , phương pháp giảng dạy
cũng như đánh giá chất lượng của ngành giáo dục và đào tạo .Cụ thể, Bộ
GDĐT đã thay kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học cao
đẳng bằng kỳ thi bằng kỳ thi THPT quốc gia”
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó thì việc đổi mới nội dung và phương
pháp giảng dạy cũng như phương pháp đánh giá là một việc làm mang tính cấp
thiết, để đạt được hai mục tiêu cơ bản:
- Một là phải phát huy được tính tích cực trong học tập, hình thành, phát triển
năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong đời sống
của học sinh.
-Hai là xuất phát từ những đổi mới trong việc đánh giá chất lượng và thi cử
của Bộ GDĐT thì phải thực hiện tốt các mục đích dạy học đối với tất cả học
sinh, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa năng lực, phát huy tốt sở trường,
sở thích của mỗi cá nhân học sinh để các em hướng tới con đường lập thân lập
nghiệp tuỳ thuộc vào khả năng, lực học của mình để lựa chọn các kỳ thi.
Muốn đạt được các mục tiêu đó, trong quá trình dạy học phải lựa chọn phương
pháp phù hợp với nội dung dạy học cho từng đối tượng học sinh vùng, miền và
đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình và yếu kém nhằm tích cực hoá nhận
thức hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực hoạt động sáng tạo cho
mỗi đối tượng học sinh. Các mục đích đó sẽ đạt được nếu áp dụng một cách
1
vấn đề phần hoá học hữu cơ Hoá học lớp 11 THPT
I.6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về nhận thức và tính tích cực nhận thức.
- Nghiên cứu nội dung các chương hoá học hữu cơ lớp 11 ban cơ bản
- Điều tra thực tiễn: điều tra cơ bản về năng lực tư duy của học sinh.
- Trao đổi kinh nghiệm với giáo viên hoá học trong và ngoài trường.
-Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đề phần hoá học
hữu lớp 11 THPT cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Thực nghiệm sư phạm và xử lí kết quả.
I.7. Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng hệ thống bài tập phân hoá nêu vấn đề
đảm bảo tính khoa học, lôgic
về nội dung và cấu trúc, phù hợp với từng đối tượng học sinh sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả dạy và học Hoá học nói chung, phần hoá học hữu cơ lớp 11 THPT
nói riêng
II. NỘI DUNG
II.1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ DẠY HỌC PHÂN HOÁ -NÊU VẤN ĐỀ
II.1.1 Dạy học phân hoá
II.1.1.1 Khái niệm:
Dạy học phân hoá xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa sự thống nhất và
sự phân hoá, tức là thể hiện sự kết hợp giữa hoạt động “đại trà” với giáo dục
“mũi nhọn” giữa “phổ cập” với “nâng cao” trong dạy học ở trường phổ thông
và nó được tiến hành theo tư tưởng chủ đạo sau:
- Lấy trình độ phát triển chung của học sinh làm nền tảng. Nội dung và phương
pháp trước hết phải phù hợp với trình độ và điều kiện chung của từng đối tượng
học sinh.
- Sử dụng những biện pháp phân hoá giúp học sinh yếu kém vươn lên trình độ
chung, tránh đươc sự mặc cảm tự ti ,chán nản của các em, đồng thời khích lệ
được các học sinh khá giỏi có khả năng tìm tòi phát hiện một số vấn đề cụ thể.
Các cách dạy học này dựa vào “vùng phát triển gần nhất” của học sinh tức là
*Phân hoá trong cùng một lớp:
Trong một lớp gồm nhiều cá thể khác nhau, khác nhau về trình độ nhận thức,
4
khác nhau về đặc điểm tâm sinh lý, mỗi học sinh là một chủ thể nhận thức khi có
cùng tác động sư phạm vào các học sinh khác nhau sẽ có các phản ứng khác
nhau. Sự phản ứng khác nhau đó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực ảnh
hưởng đến quá trình dạy học. Do đó người giáo viên cần có sự “phân biệt hoá,
cá thể hoá” làm trong quá trình dạy học phát huy được tính tích cực, hạn chế tối
đa mặt tiêu cực của sự khác nhau đó, đồng thời tạo điều kiện để học sinh phát
huy ở mức độ cao nhất. Muốn vậy người giáo viên cần nắm mục tiêu, hiểu tâm
lý của mỗi học sinh, của từng lứa tuổi học sinh và xác định tương lai công việc
lập nghiệp của học sinh.
Tóm lại từ yêu cầu xã hội đối với người lao động là giống hoặc khác nhau,
từ sự giống và khác nhau về trình độ và việc phát triển nhân cách từng học sinh
đòi hỏi quá trình dạy học thống nhất cùng với những biện pháp phân hoá nội tại.
dạy học phân hoá cần phải xây dựng kế hoạch lâu dài, cụ thể.
*Phân hoá bài nội dung bài giảng : Khi phân hóa các bài giảng trên lớp cần
lưu ý một số đặc điểm sau:
- Phân hoá nội dung, phương pháp phù hợp với trình độ của mỗi đối tượng học sinh.
- Phân hoá yêu cầu về khả năng tư duy độc lập, bài giảng dành cho đối tượng
học sinh yếu kém chứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh dễ tiếp nhận kiến thức
*Phân hoá bài tập về nhà: Khi phân hoá bài tập về nhà cần lưu ý :
- Phân hoá số lượng bài tập cùng loại phù hợp với đối tượng để đạt cùng một
yêu cầu.
- Phân hoá nội dung phù hợp với trình độ của mỗi học sinh.
- Phân hoá yêu cầu về mặt tính độc lập, bài tập cho đối tượng học sinh yếu kém
chứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh suy nghĩ làm bài tập ở mức cao hơn.
- Ra riêng bài tập tạo tiền đề xuất phát cho học sinh yếu kém để chuẩn bị những
- Phân hoá về nội dung và mức độ phức tạp của vấn đề nghiên cứu. Mỗi vấn đề
nghiên cứu có thể được phân hoá thành các câu hỏi và bài tập có mức độ khó
tăng dần để phù hợp với từng đối tượng và cá thể học sinh, đó là các mức độ:
+ Tái hiện kiến thức
+ Phân tích - so sánh
+ Vận dụng sáng tạo kiến thức trong tình huống mới .
6
b.Yếu tố nêu vấn đề trong dạy học phân hoá
Ưu điểm chính của dạy học nêu vấn đề là phát huy tính tích cực, tự lực tìm kiếm
tri thức của học sinh thông qua quá trình hình thành kỹ năng phát hiện và giải
quyết vấn đề học tập. Còn ưu điểm của dạy học phân hoá là vừa sức và sát đối
tượng trong giáo dục. Vai trò của dạy phân hoá và việc sử dụng các bài tập phân
hoá sẽ được phát huy tính tích cực hơn nhiều nếu biết áp dụng các yếu tố của
dạy học nên vấn đề. Bởi vì, nếu như đặc tính nêu vấn đề của dạy học thúc đẩy
hoạt động hoá tư duy của học sinh thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điều
kiện thuận lợi để áp dụng dạy học nêu vấn đề vào việc nghiên cứu tài liệu và cả
những bài ôn tập tổng kết “nếu như tính vấn đề của việc dạy học làm hoạt động
hoá nhận thức của học sinh, kích thích các trạng thái tâm lý như ham muốn
hiểu biết và ham học hỏi thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điều kiện để sử
dụng các cảm xúc tích cực này vào thực tiễn của quá trình dạy học”. Và nếu
như trong dạy học truyền thống việc tổ chức giờ học chỉ giúp học sinh tái hiện
kiến thức, học thuộc nội dung chương trình SGK hoặc rèn luyện kỹ năng giải
bài tập theo các mẫu bài quen thì việc tổ chức dạy học nêu vấn đề có sử dụng
các bài tập phân hoá trong giờ học sẽ dẫn học sinh vào tình huống mà học cần
khái quát hoá kiến thức ở mức độ mới. Kết luận mang tính suy luận trong phạm
vi toàn bộ chương trình và ở những bài mang tính chất nghiên cứu.
II.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP
THEO PHƯƠNG PHÁP PHÂN HÓA -NÊU VẤN ĐỀ Ở CÁC TRƯỜNG
- Sử dụng các phương pháp thuyết trình tái hiện - thông báo và thuyết trình
giải thích để dạy các nội dung khó và phức tạp.
- Sử dụng phương pháp trực quan (thí nghiệm ở mức độ đơn giản) với hình
thức minh hoạ hoặc diễn dịch chỉ đòi hỏi trò hoạt động nhận thức thụ động, lời
nói của thầy là nguồn thông tin chủ yếu.
- Sử dụng phương pháp đàm thoại tái hiện vì phương pháp này chỉ đòi hỏi trò
nhớ lại và trả lời các câu hỏi do thầy đặt ra.
- Sử dụng phương pháp đàm thoại giải thích - minh họa có kèm theo thí
nghiệm. Nội dung giải thích sẽ cấu tạo thành hệ thống câu hỏi - lời giải đáp.
Như vậy sẽ giúp người học dễ nhớ hay rất phù hợp với đối tượng dạy học này
8
Tóm lại với 2 đối tượng dạy trên thì vấn đề cơ bản là giáo viên phải tìm ra
đúng nguyên nhân học kém để có biện pháp xử lý thích hợp nhất, luôn khuyến
khích, động viên, kiên trì giúp đỡ, đặc biệt là phải chú ý bồi dưỡng phương pháp
học tập, phương pháp tư duy, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học
sinh chứ không làm thay
* Mức độ khá - giỏi: Tức là năng lực nhận thức và khả năng tự lập cao. Do đặc
điểm về trình độ nhận thức khá cao nên đối với đối tượng dạy học này giáo viên
nên sử dụng các phương pháp sao cho có thể phát huy được tính tích cực nhận
thức của học sinh tức là phải hướng học sinh tích cực tự lực giành lấy kiến thức
bằng cách tìm hiểu, khám phá và giành sáng tạo. Cụ thể, giáo viên nên sử dụng
các phương pháp sau:
- Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự lực làm việc độc lập với sách
giáo khoa, tự giác giải các bài tập trong đề cương mà giáo viên đưa ra cả bài tập
tự luận và bài tập trắc nghiệm.
- Đàm thoại nêu vấn đề, đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề và hướng
dẫn họ cách tự lực tìm ra phương hướng giải quyết.
Trong suốt quá trình giảng dạy của một người giáo viên, để có được một bài
dạy hay, lôi cuốn học sinh thì người giáo viên cần phải có một sự chuẩn bị chu
đáo từ nhiều phía, trước tiên cần phải nắm rõ được mục tiêu và nội dung của bài
dạy. Muốn vậy người giáo viên không chỉ nghiên cứu kỹ nội dung tài liệu sách
giáo khoa mà còn phải tìm hiểu và nghiên cứu qua các tài liệu tham khảo khác
có liên quan đến bài học đó. Trên cơ sở đó giáo viên sẽ xác định được mục đích
cần dạy, cũng như nội dung cốt lõi, nền tảng bài đó là gì., từ đó lựa chọn phương
pháp dạy học thích hợp nhất. Quan trọng nhất đối với sự thành công của một bài
lên lớp là sự kết hợp các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng đối
tượng học sinh.
Xác định chính xác những mục đích của bài học:
Tìm hiểu những yêu cầu của chương trình: Những tài liệu tham khảo liên quan
10
đến nội dung bài học. Đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ học tập cũng như
trình độ năng lực nhận thức của từng đối tượng HS.
- Từ đó xác định hệ thống những mục đích của bài.
+ Yêu cầu về nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần có.
+ Yêu cầu về giáo dục tình cảm, thái độ, cách nhìn nhận đánh giá sự vật.
+ Yêu cầu phát triển năng lực nhận thức như so sánh khái quát ... cũng như các
khả năng sáng tạo, đổi mới.
Xây dựng nội dung bài học: Từ mục đích giảng dạy giáo viên sẽ xây dựng nội
dung bài học cụ thể:
-Xác định mục đích tư tưởng chính của bài.
-Xác định những tri thức chính và phụ.
-Sắp xếp nội dung dạy học theo một trình tự logic và khoa học như sách giáo
khoa.
- Bổ sung vào nội dung sách giáo khoa những số liệu hiện đại, nhưng câu
- Tái hiện và giải thích .
- Vận dụng sáng tạo và suy luận linh hoạt kiến thức ở điều kiện mới.
Ví dụ 1: * Nội dung bài tập: Viết công thức cấu tạo các ancol có cùng công
thức phân tử C4H10O.
* Thiết kế theo kiểu phân hoá - nêu vấn đề
+ Mức độ 1: Từ việc xem xét viết công thức cấu tạo tất cả các ancol có cùng
công thức phân tử C4H10O. Gọi tên các ancol đó.
+ Mức độ 2: Viết công thức tất cả CTCT và gọi tên các hợp chất có công thức
phân tử C4H10O.
+ Mức độ 3:
a. Viết công thức cấu tạo tất cả các ancol no, mạch hở có 4 nguyên tử các bon
trong phân tử.
b. CTPT của A là C3H5Br3, viết tất cả đồng phân cấu tạo có thể có của hợp chất
A, cho các đồng phân đó lần lượt tác dụng với dung dịch NaOH thì đồng phân
nào thu được ancol 3 chức bền.
* Nhận xét: Về mức độ phân hoá và tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu
- Ở mức độ 1: Học sinh chỉ cần nhớ ancol đơn chức có một nhóm –OH và viết
đồng phân một cách đơn giản .Như vậy kiến thức ở đây chỉ ở mức tái hiện lại
vấn đề theo sự dẫn dắt của đề ra.
- Ở mức độ 2: Yêu cầu khó hơn, học sinh suy luận từ công thức phân tử là
C4H10O thì ngoài đồng phân của ancol thì có thể có nhiều loại đồng phân của
hợp chất có nhóm chức khác có chứa một nguyên tử oxi: ete, anđêhit.xeton...
- Ở mức độ 3: Học sinh hoàn toàn nắm vững nguyên tắc viết đồng phân. Sau đó
tự suy luận để tìm ra phương pháp viết đồng phân của các hợp chất và tính chất
12
của chất. Mức độ này đòi hỏi khả năng cao hơn mức độ 1, mức độ 2.
Bài tập lý thuyết – thực nghiệm.
Là những bài tập có nội dung buộc học sinh phải có kỹ năng quan sát, giải
kiện bài toán.
- Giảm sự phức tạp hoá hoặc phức tạp hoá yêu cầu bài toán.
- Giảm sự phức tạp hoá hoặc phức tạp hoá cả điều kiện và yêu cầu bài toán.
- Ghép nội dung các bài tập khác nhau thành một bài tập mới.
Ví dụ: Bài toán gốc: Cho 15,2 gam hỗn hợp X gồm hai ancol no đơn chức A và
B đồng đẳng kế tiếp tác dụng với Na dư thu được 3,36 lít H 2 (đktc). Tính khối
lượng của muối tạo thành.
+ Mức độ 1 Cho 15,2 gam hỗn hợp X gồm hai ancol no đơn chức A và B đồng
đẳng kế tiếp tác dụng với Na dư thu được 3,36 lít H2 (đktc).
a.Tính khối lượng của muối tạo thành.
b.Tính số mol của hỗn hợp X.
+ Mức độ 2: Bài toán gốc
+ Mức độ 3: Cho 15,2 gam hỗn hợp X gồm hai ancol no đơn chức A và B đồng
đẳng kế tiếp tác dụng với Na dư thu được 3,36 lít H2 và dung dịch Y. Cô cạn cẩn
thận Y thu được m gam chất rắn khan (đktc).
a.Tính m.
b. Xác định công thức và thành phần phần trăm theo khối lượng của A và B
trong hỗn hợp X.
* Nhận xét:
+ Mức độ 1: là sự giảm phức tạp hoá điều kiện của bài toán gốc bằng cách giảm
đi một bước tính toán.
+ Mức độ 2: Là bài toán gốc
+ Mức độ 3: Phức tạp hoá cả điều kiện lẫn yêu cầu giải quyết
Bài tập sử dụng kiến thức thực tế:
Những dạng bài tập này phân hoá bằng cách:
-Hiểu được những số liệu và hiện tượng thực tế trong đời sống hàng ngày
-Từ những số liệu đó có thể tính toán được theo yêu cầu của bài toán dựa trên
kiến thức đã được học.
- Từ loại bài tập trên có thể tính toán được việc sử dụng rượu bia cho phù hợp.
14
mỗi học sinh.
15
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận :Từ những việc đã làm chúng tôi rút ra những kết luận sau.
a. Những kết quả đạt được.
Dạy học phân hoá - nêu vấn đề đã thực sự là một phương pháp dạy học phù
hợp với mục đích – nội dung - đối tượng. Việc phối hợp các phương pháp đã gây
hứng thú, lôi cuốn HS tham gia vào quá trình chiếm lĩnh tri thức, tạo nên không
khí học tập sôi nổi, phát huy được tối đa tính tích cực trong học tập của mỗi học
sinh. Do đó chất lượng học tập của HS được nâng cao. Việc thiết kế các bài
giảng và bài tập hoá học theo kiểu phân hoá - nêu vấn đề đã có tác dụng phát
triển các năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và kỹ năng
chuyển từ tư duy lý thuyết sang tư duy thực hành cho mọi đối tượng học sinh.
b. Khó khăn và thuận lợi khi áp dụng đề tài:
* Thuận lợi: Dạy học phân hoá - nêu vấn đề sát với đối tượng học sinh nên
rất được học sinh ủng hộ, học sinh học tập nhiệt tình nên đạt kết quả tốt.
* Khó khăn:
- Dạy học phân hoá - nêu vấn đề yêu cầu giáo viên phải phân hoá trình độ
học sinh. Điều này đòi hỏi giáo viên phải nắm bắt rõ tình hình học tập cũng như
các đặc điểm tâm lý của HS để phân hoá đối tượng học sinh trong lớp để từ đó
đề ra các phương pháp dạy học phù hợp với từng loại đối tượng HS. Viêc làm
này đòi hỏi sự kiên trì chịu khó của giáo viên.
2. Một số ý kiến đề xuất.
Qua quá trình nghiên cứu hoàn thành sang kiến tôi thấy: Để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và việc nâng cao
hiệu quả dạy học hoá học nói riêng theo hướng phân hoá - nêu vấn đề chúng tôi
có một số đề xuất sau:
1. Tạo sao ancol etylic tan trong nước và có nhiệt độ sôi cao hơn đimetyl ete
2. So sánh khả năng tan vào nước và nhiệt độ sôi của ancol etylic, etylamin và
đimetylete.
3. Sắp xếp các chất sau đây theo chiều tăng nhiệt độ sôi và giải thích.:Ancol
etylic, phenol, metylamin, etylamin, anilin.
Bài tập 2:
1. Viết công thức cấu tạo tất cả các ancol đồng phân có cùng công thức phân tử
C3H8O. Gọi tên các ancol đó.
2. Viết công thức cấu tạo tất cả các hợp chất đơn chức có công thức phân tử
C3H8O. Gọi tên các chất đó.
3. a. Viết công thức cấu tạo tất cả các ancol bền no, mạch hở có 3 nguyên tử các
bon trong phân tử.
b. CTPT của A là C3H5Br3, viết công thức cấu tạo của các đồng phân A, cho các
đồng phân đó lần lượt tác dụng với dung dịch NaOH thu được loại hợp chất
nào?Viết PTPƯHH
Loại II. Bài tập tổng hợp.
Dạng I. Ancol đơn chức
Bài tập 3 :
1. Cho 4,6 gam natri tác dụng vừa hết với ancol etylic. Tính thể tích khí H 2 thu
được ở (đktc) và khối lượng Natrietylat tạo thành.
2. Cho 2,3 gam natri tác dụng vừa hết với m gam ancol no A đơn chức mạch hở
thu được 6,8 gam muối.
a. Tính thể tích H2 thu được ở (đktc).
b. Xác định công thức cấu tạo của A và gọi tên.
3. Cho 4,6 gam natri tác dụng vừa hết với 9,2 gam một ancol A thu được 2,24 lít
khí H2 ở (đktc).Xác định công thức cấu tạo của A và gọi tên.
18
Bài tập 4 :
được chất hữu cơ C, Tỷ khối hơi của C so với B là 1,6089.
a) Xác định công thức cấu tạo của A và B.
b. Đun X với H2SO4 đặc ở 1400C thu được những sản phẩm hữu cơ gì? Viết
công thức cấu tạo và tên của chúng.
2. Cho 7,8 gam hai ancol no đơn chức mạch hở tác dụng với natri dư thu được
2,24 lít khí H2 (đktc). Mặt khác đun hai ancol trên với H 2SO4 đặc ở nhiệt độ
1400C thu được ba ete, trong đó có một ete có khối lượng mol bằng khối lượng
mol một trong hai ancol . Xác định công thức cấu tạo hai ancol và khối lượng
mỗi ancol trong hỗn hợp.
3. Cho 2,3 gam ancol A tác dụng với natri dư thu được 0,28 lít khí H 2 (00C và
2atm).
a) Xác định công thức cấu tạo của A.
b) Đun nóng 9,2 gam A với H2SO4 đặc thu được hai sản phẩm hữu cơ B và
C. Biết B làm mất màu vừa đủ 120 gam dd Br 2 20% và các phản ứng xảy ra
hoàn toàn.
Tính:
+ Khối lượng của B và C.
+ Tỷ lệ tạo thành B và C.
Bài tập 7:
1. Đun 75 ml ancol etylic 920 với H2SO4 đặc ở 1700C. Viết phương trình phản
ứng xảy ra và tính thể tích khí C2H4 thu được ở (đktc). Biết hiệu suất phản ứng
đạt 100% và khối lượng riêng của C2H5OH là 0,8g/ml.
2. Để điều chế etylen người ta đun nóng ancol etylic 95 0 với dung dịch axit
H2SO4 đặc ở 1700C.
a. Tính thể tích ancol 950 cần đưa vào phản ứng để thu được 2,688 lít etylen (đo
ở đktc). Biết hiệu suất phản ứng đạt 60% khối lượng riêng của ancol etylic là 0,8
3. Hỗn hợp X gồm 2 ancol no A và B có cùng số nguyên tử các bon đốt cháy
hoàn toàn 18,2 gam X rồi dẫn sản phẩm qua bình đựng nước vôi dư thu được 75
gam kết tủa. Tỷ khối hơi của X đối với H2 là 36,4.
a- Xác định công thức của A và B
b- Xác định công thức cấu tạo đúng của A, B. Biết rằng 2 ancol này không phản
ứng được với Cu(OH)2 và bị oxi phân hoá cho sản phẩm có phản ứng tráng
gương.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Ngô Ngọc An: Bài tập trắc nghiệm hoá vô cơ (NXB Đà Nẵng 2005)
2- Nguyễn Ngọc Bảo: Phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong
quá trình dạy học .Bộ giáo dục-1995
3- Phan Thanh Bình. Đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông.
Nghiên cứu giáo dục số 2 – 1998.
4- Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Đức Dũng, Lê Văn Năm,
Hoàng Văn Côi, Trịnh Văn Biểu, Đào Vân Hạnh: thực trạng về phương pháp
dạy học hoá học ở trường phổ thông (NXB Đại học Sư phạm 2007) .
5- Nguyễn Cương. Phương pháp giảng dạy và thí nghiệm hóa học. NXB Giáo
dục Hà Nội 1992.
6- Cao Cự Giác: Bài tập hoá học ở trường phổ thông (giáo trình dành cho sinh
viên sư phạm ngành hoá 2004)
7- Cao Cự Giác: Tuyển tập bài giảng hoá vô cơ, bài tập lý thuyết và thực
nghiệm tập 1 (NXB Quốc gia Hà Nội 2006).
8- Cao Cư Giác. Phương pháp giải bài tập Hóa Học 10 tự luận và trắc nghiệm –
NXB Đại Học Quốc Gia TPHCM năm 2007.
9- Cao Cự Giác: Những viên kim cương về hóa học(Từ lý thuyết đến ứng
dụng).
10- Nguyễn Bá Kim - Vũ Dương Thuỵ Phương pháp dạy học môn toán
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN Thanh hóa, ngày 25/5/2016
Tôi xin cam đoan đây là
23
SKKN của mình viết không
sao chép nội dung của người
khác.
Người viết
Cao Văn Hòa
24