MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm có vai trò vô cùng quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ sinh học
đã tạo ra được nhiều sản phẩm trong chăn nuôi, trồng trọt, y dược như: Tạo ra
các giống vật nuôi, cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, tạo ra các chế
phẩm sinh học có số lượng lớn, giá thành rẻ ….
Mục tiêu của dạy học sinh học là truyền thụ những kiến thức phổ thông
cơ bản về thế giới sinh vật. Đó là kiến thức về cấu tạo các cơ thể sống, các quá
trình sống của sinh vật và mối quan hệ giữa sinh vật với sinh vật, sinh vật với
môi trường từ đó vận dụng được các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề
cụ thể trong thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng các yêu cầu khác nhau của xã
hội. Do đó khi học bộ môn sinh học học sinh không những nắm được kiến thức
1
phổ thông cơ bản mà còn biết vận dụng những kiến thức đó để giải quyết các
vấn đề có liên quan đến các hiện tượng, các quá trình sinh học xảy ra trong thực
tiễn cuộc sống đồng thời rút ra các biện pháp cụ thể để bảo vệ sức khỏe cũng
như các kinh nghiệm sống để làm giàu cho bản thân gia đình và xã hội.
Học sinh THPT, đặc biệt là học sinh lớp 11 chưa có phương pháp học tập
phù hợp do các em đang quen học theo thói quen cũ ở THCS, đó là phương pháp
vừa học vừa chơi, khả năng tiếp thu kiến thức chủ yếu do thầy cung cấp, do đó
khả năng nhận biết, thông hiểu kiến thức chưa sâu, khả năng vận dụng kiến thức
còn nhiều hạn chế.
Xã hội ngày càng phát triển, mục tiêu giáo dục cũng phát triển theo yêu
cầu mới đó là chuyển từ trang bị kiến thức cho học sinh sang chủ yếu trang bị
những phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc do đó phương pháp giáo dục cũng thay đổi theo hướng
- Củng cố niềm tin của học sinh vào kiến thức đó học từ đó hình thành ở
các em thế giới quan khoa học, hình thành các năng lực học tập như: quan sát,
2
phân tích tổng hợp, khái quát hoá kiến thức và năng lực hợp tác trong quá trình
học tập, từ đó hoàn thiện nhân cách ở các em.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Các trò chơi được sử dụng trong dạy học sinh học 11 để làm tăng hứng thú
học tập cho học sinh .
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
a. Nghiên cứu lý thuyết.
Để hoàn thành đề tài này tôi đã đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan sau:
- Các tài liệu về việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực, lấy học sinh làm trung tâm .
- Các tài liệu về sáng tạo trong dạy học, dạy học bằng trò chơi.
- Các tài liệu khoa học về chương trình SGK, sách thiết kế bài giảng và
sách chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Sinh học 11.
b. Nghiên cứu thực tế.
- Tìm hiểu thực trạng về tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên ở các
trường THPT bằng cách dự giờ thăm lớp, trao đổi với giáo viên cùng tổ chuyên
môn trong trường và các trường trong cụm.
- Tổ chức trò chuyện với học sinh để nắm được nhu cầu, sở thích của các em.
c. Thực nghiệm sư phạm.
Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm một số bài có lồng ghép trò chơi trong
chương trình Sinh học 11.
d. Điều tra sư phạm.
Tôi tiến hành kiểm tra để khảo sát chất lượng học tập môn Sinh 11 trước
và sau khi vận dụng trò chơi trong dạy học.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh.Vấn đề đặt ra đối với giáo dục hiện
nay là làm thế nào để học sinh có được hứng thú học tập và có khả năng thích
ứng cao để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống? Đây là câu hỏi
đang đặt ra một thách thức lớn đối với giáo dục nói chung và nhà trường, giáo
viên nói riêng.
Trong quá trình dạy học giáo viên không chỉ là người cung cấp kiến thức
cho học sinh mà là người chỉ cho học sinh phương pháp tìm kiếm, chiếm lĩnh tri
thức một cách hiệu quả nhất đảm bảo cho việc học tập suốt đời của các em. Để
đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay, người học phải năng động, sáng tạo, có
kiến thức, có kĩ năng mang tính chuyên nghiệp để giải quyết mọi tình huống
diễn ra trong học tập và trong cuộc sống, còn người dạy không chỉ trang bị cho
các em kiến thức có trong sách giáo khoa mà cần hình thành ở các em năng lực
giải quyết các vấn đề liên quan đến bài học diễn ra trong cuộc sống, biết vận
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản
thân gia đình và xã hội. Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên phải không
ngừng học tập, không ngừng đổi mới để tìm ra phương pháp học tập phù hợp
với từng đối tượng nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao của xã hội.
Dạy học tích cực chỉ thực sự diễn ra khi học sinh có được cảm giác thoải
mái và tự giác tham gia học tập. Cảm giác thoải mái tồn tại khi học sinh tự tin
vào bản thân, nghĩa là có lòng tự tôn cao. Biết rõ mình có thể mắc lỗi là yếu tố
quan trọng có thể mang lại tiến bộ và sự phát triển, giúp học sinh có thể đương
đầu với khó khăn tốt hơn.
Học sinh học tập hiệu quả nhất khi có một cộng đồng học tập gắn kết và
có sự quan tâm lẫn nhau. Đây nền tảng cho cảm giác thoải mái của học sinh.
Những giáo viên dạy học có hiệu quả sẽ quan tâm đến từng học sinh với tư cách
là những cá thể độc lập và với tư cách của người học để biết được năng lực và sở
thích của học sinh, nơi ở và hoàn cảnh gia đình của các em, nắm bắt được những
mong muốn, khó khăn trong học tập của học sinh để từ đó tạo ra một môi trường
học tập gắn bó về tình cảm, về mặt kiến thức giữa các học sinh với nhau.
- Đa số các em đều ngoan, có ý thức thực hiện tốt nội quy trường lớp.
- Một số gia đình thực sự quan tâm đến việc học tập của các em nên tạo
mọi điều kiện để các em được học tập và nâng cao kiến thức.
b. Khó khăn
* Về phía giáo viên:
- Cơ sở vật chất ở nhà trường còn nghèo nàn do thiếu các mô hình, mẫu
vật nên một số giờ thực hành chưa được thực hiện đầy đủ nên chất lượng các
giờ thực hành còn hạn chế.
-Thư viện nhà trường chưa có tài liệu tham khảo đầy đủ dẫn đến việc sưu
tầm tài liệu để phục vụ cho việc giảng dạy còn hạn chế.
*Về phía học sinh:
- Đa số học sinh còn ham chơi, chưa tự giác trong học tập, một số ít còn
nghỉ học vô lí do, không làm bài tập ở nhà và không đọc bài mới trước khi đến
lớp.
- Phần lớn học sinh đều là con em các hộ gia đình nghèo hoặc cận nghèo
nên việc đầu tư để mua tài liệu học tập nhằm mở rộng kiến thức không được
thực hiện.
- Một số học sinh có điều kiện kinh tế gia đình khá giả lại tham gia các tệ
nạn xã hội như nghiện chơi game, nghiện thuốc lá, thường xuyên bỏ học để đi
đánh bi a hoặc tụ tập các quán gần trường để ăn quà vặt.
* Nguyên nhân của thực trạng trên:
- Đa số các em thuộc diện hộ nghèo bố mẹ lại đi làm ăn xa nên việc quản lý,
động viên các em học tập còn hạn chế, bên cạnh đó một số gia đình có cả bố mẹ ở
nhà nhưng còn mải mê làm ăn và chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của các
em.
5
- Học sinh trường THPT Cẩm thủy 3 là những học sinh thuộc vùng đặc
biệt khó khăn nên các em có thói quen học tập thụ động, lười học bài cũ và
Điểm
Cụ thể:
+ Nhóm 1: Tờ giấy ghi về cấu tạo của bộ răng động vật ăn cỏ: Răng hàm
to, răng nanh nhỏ, răng cửa bè
+ Nhóm 2: Tờ giấy ghi về cấu tạo của động vật ăn thịt: Răng cửa nhọn,
răng nanh to, răng hàm nhỏ sắc.
+Nhóm 3: Tờ giấy ghi về đề cấu tạo dạ dày kép ở đọng vật ăn cỏ: Dạ dày
4 ngăn gồm: Dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế.
3. Sau khi người chỉ huy phát ra mệnh lệnh bắt đầu chơi, những người đại
diện sẽ nhanh chóng trở về đội mình và nói thầm những câu mà người đại diện
nhớ được với người đứng kế bên, cứ truyền nhau như vậy cho đến người cuối
cùng.
4. Người cuối cùng ở mỗi đội sẽ nói to những câu mà mình nghe được,
người được cử viết lại những đáp án mình nghe được sẽ viết lại những câu mình
nghe được của đội mình lên bảng.
5. Đội nào truyền tin chính xác nhất, nhanh nhất và nhiều câu đúng nhất
sẽ là đội thắng cuộc.
B. Giải pháp 2: Sử dụng trò chơi gắn chú thích cho tranh, hình nhanh nhất.
- Mục đích:
7
+ Học sinh xác định nhanh vị trí và gọi tên được các cơ quan, hệ cơ quan
trên tranh (hoặc mô hình) của cơ thể sinh vật.
+ Rèn luyện kỹ năng quan sát tranh, mô hình, tác phong nhanh nhẹn của học
sinh.
+ Củng cố và khắc sâu kiến có liên quan đến cấu tạo cơ thể sinh vật.
- Thể lệ trò chơi:
1. Những người tham gia trò chơi sẽ được chia thành 2 đội, mỗi đội có 3-5
học sinh tương đương với phần chú thích trên tranh hoặc mô hình.
2. Giáo viên phát cho mỗi đội một mô hình (hoặc tranh câm) kèm theo các
tiếp thu các kiến thức có liên quan đến chức năng của các bộ phận trên cơ thể
sinh vật .
- Thể lệ trò chơi:
1. Những người tham gia trò chơi được chia thành 2 đội và đứng xếp
thành hai hàng để cùng quan sát một mô hình hoặc một tranh về sinh vật.
8
2. Khi giáo viên nêu tác dụng của một bộ phận nào đó trên cơ thể sinh vật
thì người chơi phải chỉ đúng và nói tên của bộ phận đó trên tranh (hoặc mô
hình).
3. Nếu giáo viên nêu tác dụng của một bộ phận nào đó nhưng lại chỉ sai
thì người chơi phải chỉ lại cho đúng bộ phận đó trên tranh (hoặc mô hình).
4.Đội thắng cuộc sẽ là đội trả lời đúng được nhiều câu hỏi nhất .
- Vận dụng vào dạy học:
Trò chơi này thường dùng khi củng cố các kiến thức có liên quan đến cấu
tạo của sinh vật để thích nghi với môi trường sống.
- Ví dụ minh họa:
Để dạy phần hệ tuần hoàn kín: đơn và kép tôi sử dụng trò chơi chức năng
như sau :
+ Học sinh tham gia chơi được chia thành hai đôi và xếp thành hai hàng
để quan sát mô hình cá nhằm xá định lại vị trí các loại vây cá.
+ Khi giáo viên hô “động mạch phổi’’ và chỉ vào tĩnh mạch chủ thì người
chơi sẽ nêu lại“vận chuyển oxy về tim’’ và chỉ vào động mạch phổi mô hình
18.3. Nếu giáo viên hô“Tim” thì người chơi phải chỉ vào Tim và nêu được chức
năng là: Đẩy máu đi nuôi cơ thể. Tương tự, nếu giáo viên hô “trao đổi chất giữa
máu và tế bào” người chơi phải chỉ vào Mao mạch. Kết quả cuối cùng đội nào
trả lời đúng được nhiều câu hỏi nhất thì đội đó thắng và được thưởng bằng cách
cho điểm .
D. Giải pháp 4: Sử dụng trò chơi tiếp sức.
đặc điểm chung đầu tiên của lớp chim, sau đó về chỗ giao phấn cho học sinh thứ
hai lên làm tiếp... cứ như vậy cho đến hết thời gian quy định.
+ Đội nào hoàn thành với số lượng nhiều hơn trong khoảng thời gian đã
cho và đúng yêu cầu thì sẽ là đội thắng và được thưởng.
E.Giải pháp 5: Sử dụng trò chơi bốc thăm ghi điểm.
- Mục đích:
+ Giúp học sinh củng cố khắc sâu kiến thức và vận dụng các kiến thức đã
học để giải thích các hiện tượng sinh học xảy ra trong thực tiễn .
+ Kiểm tra được kiến thức của nhiều học sinh trong một tiết học mà vẫn
đảm bảo sự nhẹ nhàng và hiệu quả.
+ Rèn luyện kĩ năng thuyết trình của học sinh trước tập thể lớp
-Thể lệ trò chơi:
+ Từng người tham gia chơi sẽ lần lượt lên bốc thăm câu hỏi theo do giáo
viên chuẩn bị, đọc to câu hỏi cho các bạn phía dưới lớp biết và đứng tại chỗ để
trả lời hoặc về chỗ để chuẩn bị (nhưng không xem tài liệu) trong vòng 1đến 2
phút.
Học sinh cũng có thể đổi câu hỏi nếu câu đó không trả lời được (chỉ 1
lần). Nhưng đổi câu hỏi phải bị trừ đi 1 điểm trong kết quả cuối cùng.
+ Sau 2 phút giáo viên gọi học sinh vừa bốc câu hỏi lên trả lời và cho 1
học sinh tiếp theo lên bốc một câu hỏi thứ hai và về chỗ để chuẩn bị.Cứ như vậy
cho đến học sinh cuối cùng lên bốc thăm và trả lời câu hỏi mà mình bốc được
+ Sau câu trả lời của mỗi học sinh, giáo viên gọi học sinh phía dưới nhận
xét, giáo viên tổng hợp và cho điểm.
- Vận dụng vào dạy học:
Trò chơi này được dùng trong các tiết ôn tập chương, bài tập hoặc phần
củng cố nội dung bài học.
- Ví dụ minh họa:
Khi dạy tiết ôn tập học kì I tôi sử dụng trò chơi bốc thăm ghi điểm như
sau:
Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi, mỗi câu được ghi vào một mảnh
- Mục đích:
+ Củng cố khắc sâu kiến thức của bài học, của chương ...từ đó hình thành
mối liên hệ về nội dung kiến thức giữa các phần trong một bài hoặc giữa các bài
trong một chương.
+ Rèn luyện kỹ năng nhớ, vận dụng kiến thức đã học của học sinh.
+ Phát triển tư duy nhanh nhạy, sáng tạo của học sinh.
- Thể lệ trò chơi :
1. Giáo viên đưa ra một bảng gồm các ô chữ đang để trống với các từ
hàng ngang và hàng dọc kèm theo các câu hỏi gợi ý để giải mỗi từ ở hàng ngang
và hàng dọc.
2. Học sinh tham gia chơi sẽ được chia thành 2 hoặc nhiều đội khác nhau.
3. Khi bắt đầu ở lượt đầu tiên đại diện mỗi đội sẽ lựa chọn 1 từ hàng
ngang hoặc từ hàng dọc để trả lời dựa vào các câu hỏi gợi ý, nếu một đội nào đó
không có câu trả lời đúng thì nhường quyền trả lời cho đội khác, nếu trả lời đúng
thì giáo viên lật ô chữ đó ra và cho điểm, cứ như thế cho đến khi các đội giải hết
được các từ hang ngang ở các lượt tiếp theo. Ở mỗi từ hàng ngang sẽ có một chữ
cái là chữ trong từ chủ đề ở hàng dọc.
4. Mỗi câu trả lời đúng cho 1 từ hàng ngang sẽ được 10 điểm, câu trả lời
đúng cho 1 từ hàng dọc sẽ được 20 điểm.
5. Đội thắng cuộc sẽ là đội có số điểm cao hơn và được thưởng bằng số
điểm mà đội đó đạt được.
- Vận dụng vào dạy học:
Trò chơi này thường được áp dụng chơ các tiết ôn tập, tiết bài tập hoặc
phần củng cố nội dung bài học.
- Ví dụ minh họa:
Ví dụ: Bài 18 - “Tuần hoàn máu”
*Mục đích của trò chơi:
11
? Là từ diễn tả trạng thái tồn tại của máu trong cơ thể.
Đáp án: LỎNG
Học sinh tìm thấy chữ cái N trong từ chủ đề.
- Hàng ngang số 5: Gồm 11 chữ cái.
? Là quá trình chỉ vai trò khái quát của máu trong cơ thể.
12
Đáp án: TRAO ĐỔI CHẤT.
Học sinh tìm thấy chữ H trong từ chủ đề.
- Hàng ngang số 6: Gồm 14 chữ cái.
? Là cụm từ chỉ môi trường gồm máu, nước mô và bạch huyết.
Đáp án: MÔI TRƯỜNG TRONG
Học sinh tìm thấy chữ cái O trong từ chủ đề.
- Hàng ngang số 7: Gồm 7 chữ cái.
? Đây là thành phần chứa 45% thể tích của máu.
Đáp án: CÁC TẾ BÀO MÁU
Học sinh tìm thấy chữ cái A trong từ chủ đề.
- Hàng ngang số 8: Gồm 4 chữ cái.
? Là chất có tỉ lệ 90% trong huyết tương.
Đáp án: NƯỚC
Học sinh tìm thấy chữ cái N trong từ chủ đề.
* Các chữ cái trong từ chủ đề đã xuất hiện học sinh đã có thể thấy ngay
cụm từ chủ đề là: TUẦN HOÀN. Giáo viên có thể cho học sinh tìm từ chủ đề từ
khi chưa mở hết các hàng ngang.
* Nội dung ô chữ:
H
H
T R A O
M Ô I T R Ư Ờ
Ơ
Ầ
N
U
G
T
G
M
Ớ
Á
C
U
* Thảo luận chung:
Sau khi các nhóm đoán được ô chữ trong cụm từ chủ đề “ tuần hoàn” là
một hệ cơ quan trong cơ thể người.. Giáo viên gọi đại diện của nhóm thắng cuộc
nói về ý nghĩa của ô chữ có từ chủ đề đó và mối liên quan với các ô chữ còn lại,
nhóm khác có thể nhận xét, bổ sung và đưa ra lời bình.
- Yêu cầu: học sinh thấy được vai trò hết sức quan trọng của hệ tuần hoàn,
đồng thời ghi nhớ được những đặc điểm cấu tạo và chức năng của hệ cơ quan
này trong cơ thể.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
13
sát ở học sinh lớp 11 THPT Cẩm thủy 3 sau khi áp dụng phương pháp lồng
ghép trò chơi như sau:
Lớp
Sĩ số
Điểm
lên làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội.
3.2 Kiến nghị:
a.Đối với nhà trường:
- Bổ sung đầy đủ các phương tiện dạy học còn thiếu như: tranh ảnh, mô
hình và dụng cụ thí nghiệm để hỗ trợ cho việc lĩnh hội kiến thức của học sinh
- Xây dựng các phòng chức năng riêng như phòng thực hành để học sinh
có thể thực hành, phòng có máy chiếu để giáo viên ứng dụng công nghệ thông
tin vào dạy học.
- Có biện pháp cứng rắn hơn nữa trong việc xử lý các học sinh vi phạm
nội qui trường lớp để nêu gương trước toàn trường nhằm xây dựng một môi
trường học tập thân thiện, học sinh tích cực.
b.Đối với Sở giáo dục:
Tổ chức thường xuyên những chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh để các giáo viên dạy học Sinh
học như chúng tôi có dịp giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau để tìm
ra biện pháp tối ưu nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn sinh học.
c.Đối với địa phương:
15
- Quan tâm sát sao đến chất lượng, hiệu quả giáo dục ở địa phương bằng
cách đầu tư cơ sở vật chất kịp thời phục vụ cho việc dạy và học ở địa phương
mình.
- Có biện pháp kiên quyết để quản lí các hộ kinh doanh quanh nhà trường
nhằm hạn chế tình trạng học sinh bỏ học để chơi game, để tụ tập ăn quà vặt.
Trên đây chỉ là một số ít kinh nghiệm mà tôi đúc rút từ từ thực tế công tác
giảng dạy trong mười năm của bản thân ở trường THPT Cẩm thủy 3mà hàng
ngày, hàng giờ tôi tận tâm, miệt mài với sự nghiệp “trồng người”. Để làm đề tài
này, ngoài kiến thức đã có của bản thân tôi đã sưu tầm, tham khảo thêm tài liệu
từ nhiều nguồn khác nhau để sáng kiến đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, trong quá