KINH NGHIỆM TỔ CHỨC MỘT SỐ TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC TOÁN
LỚP 1
****************************
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Trong Chương trình giáo dục tiểu học hiện nay, môn toán cũng như các môn
hoc khác trong nhà trường Tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên
những con người phát triển toàn diện.
Toán học là môn khoa học tự nhiên có tính lô - gích và tính chính xác cao, nó là
chìa khóa mở ra sự phát triển của các môn khoa học khác.
Muốn học sinh Tiểu học học tốt được môn Toán thì mỗi người giáo viên không
phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong Sách giáo khoa, trong
các sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc làm cho học
sinh học tập một cách thụ động. Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của học sinh
sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao. Nó là một trong
những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng
động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày.
Yêu cầu của giáo dục hiện nay đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học môn
toán ở bậc Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học
sinh. Vì vậy người giáo viên phải gây được hứng thú học tập cho các em bằng cách lôi
cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập. Trò chơi học tập là một hoạt động
mà các em hứng thú nhất. Các trò chơi có nội dung toán học lý thú và bổ ích phù hợp
với việc nhận thức của các em. Thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội những tri
thức toán học một cách dễ dàng, củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo
cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập, trong việc làm. Khi chúng ta đưa ra
được các trò chơi toán học một cách thường xuyên, khoa học thì chắc chắn chất lượng
dạy học môn toán sẽ ngày một nâng cao.
Ở bậc Tiểu học, đặc biệt là lớp 1, các em vừa kết thúc lứa tuổi vui chơi của
mình mà bước vào học tập, vừa học, vừa chơi. Vì thế, việc tổ chức trò chơi cho các em
trong những giờ học là việc làm không thể thiếu, nó có vai trò vô cùng quan trọng phù
hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của lứa tuổi Tiểu học. Đặc biệt, trong giờ học toán,
học toán lớp 2. Áp dụng thực tiễn trò chơi theo từng bài, từng phần của nội dung
chương trình sách giáo khoa Toán 1.
- Soạn giáo án một bài với việc áp dụng trò chơi cho một giờ học cụ thể.
- Đề xuất những ý kiến riêng về việc tổ chức trò chơi Toán học và những biện
pháp giảng dạy có hiệu quả khi sử dụng trò chơi trong dạy học Toán lớp 1.
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Thanh Tân
1.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Sách giáo khoa Toán 1, sách giáo viên Toán 1,
sách Trò chơi toán học nói chung …
1.5. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, tôi đó sử dụng các phương pháp sau:
1.5.1. Nghiên cứu tài liệu:
- Đọc các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục ... có liên quan đến nội dung đề tài.
- Đọc SGK, sách giáo viên, các loại sách tham khảo: Toán tuổi thơ, giúp em vui
học toán.
1.5.2. Nghiên cứu thực tế:
- Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về nội dung các trò chơi toán học.
- Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học.
- Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm (Soạn giáo án sau đó thông qua
các tiết dạy) để kiểm tra tính khả thi của đề tài.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1.Cơ sở lý luận:
Bậc Tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc
hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Môn toán cũng như những môn học khác
cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giới xung quanh
nhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm đạo đức
tốt đẹp của con người.
Môn toán ở trường Tiểu học là một môn độc lập, chiếm phần lớn thời gian
trong chương trình học của trẻ.
Môn toán có tầm quan trọng to lớn. Nó là bộ môn khoa học nghiên cứu có hệ
thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người. Môn toán có khả
với các em ở tất cả các môn học. Như vậy nói về cách học, về yêu cầu học thì trẻ lớp 1
gặp phải một sự thay đổi đột ngột mà đến cuối năm lớp 1 các em mới quen dần với cách
học đó. Do vậy giờ học sẽ trở nên nặng nề, không duy trì được khả năng chú ý của các
em nếu các em chỉ có nghe và làm theo.
Muốn giờ học có hiệu quả thì đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp
dạy học tức là kiểu dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” hướng tập trung vào học
sinh, trên cơ sở hoạt động của các em. Kiểu dạy này người giáo viên là người định
hướng, tổ chức ra những tình huống học tập nó kích thích óc tò mò và tư duy độc lập.
Muốn các em học được thì trước hết giáo viên phải nắm chắc nội dung của mỗi bài và
lựa chọn, vận dụng các phương pháp sao cho phù hợp, bài nào thì sử dụng các phương
pháp trực quan, thuyết trình, trò chơi ... hoặc bài nào thì sử dụng phương pháp giảng
giải, kiểm tra, thí nghiệm ... nhưng phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của học sinh
Tiểu học.
Học sinh Tiểu học không thể ngồi quá lâu trong giờ học cũng như làm một việc
gì đó nhiều thời gian vì thế giáo viên có thể thay đổi hoạt động học của các em trong
giờ học: cho các em thảo luận, làm bài tập hoặc thông qua trò chơi. Có như vậy mới
gây được hứng thú học tập và khắc sâu được bài học.
2.2.3. Mặt mạnh, mặt yếu:
-3-
Hoạt động vui chơi là hoạt động mà động cơ của nó nằm trong chính quá trình
hoạt động trong bản thân trò chơi chứ không nằm ở kết quả chơi.
Trò chơi là loại phổ biến của hoạt động vui chơi là chơi theo luật, luật của trò
chơi chính là các quy tắc định từ mục đích, kết quả và yêu cầu của hành động trò chơi,
luật của trò chơi có thể tường minh có thể không.
Trò chơi học tập là trò chơi mà luật của nó bao gồm các quy tắc gắn với kiến
thức kỹ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung bài học, giúp học sinh
khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi, thông qua chơi học sinh được vận
dụng các kiến thức kỹ năng đó học vào các tình huống của trò chơi và do đó học sinh
* Tổ chức trò chơi học tập để dạy môn toán nói chung và môn toán lớp 1 nói
riêng, chúng ta phải dựa vào nội dung bài học, điều kiện thời gian trong mỗi tiết học
cụ thể để đưa ra các trò chơi cho phù hợp. Song muốn tổ chức được trò chơi trong dạy
toán có hiệu quả cao thì đòi hỏi mỗi giáo viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ
mỉ, cặn kẽ và đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục
-4-
+ Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học
+ Trò chơi phải phù hợp với tâm sinh lý học sinh lớp 1, phù hợp với khả năng
người hướng dẫn và cơ sở vật chất của nhà trường.
+ Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú.
+ Trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo
+ Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh
* Cấu trúc của trò chơi học tập:
+ Tên trò chơi
+ Mục đích: Nêu ra mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ
năng nào. Mục đích của trò chơi sẽ quy định hành động chơi được thiết kế trong trò
chơi.
+ Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong trò chơi học
tập.
+ Nêu lên luật chơi: Chỉ ra quy tắc của hành động chơi quy định đối với người
chơi, quy định thắng thua của trò chơi.
+ Số người tham gia chơi: Cần chỉ ra số người tham gia trò chơi.
+ Nêu lên cách chơi
b. Cách tổ chức trò chơi:
Thời gian tiến hành: thường từ 3 - 5 phút
- Đầu tiên là giới thiệu trò chơi:
+ Nêu tên trò chơi
a. Số học:
* Các số đến 10: Có hai giai đoạn:
+ Trước khi học số.
+ Các số đến 10.
a.1. Trước khi học số (3 tiết )
Bài: Nhiều hơn, ít hơn.
- Học sinh nhận biết được hai tập hợp bằng nhau thông qua phép tương ứng 1- 1.
- Qua đó giúp học sinh biết so sánh số lượng của hai nhóm đối tượng đồ vật, biết cách
sử dụng các từ “ nhiều hơn, ít hơn” khi so sánh về số lượng.
* Ví dụ: Trò chơi: Nhiều hơn - ít hơn.
+ Mục đích
- Học sinh biết so sánh số lượng của hai nhóm đồ vật.
- Học sinh biết sử dụng các từ nhiều hơn, ít hơn trong khi chơi.
+ Chuẩn bị: 3 cái bảng, 5 viên phấn, tranh vẽ 4 quyển vở và 3 cái bút (5 cái bút
để làm phần thưởng)
+ Cách chơi: GV chia lớp làm ba nhóm:
- Giáo viên đưa hai nhóm đối tượng có số lượng khác nhau. Các nhóm nhìn
nhanh nêu nhanh xem nhóm đồ vật nào có số lượng nhiều hơn, nhóm đồ vật nào có số
lượng ít hơn.
- Giáo viên đưa tranh vẽ: Một bên có 4 quyển vở, một bên có 3 cái bút ( cách
vẽ tương ứng 1-1). Học sinh nêu nhanh xem vở nhiều hơn bút hay bút nhiều hơn vở.
+ Tổng kết trò chơi: Nhóm nào có số người nêu nhanh và đúng nhiều thì nhóm
đó thắng. Giáo viên khen thưởng học sinh nêu nhanh (có thể khen thưởng bằng vật
thật như trong trò chơi: quyển vở, cái bút)
Bài: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác:
- Giới thiệu cho học sinh nhận dạng tổng thể của các hình: Hình vuông,
hình tròn, hình tam giác. Thông qua các bài này còn dùng cho việc dạy số học ( làm đồ
dùng trực quan ).
- Giúp cho học sinh nhận ra và nêu đúng tên của hình vuông, hình tròn, hình
tam giác.
- Nhóm nào được nhiều điểm thì nhóm đó thắng cuộc.
a.2. Các số đến 10:
a.2.1. Các số 1; 2; 3; 4; 5.
- Hình thành khái niệm ban đầu về số 1, số 2, số 3, số 4, số 5 ( mỗi số đại diện
cho 1 lớp các nhóm đối tượng có cùng số lượng ).
- Học sinh biết đọc và viết các số: 1; 2; 3; 4; 5.
- Nhận biết số lượng các nhóm số có: 1; 2; 3; 4; 5 đồ vật và thứ tự của các số 1;
2; 3; 4; 5.
* Ví dụ: Trò chơi: Ai đúng, ai sai:
+ Mục đích: Học sinh đọc, viết , sắp thứ tự các số từ 1 đến 5. Nhận biết được
số lượng các nhóm có 1; 2; 3; 4; 5 đồ vật.
+ Chuẩn bị: Các tấm bìa vẽ 1; 2; 3; 4; 5 chấm tròn, mỗi nhóm chuẩn bị 1 bộ đồ
dùng thực hành Toán.
+ Cách chơi: ( 3 lượt chơi )
- Giáo viên chia lớp làm các nhóm 4 học sinh.
- Giáo viên giơ tấm bìa có vẽ 1; 2; 3; 4; 5 chấm tròn.
- Các nhóm bàn nhanh chọn số tương ứng với số chấm tròn mà giáo viên
đưa .
+ Tổng kết trò chơi: Trong 3 lượt chơi nếu nhóm nào chọn số nhanh và đúng
nhiều hơn thì nhóm đó thắng.
- Giáo viên tuyên dương nhóm thắng và khen tinh thần tham gia chơi của
các nhóm.
a.2.2. Các số: 6; 7; 8; 9; 10; 0.
- Học sinh biết đọc, viết các số 6; 7; 8; 9; 10; 0. So sánh các số
- Vị trí các số trong dãy số từ 0 đến 10
- Sắp thứ tự các số theo thứ tự tăng dần hoặc giảm dần.
*Ví dụ: Trò chơi: Thi vượt dốc.
+ Mục đích: Củng cố về so sánh và sắp thứ tự các số trong phạm vi 10.
+ Chuẩn bị:
- Giáo viên chuẩn bị sẵn trên giấy khổ lớn hai hình vẽ như sau:
- Hai bạn đại diện cho hai tổ cùng chơi. Các bạn còn lại cổ vũ và giám sát. Mỗi
người chơi phải chọn những miếng bìa có dấu thích hợp (>;
làm số nhà.
- Một số phong bì có ghi phép trừ trong bảng: 9 – 6; 9 – 5; 9 – 3; 9 – 2…
- Một tấm các đeo ở ngực ghi “Nhân viên bưu điện”
+ Cách chơi:
- Gọi 1 số em lên bảng chơi giáo viên phát cho mỗi em 1 thẻ để làm số nhà.
+ Một em đóng vai “Bác đưa thư” ngực đeo “Nhân viên Bưu điện” tay cầm tập
phong bì.
+ Một số em đứng trên bảng, lần lượt từng em một nói:
Bác đưa thư ơi
Cháu có thư không?
Đưa giúp cháu với
Số nhà . . . là 8
Khi đọc đến câu cuối cùng “ số nhà .... là 8” thì đồng thời em đó giơ thẻ ghi số 8
của mình lên cho cả lớp xem. Lúc này nhiệm vụ của “ Bác đưa thư” phải tính nhẩm cho
nhanh để chọn đúng lá thư có ghi phép tính có kết quả là số tương tương ứng giao cho
chủ nhà (ở trường hợp này phải chọn phong bì “9 - 1” giao cho chủ nhà. Chủ nhà nhận
thư và nói lời “cảm ơn”. Cứ như vậy các bạn chơi lại nói và “Bác đưa thư” lại tiếp tục
đưa thư cho các nhà khác.
-9-
Nếu “Bác đưa thư” nhẩm sai, đưa không đúng địa chỉ nhận thì không được
đóng vai đưa thư nữa mà trở về chỗ để các bạn khác lên thay.
Nếu các lần đưa thư đều đúng thì sau 3 lần được cô giáo tuyên dương và đổi
chỗ cho bạn khác chơi.
Trò chơi: Ong đi tìm nhuỵ
(Trò chơi có thể áp dụng vào các bảng +, - )
Cụ thể Tiết 63: Luyện tập về bảng cộng và trừ trong phạm vi 10
+ Mục đích:
- Củng cố kỹ năng tính nhẩm trong phạm vi 10
phải tìm như thế nào, các chú muốn nhờ các con giúp, các con có giúp được không?
- 2 đội xếp thành hàng. Khi nghe hiệu lệnh “bắt đầu” thì lần lượt từng bạn lên
nối các phép tính với số thích hợp. Bạn thứ nhất nối xong phép tính đầu tiên, trao phấn
cho bạn thứ 2 lên nối, cứ như vậy cho đến khi nối hết các phép tính. Trong cùng 1 phút,
đội nào nối đúng và nhanh hơn là đội chiến thắng.
Trò chơi: Truyền điện (Tiết 81; 82; 83; 84….)
+ Mục đích:
- Luyện tập và củng cố kỹ năng làm các phép tính cộng trừ không nhớ dạng:
14 + 3 ( hoặc 17 – 7; 17 - 3 )
- Luyện phản xạ nhanh ở các em
+ Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào
- 10 -
+ Cách chơi:
- Các em ngồi tại chỗ. Giáo viên gọi bắt đầu từ 1 em xung phong. Ví dụ em A
xướng to 1 số trong phạm vi 100 chẳng hạn “12” và chỉ nhanh vào em B bất kỳ để
“truyền điện”. Lúc này em B phải nói tiếp, ví dụ “cộng 5” rồi lại chỉ nhanh vào em C
bất kỳ. Thế là em C phải nói tiếp “bằng 17”. Nếu C nói đúng thì được quyền xướng to
1 số như A rồi chỉ vào một bạn D nào đó để “truyền điện” tiếp. Cứ làm như thế nếu
bạn nào nói sai (chẳng hạn A nói “12” truyền cho B, mà B nói cộng “9”, tức là sai
dạng tính hoặc là C đọc kết quả tính sai) thì phải nhảy lò cò một vòng từ chỗ của mình
lên bảng. Kết thúc khen và thưởng một tràng vỗ tay cho những bạn nói đúng và nhanh.
* Lưu ý:
+ Trò chơi này không cần phải chuẩn bị đồ dùng, giáo cụ.
+ Trò chơi này có thể áp dụng được vào nhiều bài (Ví dụ: Luyện tập các bảng
cộng, trừ trong phạm 10 ) và có thể thay đổi hình thức “truyền”. Ví dụ: 1 em hô to “5
+ 2” và chỉ vào em tiếp theo để truyền thì em này chỉ việc nói kết quả “bằng 7”. Hay
“17 - 7 ” truyền vào bạn tiếp theo nữa “bằng 10”.
+ Trò chơi này không cầu kỳ nhưng vẫn gây được không khí vui, sôi nổi, hào
+ Cách tính điểm :
- Mỗi phép tính đúng được 10 điểm
- Tổng hợp số điểm của từng đội. Đội nào nhiều điểm hơn là đội đó thắng cuộc.
* Lưu ý: Sau giờ chơi giáo viên nêu nhận xét đánh giá các đội chơi khuyến
khích tổ giám khảo, thư ký, nhắc nhở các em những sai sót vấp phải để lần sau các em
chơi tốt hơn.
- 11 -
Trò chơi 10: Tìm lọ cho hoa
(Tiết 83: Ôn tập về phép cộng và phép trừ)
+ Mục đích:
+ Củng cố về cộng, trừ nhẩm trong phạm vi 100.
+ Rèn tính tập thể cao
+ Chuẩn bị:
+ 2 bông hoa màu bằng bìa cứng, mặt sau gắn nam châm.
+ 10 chiếc lá xanh, có gắn nam châm mặt sau
6
5
23+ 42
68 - 3
57-23
11 + 23
3
: Tại sao con gắn lá này cho hoa? Để học sinh trả lời
: Nếu các con gắn chiếc lá này các con sẽ gắn vào bông hoa nào?
- 12 -
b. Đại lượng và đo đại lượng
- Giới thiệu về đơn vị đo độ dài xăng - ti - mét ( cm): Đọc, viết, thực hiện phép tính
với các số đo theo đơn vị đo xăng - ti - mét. Tập đo và ước lượng đo độ dài.
- Giới thiệu đơn vị đo thời gian: Tuần, lễ, ngày trong tuần. Bước đầu làm quen với đọc
lịch ( lịch hàng ngày ), đọc giờ đúng trên đồng hồ ( Kim chỉ phút chỉ vào số 12 ).
b.1.Độ dài và đo độ dài:
- Học sinh có khái niện ban đầu về độ dài, tên gọi, kí hiệu của xăng - ti - mét ( cm )
- Biết đo độ dài đoạn thẳng với đơn vị đo là cm trong các trường hợp đơn giản.
- Giúp học sinh bước đầu biết dùng thước cạnh chia từng cm để vẽ đoạn thẳng có độ
dài cho trước.
+ Khi dạy các dạng bài này giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi qua đồ dùng
trực quan:
*Ví dụ: Trò chơi: Bác nông dân giỏi:
+ Mục đích: Học sinh biết dùng thước chia cm để đo đoạn thẳng.
+ Chuẩn bị: 3 tờ bìa hình chữ nhật mặt sau có bông hoa điểm 10, 3 thước thẳng
chia cm.
+ Cách chơi:
- Giáo viên chia lớp làm 3 nhóm, yêu cầu các nhóm cử đại diện 1 bạn
tham gia chơi.
- Giáo viên treo tờ bìa đã định kích thước và nói: Một bác nông dân được
hợp tác xã chia cho một mảnh vườn hình chữ nhật nhưng chưa rõ kích thước là bao
nhiêu. Em hãy giúp bác ấy đo lại thửa ruộng nhà mình.
- Học sinh dùng thước đo các cạnh mảnh vườn ( tờ bìa ).
+ Tổng kết trò chơi: Tuyên dương, khen thưởng cho học sinh đo nhanh và
+ Chuẩn bị:
- Giáo viên chuẩn bị 2 bảng kẻ sẵn như sau:
Hôm qua
Hôm nay
Ngày mai
Thứ
Ngày Tháng Thứ
Ngày Tháng Thứ
Ngày Tháng
Hai
28
1
Tư
27
3
Sáu
19
7
Năm
12
11
Ba
5
9
+ Cách chơi: - Chia lớp làm 2 nhóm, mỗi nhóm cử 5 bạn chơi theo kiểu “ tiếp sức”
- Khi giáo viên bắt đầu tính giờ thì treo 2 bảng kẻ sẵn và yêu cầu mỗi
đội cử lần lượt từng bạn lên, điền thông tin vào từng hàng cho hoàn chỉnh trong vòng
5 hoặc 7 phút. Nếu đội nào xong trước và điền đúng hết các hàng thì thắng cuộc. Ở
dưới không được nhắc, chỉ cổ vũ, nếu bên nào nhắc thì bị trừ điểm. Bạn ở trên chưa về
chỗ thì bạn ở dưới không được lên, nếu chạy lên là phạm quy và cũng bị trừ điểm.
- Bước đầu nhận ra hình ra hình vuông, hình tròn, hình tam giác thông qua các
vật thật vì sang phần này học sinh chỉ nhận biết trực quan qua các hình vẽ cụ thể, cho
nên trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên nên tổ chức các trò chơi đơn giản.
Để sử dụng trò chơi khi dạy phần này tôi thường cho học sinh chơi các trò chơi
sau:
Trò chơi: Câu trả lời đúng.
+ Mục đích: Học sinh biết tìm số lượng hình tam giác, hình vuông.
+ Chuẩn bị: Tờ bìa có vẽ 2 hình: 1 tam giác và 1 hình vuông:
+ Cách chơi: - Giáo viên chia lớp làm các nhóm 4 học sinh.
- Giáo viên treo tờ bìa có vẽ hình như trên và nêu: “ Bạn Lan nói hình
trên có 6 hình tam giác và 5 hình vuông. Hỏi bạn Lan nói có đúng không?”
- Giáo viên đếm từ 10 đến 0 nếu nhóm nào có câu trả lời nhanh và đúng
thì nhóm đó thắng cuộc chơi.
*Lưu ý: Trong khi giáo viên đếm mà nhóm nào giơ tay hoặc nêu thì nhóm đó phạm
luật và bị loại khỏi cuộc chơi.
Trò chơi: Bạn nào nhanh trí.
+ Mục đích:
- Củng cố biểu tượng về hình vuông.
- Rèn luyện trí tưởng tượng.
+Chuẩn bị:
Mỗi học sinh chuẩn bị 12 que diêm .
Giáo viên vẽ sẵn hình lên bảng.
- 15 -
+ Cách chơi: - Có thể chơi theo cá nhận hoặc chơi theo nhóm.
- Mỗi bạn ( nhóm ) xếp 12 que diêm như hình mẫu trên bảng.
- Giáo viên ra lệnh: “ Hãy thay đổi vị trí 3 que diêm để có 3 hình vuông
- 16 -
Gà: 5 con
Ngan: 4 con
Có tất cả : … con ?
Ngỗng đẻ : 5 trứng
Ngan đẻ : 2 trứng
Có tất cả:… trứng ?
1
2
Trong chuồng có: 10 con
Thỏ trắng : 4 con
Thỏ nâu: …con ?
3
Mẹ mua 2 gà, 5 ngỗng và
3 thỏ.
Mẹ mua tất cả: ... con ?
4
+ Cách chơi: Giáo viên lần lượt cho các em chơi
Các em lần lượt bước vào từng ô. Bước vào ô nào phải giải miệng đề toán trong
ô đó. Sau đó đọc to đáp số của bài toán. Chẳng hạn ô thứ nhất em đó phải nhẩm: Có
tất cả là: 5 + 4 = 9 con rồi nói to “Đáp số 9 con” sau đó lật mặt sau của tấm thẻ để
kiểm tra đáp số. Nếu đúng thì bước tiếp sang ô thứ hai. Nếu sai thì em đó bị loại và em
Trò chơi: Rồng rắn lên mây
+ Mục đích: Kiểm tra kỹ năng tính nhẩm của học sinh. Ví dụ: củng cố các bảng
cộng trừ trong phạm vi 10.
+ Chuẩn bị: Một tờ giấy viết sẵn các phép tính cộng, trừ trong các bảng đã học.
+ Cách chơi: Một em được chỉ định làm đầu rồng lên bảng.
- Em cất tiếng hát :
“ Rồng cuốn lên mây
Rồng cuốn lên mây
Ai mà tính giỏi về đây với mình”
- Sau đó, em hỏi:
“ Người tính giỏi có nhà hay không?”
- Một em học sinh bất kỳ trả lời:
“Có tôi! Có tôi!”
- Em làm đầu rồng ra phép tính đố, ví dụ: “ 4+3 bằng bao nhiêu?”
- Em tính giỏi trả lời ( nếu trả lời đúng thì được đi tiếp theo em đầu rồng. Cứ như
thế em làm đầu rồng cứ ra câu hỏi và cuốn dần các bạn lên mây.
* Lưu ý: Ở trò chơi này nên chọn em làm đầu rồng (là em Trưởng trò) phải nhanh
nhẹn, hoạt bát.
Trò chơi: Cùng leo dốc
(áp dụng trong những tiết ôn toán cuối năm)
+ Mục đích :
- Luyện kĩ năng tính nhẩm các phép tính cộng, trừ trong phạm vi đó học
+ Chuẩn bị :
- 2 bảng phụ hoặc 2 tờ bìa cứng ghi nội dung như sau
- Phấn màu hoặc bút dạ
90 - 40 =
0 + 27 =
52 - 41 =
+ Chuẩn bị:
+ Một cây cảnh, trên có đính các bông hoa bằng giấy màu trong có các đề toán.
Chẳng hạn:
Em hãy đọc bảng cộng trong phạm vi 6.
Em hãy đọc bảng trừ trong phạm vi 7.
Tính xem tổ em có bao nhiêu bạn biết rằng có 5 bạn nam và 4 bạn nữ.
Kim ngắn chỉ số 3. Kim dài chỉ số 12. Hỏi là mấy giờ?
Vẽ lên bảng đồng hồ chỉ 9 giờ sáng.
+ Đồng hồ.
+ Phần thưởng.
+ Cách chơi:
Cho các em chơi trong lớp. Lần lượt từng em lên hái hoa. Em nào hái được hoa
thì đọc to yêu cầu cho cả lớp cùng nghe. Sau đó suy nghĩ trong vòng 30 giây rồi trình
bày câu trả lời trước lớp. Em nào trả lời đúng thì được khen và được nhận một phần
thưởng.
Tổng kết chung khen những em chơi tốt trong năm.
2.3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:
Trong từng tiết dạy môn toán, để giúp học sinh tích cực và ham học giáo viên
cần sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện hỗ trợ tiết dạy như sau:
- Các trò chơi phải phù hợp với bài dạy và cung cấp được đầy đủ kiến thức cho
học sinh đồng thời phải gây cho học sinh sự hứng thú khi tham gia các trò chơi để tăng
khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh.
- Sử dụng tranh ảnh phải hấp dẫn lôi cuốn học sinh.
- Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát tìm
hiểu.
- Sưu tầm thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên quan đến bài dạy.
- Sử dụng thường xuyên bộ đồ dùng học toán của học sinh và giáo viên.
2.3.4. Mối liên hệ giữa giải pháp, biện pháp:
Có rất nhiều phương pháp và hình thức để áp dụng cho một tiết dạy nhằm đạt
được một kết quả tốt cho giờ học. Tuy nhiên không một phương pháp nào được coi là
cỏc em c gng hn cho kp bng cỏc bn. Tụi cho cỏc em nhn xột cỏc bn gii trong
lp.
VD: Bn Bng, bn Bo hc gii vỡ cỏc bn y rt chm ch hc bi v hc rt
nhiu nh. lp cỏc bn cng rt c gng hc bi v luyn tp thờm ngy cng
tt hn. Cỏc em cng s c gii nh cỏc bn y nu cú c gng hc nhiu nh cỏc
bn.
2.4. Kt qu kho nghim, giỏ tr khoa hc ca vn nghiờn cu:
Giỏo ỏn dy thc nghim
Mụn: Toỏn
Bi: Phộp tr dng 17 3
I. Mc tiờu:
- Kin thc: + Biết làm tính trừ (không nhớ) trong phạm vi 20.
+ Biết trừ nhẩm dạng 17 - 3
+ HS cả lớp làm bài 1 ýa, 2( cột 1,3), 3 phần 1. HSKG làm hết các bài tập.
- K nng: Rốn k nng t tớnh v tớnh nhm cho hc sinh.
- Thỏi : Bit vn dng toỏn hc vo cuc sng.
II. dựng dy hc:
+ Giỏo viờn: Bng gi, que tớnh, bng ph, dựng phc v trũ chi.
III. Cỏc hot ng dy hc ch yu
1. Kim tra bi c
- Gi 3 hc sinh i din cho 3 dóy lờn bng.
Di lp lm bng con theo bn trong óy ca mỡnh.
t tớnh ri tớnh: 13 + 5
11 + 6
15 + 4
- Gi hc sinh nhn xột bi trờn bng
- Giỏo viờn nhn xột chung.
2. Dy hc bi mi
- 20 -
( Nếu HS không trả lời được GV hỏi: Phép tính
này giống phép tính nào đã học?)
? Để thực hiện được phép tính này bước thứ nhất
ta phải làm gì?
? Nêu cách đặt tính?
- Gọi HS khác nhắc lại.
? Bạn nào tính được?
- GV nhận xét và gọi HS khác nêu cách tính
- GV ghi bảng:
17
3
7 trừ 3 bằng 4, viết 4.
14
Hạ 1, viết 1
- Yêu cầu học sinh nhắc lại.
- GV đưa ví dụ: 15 – 4 yêu cầu cả lớp đặt tính
- 21 -
Hoạt động của trò
HS thực hiện
17 que tính.
HS tách
HS 14 que tính
HS làm trên bảng
Còn 17 que tính
Làm tính trừ
17 – 3 = 14
Đặt tính và tính
Cách 1: 17 trừ 5 bằng 12.
Cách 2: Bước 1: 7 trừ 5 bằng 2
Bước 2: 10 cộng 2 bằng 12
-Yêu cầu HS làm bài, GV theo dõi.
HS làm bài.
-Yêu cầu HS đổi vở cho nhau để chữa bài.
Đổi vở chữa bài
Bài 3: GV nêu yêu cầu.
? Muốn điền được số thích hợp vào ô trống ta Lấy số ở ô đầu trừ đi các số ở
phải làm như thế nào?
hàng trên.
-Yêu cầu 1 HS làm bài trên bảng phụ.
HS làm bài
Dưới lớp làm bằng chì vào SGK.
- Gọi HS chữa bài trên bảng.
GV nhận xét HS làm bài.
*Trò chơi: Truyền điện ( Đã nêu trong phần số
học)
- GV nêu tên trò chơi
HS theo dõi
- GV hướng dẫn cách chơi
- Tổ chức cho HS chơi.
HS chơi.
- GV tổng kết trò chơi: Phân thắng – thua.
4.Củng cố – Dặn dò:
Gọi HS nêu lại cách đặt tính và cách tính phép HS nêu
trừ dạng 17 – 3.
Nhận xét tiết học.
* Tiến hành dạy thực nghiệm
1.Đối tượng thực nghiệm: 32 học sinh lớp 1B
…….
Bài 2:Tính.
12 + 3 =
17 – 5 =
18 – 2 =
16 – 0 =
19 – 8 =
15 + 3 =
Bài 3: Viết phép tính thích hợp vào ô trống.
Có
: 15 cái kẹo.
Đã ăn : 4 cái kẹo.
Còn : …cái kẹo?
* Kết quả thực nghiệm:
Sau khi lựa chọn để vận dụng một số trò chơi toán học đã nêu trên vào các tiết
học. Cụ thể là trò chơi: “Truyền điện” minh họa bài: Phép trừ dạng 17 - 3 thì kết quả
thật đáng mừng:
- Không những học sinh nắm được kiến thức bài học mà còn nhớ rất lâu những
kiến thức của bài học đó.
- Các em được rèn khả năng nhanh nhẹn, khéo léo và tạo cho các em mạnh dạn,
tự tin hơn.
- Chấm phiếu học tập của phần bài học này: 100% số học sinh đạt điểm trung
bình trở lên.
- Điều đáng mừng là các em rất hào hứng, chờ đợi tiết học toán tạo cho các em
lòng yêu thích, ham học với môn toán.
Kết quả:
Lớp
Sĩ số
nên quá lạm dụng phương pháp này. Ở mỗi giờ học ta chỉ nên tổ chức cho các em chơi
- 23 -
1 trò chơi trong khoảng từ 3 đến 5 phút. Do vậy người giáo viên cần có kỹ năng tổ
chức, hướng dẫn các em thực hiện các trò chơi thật hợp lý và đồng bộ, phát huy được
tối đa vai trò của học sinh.
Cần nắm vững nội dung, yêu cầu của bài dạy để chuẩn bị trò chơi cho hợp lý.
Ngôn ngữ truyền đạt cho học sinh cần ngắn gọn, dễ hiểu và chính xác.
Việc tổ chức trò chơi trong một tiết dạy cần được cân nhắc, tính toán cụ thể(tổ
chức lúc nào, như thế nào cho hợp lý?)
Khi tổ chức trò chơi học tập nói chung và môn Toán lớp 1 nói riêng, chúng ta
phải dựa vào nội dung bài học, vào điều kiện cơ sở vật chất của trường, thời gian trong
từng tiết học mà lựa chọn hoặc thiết kế các trò chơi cho phù hợp. Song để tổ chức
được trò chơi toán học có hiệu quả đòi hỏi mỗi người thầy phải có kế hoạch, chuẩn bị
thật chu đáo cho mỗi trò chơi.
3.2.Kiến nghị:
Thấy được tầm quan trọng của việc tổ chức trò chơi toán học như vậy, song trên
thực tế để tổ chức một trò chơi toán học sao cho đạt kết quả cao thì thật là không dễ.
Vì thế, tôi xin có một số ý kiến sau:
- Cần tổ chức cho giáo viên nắm bắt, thấy rõ tầm quan trọng của việc tổ chức trò
chơi trong giờ học toán.
-Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho việc dạy học nói chung và tổ chức trò chơi
toán học nói riêng.
- Giáo viên cần phải sưu tầm, sáng tạo, chuẩn bị chu đáo cho mỗi trò chơi trước
khi tổ chức.
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi qua thực tế giảng dạy. Mặc dù có cố
gắng rất nhiều nhưng đề tài của tôi chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong được hội đồng xét duyệt và các bạn đồng nghiệp góp ý kiến bổ sung thêm.
Tôi xin chân thành cảm ơn !